Quốc - Cộng nội chiến (1927 - 1950) | Nội chiến Trung Quốc | Tóm tắt lịch sử Trung Quốc

Đình Sự
537 người theo dõi
Nội chiến Trung Quốc hay Quốc Cộng nội chiến là cuộc chiến kéo dài từ năm 1927 đến 1950 tại Trung Quốc đại lục giữa 2 đảng phái là Quốc dân đảng và đảng Cộng Sản. Kết quả, đảng Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đã giành chiến thắng và kiểm soát Trung Hoa Đại Lục, vòn Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch thất bại và phải rút ra Đài Loan. #toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun
Trung Hoa kể từ sau khi Thanh Triều sụp đổ đã rơi vào vòng xoáy chiến tranh và tranh giành quyền lực giữa các lãnh chúa quân phiệt địa phương để đánh bại các quân phiệt này,
lãnh đạo của quốc dân đảng là Tôn Trung Sơn đã tìm kiếm trợ giúp từ các nước phương Tây nhưng thất bại và tới năm 1921, ông quay sang Liên Xô.
Liên Xô vì lý do chính trị đã theo đuổi chính sách hỗ trợ cả quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, lãnh đảng Cộng sản Trung Quốc mới được thành lập.
Với chính sách thân Nga, Liên Cộng, Tôn Trung Sơn đã tiến hành cải tổ quốc dân đảng theo mô hình Đảng Cộng sản Liên Xô,
đồng thời ông Phái một người phụ tá thân cận của mình là tường giới thạch đến Mát-x-cơ-va để học tập chính trị và quân sự.
Liên Xô đồng ý từ bỏ các tô giới của mình ở Trung Quốc, xóa bỏ những điều ước bất bình đẳng giữa Nga Hoàng và Triều Đình Mãn Thanh trước đây, hỗ trợ quốc dân đảng về mọi mặt.
Đổi lại, Tôn Trung Sơn liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc, đưa nhiều thành viên của Đảng Cộng sản vào nắm giữ các vị trí trong chính quyền.
Như vậy, một thời kỳ vừa hợp tác, vừa đấu tranh giành quyền lực giữa quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu.
Tháng 3 năm 1925, Tôn Trung Sơn qua đời tại Bắc Kinh vì bệnh ung thư, được người dân Trung Quốc suy tôn làm quốc phụ.
Tường giới thạch nổi lên như là người kế tục của Tôn Trung Sơn trong mây trò lãnh đạo quốc dân đảng.
Không lâu sau, Tường phát động kế hoạch đông trinh tiêu diệt Việt Hệ, trực tiếp quản lý tỉnh Quảng Đông.
Mùa hè năm sau, Tường giới thạch tuyên bố bắt phạt đánh dẹp các quân phiệt Bắc Dương, được Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhiều quân phiệt khác ủng hộ.
Với sự trợ giúp của Liên Xô, phe quốc dân đảng đã nhanh chóng đánh chiếm được một nửa Trung Hoa, trở thành thế lực hùng mạnh nhất.
Tuy nhiên, vào lúc này, những mâu thuẫn giữa quốc dân đảng và Đảng Cộng sản ngày càng trở nên sâu sắc, khiến Tường giới thạch quyết định tiến hành cuộc chính biến Thượng Hải.
Ông ta trục xuất các cố vấn Liên Xô, tàn sát và thanh trừng hàng loạt những người Cộng sản, mở đầu cho các hoạt động chống Cộng công khai tại nhiều địa phương khác.
Điều đó đã chấm dứt 10 năm hợp tác quốc Cộng và là tiền đề cho cuộc nội chiến Trung Quốc sau này.
Sau cuộc bắt phạt thành công, chính quyền quốc dân đảng ở Nam kinh kiểm soát phần lớn miền đông Trung Quốc và nhận được sự công nhận từ cộng đồng quốc tế.
Tuy nhiên, các thế lực quân phiệt còn lại vẫn chưa giải tán. Họ chỉ thay cờ và tuân lệnh quốc dân đảng trên danh nghĩa, còn quân đội và quyền lực thực tế tại lãnh địa thì vẫn nắm giữ.
