Hán Cao Tổ - Lưu Bang | Tóm tắt lịch sử Trung Quốc

Đình Sự
537 người theo dõi
Hán Cao Tổ tên thật là Lưu Bang, là vị hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Ông sinh năm 256 trước Công Nguyên, trong một gia đình nông dân ở huyện Bái, nay thuộc tỉnh Giang Tô.
Lưu Bang từng phải đi phu ở Hàm Dương, trông thấy xa giá và nghi trượng của Tân Thủy Hoàng.
Bây giờ, ông đã cảm khai nói một câu,
Đại trượng Phu phải sống như thế chứ?
Sau đó, Lưu Bang làm đỉnh trưởng ở Tứ Thượng, dần dần quen biết và thân thiết với những người như Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà, Tào Tham.
Trong thời gian này, ông kết hôn với Lã Chỉ, sinh được một con gái và một con trai tên là Lưu Doanh.
Một lần, Lưu Bang được huyện lệnh của huyện Bái Giao trọng trách đưa một số người bị kết án và dân Phu đi tới núi Ly Sơn để xây dựng lăng mộ của Tân Thủy Hoàng.
Nhưng chưa đi được nửa đường thì bọn dân Phu đã bỏ trốn quá nữa.
Thấy nếu cứ tiếp tục như vậy thì đến Ly Sơn không còn đủ người để giao nộp nữa, bản thân cũng sẽ phải chịu tội.
Lưu Bang bèn thả hết những người còn lại, còn mình cũng bỏ trốn cùng với hơn 10 tráng sĩ nguyện đi theo giúp sức.
Lưu Bang và những người theo ông lẩn trốn trên núi Mang Đãng, gần đất Bái và sống ngoài vòng pháp luật.
Tuy vậy, ông vẫn duy trì việc bí mật liên lạc với bạn bè cũ của mình ở quê nhà như Tiêu Hà và Tào Tham.
Năm 209 trước Công Nguyên, Trần Thắng và Ngo Quảng Khởi Nghĩa Chống Tần, nông dân và quý tộc các nơi đều nổi dậy hưởng ứng.
Tiêu Hà bèn tập hợp dân chúng trong huyện Bái, giết chết huyện lệnh rồi phái người mới Lưu Bang về làm chủ, tôn làm bái công.
Lưu Bang khởi binh ở huyện Bái, chiêu tập được mấy nghìn người rồi dẫn quân đi đánh chiếm các huyện thành khác.
Bây giờ, ở quận Cối Kê có cánh nghĩa quân của hai chú cháu Hạng Lương và Hạng Vũ.
Họ vốn là con cháu của Hạng Yên, đại tướng nước sở trước kia.
Sau khi chiếm được Cối Kê, Hạng Lương và Hạng Vũ dẫn quân vượt sông Trường Giang và sông Hoài Hà Tiến lên phía bắc, liên tiếp đánh chiếm được nhiều thành trì.
Trên đường tiến quân, có rất nhiều cánh quân xin sát nhập, tình nguyện đứng dưới sự chỉ huy của Hạng Lương.
Lúc đó, Lưu Bang dẫn quân đến Lưu Thành, gặp Trương Lương đang dẫn hơn 100 người đi tìm quân Khởi Nghĩa.
Hai người bàn bạc, thấy trong số nghĩa quân trong vùng chỉ có Hạng Lương là thanh thế lớn nhất, bèn quyết định đi theo Hạng Lương.
Sau khi lãnh tụ chủ yếu của cuộc Khởi Nghĩa là Trần Thắng và Ngô Quảng mất đi, quyền lãnh đạo các nơi rơi vào tay quý tộc cũ của sáu nước.
Họ tranh giành đất đai của nhau, gây nên tình trạng chia năm xẻ bảy.
Đại tướng trưng hàm của tần định nhân cơ hội đó để tiêu diệt từng lực lượng một.
Trước tình thế khẩn cấp, Hạng Lương mở một hội nghị ở Tiết Thành, quyết tâm chỉnh đốn lại lực lượng Khởi Nghĩa.
Để có danh nghĩa chính đáng, Hạng Lương nghe theo lời của mưu sĩ Phạm Tăng tìm người cháu của Sở Hoài Vương tên là Tâm, đang lưu lạc ở trong dân gian, lập làm Sở Vương.
Người nước sở vốn thân Sở Hoài Vương vì bị lừa nên phải chết ở tầng, nên đều đi theo.
Để tăng thêm sức hiệu triệu, người ta lại tôn xưng vị vua mới là Sở Hoài Vương.
Sau khi chỉnh đốn lại quân đội, Hạng Lương tiến đánh quân tầng, thắng liền mấy trận, đánh bại tướng trưng hàm.
Hạng Vũ và Lưu Bang dẫn cánh quân khác giết được tướng Lý Do.
Sau khi thắng trận, Hạng Lương tỏ ra kiêu ngạo, không coi quân tầng ra gì, nên có phần lơi lỏng.
Trưng hàm chỉnh đốn lại quân đội, nhận lúc Hạng Lương không phòng bị, tổ chức phản công mãnh liệt.
Hạng Lương thất bại, tử trận. Hạng Vũ và Lưu Bang phải lui về giữ bành thành.
Trưng hàm giết được Hạng Lương, cho rằng quân sở đã thiệt hại nặng, không còn sức chiến đấu.