Những hoạt động chống Cộng ngày càng gia tăng của Tường giới thạch khiến những người Cộng sản Trung Quốc phải rút lui về vùng nông thôn hoạt động bí mật.
Cuộc nổi dậy của đảng Cộng sản bắt đầu bằng khởi nghĩa tại Nam xưa ngày 1 tháng 8 năm 1927 và một số thành phố khác vùng Hoa Nam.
Họ hợp sức với dư đảng của các lực lượng khởi nghĩa nông dân, thiết lập quyền kiểm soát tại nhiều nơi ở miền Nam Trung Quốc.
Lực lượng quốc dân đảng đã tiến hành đàn áp cuộc nổi dậy, bắt đầu cuộc nội chiến kéo dài 10 năm tại Trung Quốc, được gọi là cuộc Cộng nội chiến lần thứ nhất.
Trong khi đó, ở phía đông, người Nhật đã quan sát Trung Quốc trong suốt cả cuộc chiến và cho rằng đây là thời điểm thích hợp để tiến hành một cuộc xâm lược mà họ đã lên kế hoạch từ lâu.
Tháng 9 năm 1931, Nhật Bản phát động một cuộc xâm lược tổng lực vào vùng đông bắc Trung Quốc, đánh bại quốc dân quân và lập nên hai chính phủ mùi nhìn là Mãn Châu Quốc và Mông Cổ Quốc.
Trong khi người Nhật giáo diết mở cuộc xâm lược vào vùng đông bắc Trung Hoa, điều đáng ngạc nhiên là chính quyền quốc dân đảng ở Nam Kinh không hề có động thái nào nhằm lấy lại vùng này mà quyết định tập trung toàn lực truy sát đảng Cộng sản.
Chủ trương của tường giới thạch là diệt Cộng trước, chống Nhật sau.
Tổng cộng, quốc dân đảng đã tiến hành 5 chiến dịch vầy hãm và truy quét quy mô lớn, khiến lực lượng đảng Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo phải tiến hành cuộc vạn lý trường trinh năm 1934, rút khỏi căn cứ địa miền Nam, tiến lên phía Bắc.
Trong tổng số khoảng 100.000 người Cộng sản tham gia cuộc rút lui này, chỉ có chưa đến 10.000 người tới được đích đến là Thiểm Tây.
Tháng 12 năm 1936, tường giới thạch tới Tây An Đốc Chiến, ra lệnh cho tướng Trương Học Lương tấn công vào đại bản doanh của đảng Cộng sản.
Nhưng trường đã cố tỉnh chỉ hoãn do không ủng hộ chính sách chống Cộng niên cuồng của tưởng.
Đêm ngày 12 tháng 12 năm 1936, Trương Học Lương bất ngờ đem quân đến bao vây dinh thự và bắt giữ tưởng giới thạch khi ông ta còn đang ngủ.
Trương ép tưởng phải ngừng cuộc nội chiến để cùng nhau kháng nhật.
Nhận được tin tức, đảng Cộng sản Trung Quốc cử Chu Ân Lai đến Tây An để hòa giải, thuyết phục trương phóng thích tưởng.
Ngày 25 tháng 12, tưởng giới thạch được trả tự do và trở về Nam Kinh.
Tưởng lấy lại được quyền lực, liên ra lệnh cho tòa án quân sự bắt giam và xử trương Học Lương 10 năm tù.
Một tướng khác cùng tham gia cuộc bắt cóc tưởng là Trương Hổ Thành cũng bị ông ta trả thù, ra lệnh giết cả nhà.
Tháng 7 năm 1937, người Nhật tiếp tục gây ra sự biến lư Câu Kiều để lấy cớ mở một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện vào Trung Quốc,
nhanh chóng đánh chiếm Bắc Kinh và thành phố Cảng Thiên Tân.
Trước tình hình nguy cấp và áp lực từ dư luận, quốc dân đảng miễn cưỡng liên minh với đảng Cộng sản, thành lập mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật.
Giai đoạn một của cuộc nội chiến quốc cộng chấm dứt.
Tuy nhiên, việc quốc cộng liên minh chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Trong chiến tranh Trung-Nhật, sự hợp tác giữa hai bên chỉ dừng lại ở mức tối thiểu.
Cả quốc dân đảng lẫn đảng Cộng sản đều tìm cách chiếm ưu thế ở những lãnh thổ không nằm trong tay quân Nhật.
Thậm chí nhiều lần xảy ra xung đột lớn vào các năm 1940 và 1941.
Vào giai đoạn này, trong khi quốc dân đảng phải chịu nhiều tổn thất nặng nề khi phải giao tranh lớn với quân Nhật,
đồng thời là mất lòng dân vì chính sách tiêu thổ kháng chiến đã gây ra lũ lụt và cháy lớn trên diện rộng,
thì đảng Cộng sản nhờ chiến thuật du kích hợp lý đã bảo toàn và mở rộng được lực lượng, nâng cao uy tín trong nhân dân.
Tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật là Hiroshima và Nagasaki,
làm khoảng 100.000 người chết.
Cùng lúc, Hồng quân Liên Xô cũng mở cuộc tấn công vào đạo quân Quang Đông gồm 700.000 quân Nhật đang đóng ở Mãn Châu,
đánh tan đạo quân này chỉ trong vòng một tuần.
Ngày 15 tháng 8, Nhật Bản chất nhận đầu hàng không điều kiện.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và chiến tranh Trung-Nhật cũng chấm dứt.
Dù Trung Quốc không trực tiếp đánh bại quân Nhật, nhưng lại là nước thắng trận và trở thành một trong năm thành viên của Hội đồng bảo An Liên Hợp Quốc.
Toàn bộ lãnh thổ mà Nhật chiếm đóng đều được trao trả lại.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc vẫn ở trong tình trạng chia rẽ giữa hai phe.
Một phe là quốc dân đảng và các quân việt địa phương do tưởng giới thách lãnh đạo.
Phe còn lại là đảng Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo.
Những mầu thuẫn giữa hai bên tạm thời dịu đi trong cuộc kháng chiến chống Nhật nay lại càng trở nên sâu sắc.
Quốc dân, đảng đại diện cho chính phủ Trung Hoa, dân quốc được khối đồng minh trao cho nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.
Tuy nhiên, tại các khu vực do đảng Cộng sản kiểm soát,
chính quyền Cộng sản địa phương tổ chức tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật mà không tuân theo quy định của đồng minh,
dẫn tới sự xung đột giữa hai bên quốc cộng tại khu vực phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc.
Cả Liên Xô và Mỹ đều không muốn xảy ra một cuộc nội chiến mà có thể kéo mình vào,
nên đã gây sức ép buộc Mao và tưởng gặp nhau ở Trung Khánh.
Tổng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ là George Marshall được cử tới Trung Quốc tháng 12 năm 1945
để dàn xếp ngừng bắn giữa hai bên, tiến đến thành lập chính phủ Liên Hiệp.
Đầu tháng 1 năm 1946, dưới sự trung gian của Marshall,
quốc cộng đạt được lệnh đình chiến tháng 1 để chuẩn bị cho hội nghị chính trị hiệp thương.
Vào lúc đó, Mãn Châu đang là nơi đóng quân của Liên Xô,
yêu cầu cả hai phe quốc cộng không được tiến vào cho đến khi Hồng quân Liên Xô chính thức rút đi.
Mãn Châu là một khu vực rộng lớn, giàu tài nguyên,
với dân số hơn 40 triệu người, tập trung nhiều cơ sở công nghiệp nặng do Nhật Bản để lại.
Cả quốc dân đảng và đảng Cộng sản đều muốn tiếp quản khu vực này.
Tháng 3 năm 1946, Liên Xô cho chính phủ Trung Hoa dân quốc biết họ sắp rút quân khỏi vùng Đông Bắc.
Tuy nhiên trước đó, Liên Xô đã ngầm thông báo cho Hồng quân Trung Quốc tiến vào tiếp quản vùng này,
đồng thời trao toàn bộ vũ khí thu được từ quân Nhật cho đảng Cộng sản.
Sau khi quân đội Liên Xô rút được vài tiếng, đảng Cộng sản liền cho quân tiếp quản được nhiều thành phố.
Chính phủ Trung Hoa dân quốc cho rằng đảng Cộng sản đã vi phạm lệnh đình chiến tháng 1,
toàn bộ khu vực Đông Bắc lập tức xảy ra xung đột với quy mô lớn.
Tướng Lâm Mưu của đảng Cộng sản đưa 300.000 quân tập trung tại Tứ Bình
và các khu vực phụ cận để ngăn chặn bước tiến của quốc dân quân.
120.000 quân quốc dân đảng do tướng Đỗ Duật Minh thống lĩnh tiến vào Mãn Châu
đánh tan tác quân của Lâm Mưu rồi thừa thắng truy kích đến tận biên giới Liên Xô.
Tuy nhiên vào lúc đó, Ma Sồ nỗ lực thương thuyết với Tưởng Giới Thạch đạt thỏa thuận đình chiến tháng 6,
đồng ý Đông Bắc ngưng chiến trong 15 ngày, sau đó mở rộng thêm 8 ngày.
Mặc dù vậy, Tưởng Giới Thạch tin rằng việc đánh bại đảng Cộng sản chỉ là vấn đề sớm muộn,
nên bỏ ngoài tai mọi đề nghị thương lượng của Mỹ.
Tương quan lực lượng hai bên, về phía đảng Cộng sản, lực lượng chủ lực chỉ có 900.000 quân,
vũ khí và trang bị cũng yếu thế hơn nhiều.
Tuy nhiên, con bài chủ chốt của họ là chính sách cải cách dụng đất,
lấy dụng từ tay giới địa chủ chia cho dân nghèo.
Từ đó dành được sự ủng hộ lớn từ giới nông dân và nguồn nhân lực hùng hậu
để sử dụng trong chiến đấu cũng như vận tải tiếp tế.
Mặc dù nắm được kho vũ khí khổng lồ của đạo quân quan Đông Nhật Bản để lại ở Mãn Châu,
nhưng phần lớn các binh sĩ xuất thân từ nông dân hầu như không biết sử dụng chúng.
Chỉ đến khi một số lớn binh lính quốc dân đảng đầu hàng và chạy sang hàng ngũ Cộng sản,
thì Hồng quân Trung Quốc mới có thể vận hành được số vũ khí này.
Trong khi đó, tường giới thạch có trong tay hơn 5,7 triệu quân, đồng gấp 6 lần đối phương.
Thêm vào đó là nhiều trang bị hiện đại do người Mỹ viện trợ.
Các nhóm tư bản trong chính quyền quốc dân đảng nắm hầu hết các ngân hàng, nhà máy, cơ sở thương mại.
Họ cũng tăng cường binh lực, tích chữ vật liệu chiến tranh.
Những hành động chuẩn bị vội vã và khắc nghiệt đó khiến cho đời sống dân chúng trở nên khó khăn,
tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, nạn lạm phát khiến giá lương thực thực phẩm tăng vọt.
Các quan chức quốc dân đảng thường tham nhũng và không quan tâm đến đời sống nhân dân địa phương.
Sự khó khăn và bất bình đẳng với kinh tế khiến chính phủ quốc dân đánh mất sự ủng hộ của dân chúng.
Bình sĩ bị các sĩ quan cấp trên đối xử tàn tệ nên bỏ trốn rất nhiều, tinh thần chiến đấu cũng xuống thấp.
Ngay sau khi hiệp ước đình chiến hết hiệu lực, quốc dân quân bào vây toàn diện khu vực trung nguyên của Đảng Cộng sản,
nội chiến quốc cộng bùng nổ quy mô lớn.
Ngày 20 tháng 7 năm 1946, tường giới thạch huy động 113 lữ đoàn với khoảng 1,6 triệu quân đánh vào các căn cứ của Đảng Cộng sản.
Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 6 năm 1947, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện chiến lược phòng ngự thụ động,
thu góp vũ trang để lại từ quân Nhật, dựa vào những thành viên đầu hàng được huấn luyện tốt của quốc dân đảng để điều khiển,
sau đó chuyển sang phản công, đánh chiếm các vùng do quốc dân đảng kiểm soát.
Do biết điểm yếu về số lượng cũng như trang bị của mình, họ tránh ngũi nhọn quân quốc dân đảng, tiến hành tiêu thổ để bảo toàn lực lượng,
đồng thời tích cực đánh tiêu hào quốc dân quân. Chiến thuật này tỏ ra hữu hiệu.
Sau một năm, cán cân lực lượng trở nên thuận lợi hơn cho Hồng quân Trung Quốc.
Tổng cộng họ tiêu diệt được hơn 1,1 triệu quân quốc dân đảng và phát triển lực lượng của mình lên đến 2 triệu người.
Tháng 3 năm 1947, quốc dân đảng giành được một chiến thắng có ý nghĩa tượng trưng khi họ đánh chiếm được thủ đô Diên An của Đảng Cộng sản.
Nhưng chẳng bao lâu sau đó, Hồng quân Trung Quốc phản công trên tất cả các mặt trận.
Sự bạc nhược của quân đội tưởng dưới thạch đã lộ ra nhanh chóng, lực lượng của ông ta phải liên tục rút lui,
nhiều người lính quốc dân đảng lợi dụng sự hỗn loạn đã đảo ngũ, vứt lại vũ khí cho đối phương.
Từ cuối năm 1948 đến đầu năm 1949, Hồng quân Trung Quốc tiến hành 3 chiến dịch quy mô lớn là Liêu Thẩm, Hoài Hải và Bình Tân,
thành công đưa toàn bộ miền Bắc Trung Hoa vào sự kiểm soát của mình.
Tháng 1 năm 1949, Hồng quân đã chiếm được Bắc Kinh, kinh đô biểu tượng của Trung Hoa và tổ chức duyệt binh ở đó.
Đến thời điểm này, quân Đảng Cộng sản đã tiêu diệt 173 sư đoàn của quốc dân quân, gồm 1,54 triệu quân thiện chiến.
Sương sống của quân đội quốc dân đảng bị bẻ gãy, khiến họ không vượt dậy được. Cục diện cuộc nội chiến đã được quyết định.
Ngày 21 tháng 4, lực lượng Hồng quân Trung Quốc vượt sông Trường Giang.
Ngày 23 tháng 4, họ chiếm được Nam Kinh, thủ đô của quốc dân đảng.
Lá cờ đỏ được cắm trên phủ Tổng thống tuyên cáo sự thống trị của quốc dân đảng trong 22 năm đã kết thúc.
Trên thực tế, các vùng nông thôn xung quanh thành thị đã nằm dưới tầm ảnh hưởng của Đảng Cộng sản từ rất lâu trước đó,
tạo điều kiện cho họ tiến công một cách dễ dàng.
Ngày 1 tháng 10 năm 1949 là ngày mở ra một thời đại mới ở Trung Quốc.
Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Quân Giải phóng Phát huy thắng lợi tiếp tục truy quét tàn quân quốc dân đảng còn tàn mát,
thống nhất tất cả những vùng lãnh thổ còn lại, đồng thời tiêu diệt các lực lượng thổ phỉ và đối lập khác.
Tới cuối năm 1949, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã truy quét gần hết tàn quân quốc dân đảng ở miền Nam Trung Hoa,
chỉ còn Tây Tạng là chưa bị động đến.
Chính quyền quốc dân đảng đã rút khỏi Nam Kinh từ ngày 23 tháng 4 năm 1949,
đến Quảng Châu, rồi Trung Khánh, Thành Đô trước khi rút về Đài Loan ngày 10 tháng 12.
Tưởng giới thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe quốc dân đảng chạy khỏi Đại Lục,
tới đảo Đài Loan, tuyên bố Đài Bắc là thủ đô tạm thời,
và vẫn coi chính quyền của mình là chính phủ hợp pháp duy nhất tại Trung Quốc.
Quân đảng Cộng sản định tiếp tục đưa quân chiếm nốt Đài Loan,
nhưng trong trận chiến diễn ra trên đảo Kim Môn, thắng lợi đã thuộc về quốc dân đảng.
Đa tiến công của Hồng quân bị chặn đứng.
Sang năm 1950, Hoa Kỳ đưa hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan để ngăn chặn việc hai bên tấn công lẫn nhau.
Cuộc nội chiến quốc cộng coi như chấm dứt.
Tuy nhiên, không có một hiệp định hòa bình hay đình chiến nào được ký kết cho đến tận ngày nay.
Đến năm 1951, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa quân vào Tây Tạng,
hoàn tất đưa toàn bộ Đại Lục vào tay đảng Cộng sản.
Sau khi tưởng giới thách mất quyền kiểm soát trên Đại Lục, ông ta tiếp tục được bầu làm Tổng thống ở Đài Loan.
Nhưng đến khi tưởng mất, chính phủ đã cho cải cách, bầu cử tự do, đa đảng,
chấm dứt chế độ độc tài và sự thống trị của quốc dân đảng.
Để tự bảo vệ mình khỏi sự đe dọa ngày càng lớn của Bắc Kinh, Đài Loan đã trở thành một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ.
Cho đến đầu những năm 1970, Trung Hoa, dân quốc vẫn là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc được quốc tế công nhận.
Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ và hầu hết các quốc gia phương Tây từ chối công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vì chiến tranh lạnh.
Điều này đã thay đổi vào năm 1971, khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gia nhập Liên Hợp Quốc
và thay thế Trung Hoa dân quốc ở vị trí thành viên thường trực của hội đồng bảo an.
Ngày nay, do tính chất phức tạp về tình trạng chính trị của Trung Hoa dân quốc,
nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã sử dụng cụm từ Đài Bắc Trung Hoa, Đài Loan hoặc Đài Loan Trung Quốc để gọi vùng lãnh thổ này.
Về phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, dưới thời lãnh đạo của Mao Trạch Đông đã đem quân tham chiến tại Triều Tiên,
đánh nhau ngang ngửa với quân đội Hoa Kỳ trong suốt 3 năm và thành công bảo vệ được chính quyền Cộng sản Bắc Triều Tiên.
Sau đó, Mao còn tiến hành hàng loạt các chiến dịch và kế hoạch 5 năm nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội Trung Quốc.
Trong kế hoạch đại nhảy vọt từ năm 1958 đến năm 1962,
chính phủ của Mao Trạch Đông đã hành quyết hàng loạt địa chủ, thực hiện canh tác tập thể và lập ra hệ thống chạy cải tạo lao động.
Sự thất bại của kế hoạch này làm đình trị sản xuất, kết hợp với thiên tai như lũ lụt, hạn hán,
đã gây ra nạn đói và khiến cho khoảng 43 triệu người chết.
Những thất bại của cuộc đại nhảy vọt được Đảng Cộng sản Trung Quốc đem ra bàn luận kỹ lưỡng.
Kết quả là Mao Trạch Đông đã bị chỉ trích trước đại hội và ảnh hưởng uy tín nặng nề.
Để tái củng cố quyền lực trong đảng, năm 1966, Mao và các đồng minh của ông đã phát động cách mạng văn hóa.
Tổng cộng khoảng 1,5-1,8 triệu người Trung Quốc bị giết, tự sát hay chịu thương tật trong giai đoạn này.
Năm 1972, ở đỉnh điểm của Chia rẽ Trung Sô, Mao Trạch Đông đã gặp Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tại Bắc Kinh để thiết lập quan hệ ngoại giao.
Trong cùng năm, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được kết nạp vào Liên Hợp Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc,
với tư cách là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.
Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế,
được gọi là chủ nghĩa xã hội màng màu sắc Trung Quốc và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Kể từ đây, nền kinh tế Trung Quốc có nhiều bước phát triển vượt bậc vươn lên đứng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ.
Ngày nay, Trung Quốc là quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân,
có quân đội thường trực với số lượng lớn nhất thế giới cùng ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì.
Ngoài việc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc,
Trung Quốc cũng là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế lớn như WTO, APEC, BRICS, G20,
đồng thời là một siêu cường tiềm năng cạnh tranh với Hoa Kỳ về mọi mặt.
Mặc dù vậy, Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức như ô nhiễm môi trường,
tranh lệch giàu nghèo, tranh lệch giới tính, thất nghiệp, tham nhũng, tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.