Liền tạm thời bỏ mặt trận phía nam sông Hoàng Hà, đem quân lên phía bắc đánh nước Triệu mới được thành lập.
Quân tầng nhanh chóng chiếm được Đô Thành Hàm Đan, Triệu Vương Ít phải chạy đến Cự Lộc.
Trưng hàm cử tướng Vương Ly bao vây thành, còn tự mình đóng đại quân ở phía nam Cự Lộc.
Ông ta còn tu sửa một con đường tải lương để tiếp tế cho Vương Ly.
Triệu Vương hết đường chạy, nhiều lần cử người đến gặp Sở Hoài Vương xin cứu viện.
Lúc đó, Sở Hoài Vương đang muốn phái quân sang phía tây đánh Kinh Đô Hàm Dương của Tần.
Hạng Vũ nóng lòng báo thù cho chú, nên xin đem quân đánh vào cửa Hàm Cốc, đường dẫn tới Hàm Dương.
Một số lão thần nói riêng với Sở Hoài Vương rằng, Hạng Vũ tính tình sốc nổi, hàm giết người.
Lưu Bang là người trung hậu, nên cử Lưu Bang đi.
Vừa lúc xứ giả nước Triệu đến xin viện binh, Sở Vương bèn phái Lưu Bang đi đánh Hàm Dương.
Phái Tống Nghĩa làm thượng tướng quân, Hạng Vũ làm phó tướng, đem 20 vạn quân đi cứu nước Triệu,
giao hẹn rằng ai vào quan chung trước sẽ được phong làm vương.
Tống Nghĩa dẫn đại quân đến Hàm Dương, nghe thanh thế quân Tần rất lớn bèn ra lệnh dừng lại, trần trừ không tiến quân.
Hạng Vũ thấy vậy bèn giết Tống Nghĩa, rồi dẫn quân vượt sông Hoàng Hà tấn công quân của Vương Ly.
Sau 9 trận đánh kịch liệt, Vương Ly bị bắt sống.
Quân Tần phần bị chết, phần tan chạy, thành cự lộc được giải vây.
Lúc đó có mười mấy đạo quân đến cứu Triệu, nhưng họ sợ quân Tần lớn mạnh nên chỉ đóng chạy mà không dám giao chiến.
Tới khi Hạng Vũ đánh tan quân Tần, mời họ đến hội họp,
thì các tướng chỉ huy mấy đạo quân đó quỳ gối tiến vào, không dám ngẩn đầu lên.
Tất cả đều ca ngợi Hạng Vũ.
Thần huy của tướng quân thật là cổ kim, chưa từng có.
Chúng tôi xin nghe theo sự chỉ huy của tướng quân.
Từ đó về sau, trên thực tế Hạng Vũ là thủ lĩnh của tất cả các cánh quân đánh Tần.
Trương Hàm thua trận, tâu về Triều Đình xin thêm viện binh.
Tần Nhị Thế và Triệu Cao không những không cử quân tới cứu, lại còn kể tội Trương Hàm.
Trương Hàm sợ Triệu Cao kiếm cớ hại mình, bèn dẫn quân đầu hàng Hạng Vũ.
Tin Trương Hàm đầu hàng truyền tới Hàm Dương khiến vương Triều Tần càng trở nên rối loạn.
Năm 206 trước Công Nguyên, cánh quân của Lưu Bàng đánh phá hải Vũ Quan, cách Hàm Dương không xa.
Triệu Cao vốn giới Tần Nhị Thế về nguy cơ của các cuộc khởi nghĩa.
Nay biết không giấu được nữa, bèn phái tâm phúc bức tử Nhị Thế rồi lập cháu của Nhị Thế là Tử Anh lên làm Tần Vương.
Tử Anh biết Triệu Cao muốn lên làm vua, nhưng sợ các đại thần và chư hầu phản đối nên mới giả vờ lập mình.
Vì vậy đến ngày lên ngôi, Tử Anh cáo bệnh không ra.
Triệu Cao tự mình đến thúc giục, liền bị giết chết.
Tử Anh giết xong Triệu Cao, liền cử 5 vạn quân ra giữ nhiều quan.
Lưu Bàng dùng kế của Trương Lương, cử người cấm cờ la liệt ở hai bên trái phải cử quân làm nghi binh.
Mặt khác, phái đại tướng Chu Bột đem toàn bộ binh mã đánh vào góc đông nam cử ải, giết chết tướng giữ ải, tiêu diệt toàn bộ quân tân ở đó.
Quân Lưu Bàng tiến vào Bá Thượng, tần Vương Tử Anh cổ quẳng đai, tay bưng ngọc tỉ, binh phù và thiết trượng, khom lưng đứng bên đường sinh hàng.
Thuộc tướng của Lưu Bàng muốn giết Tử Anh, nhưng Lưu Bàng nói, sở hoài Vương cử ta vào Hàm Dương vì biết ta đối xử khoan hậu.
Hơn nữa người ta đã hàng rồi mà còn giết thì không hay.
Nói xong, ông ta nhận ngọc tỉ, rồi giao Tử Anh cho tướng sĩ coi giữ.
Như vậy, Vương Triều Tần lớn mạnh do Tần Thủy Hoàng xây dựng lên, chỉ duy trì được 15 năm đã bị làn sóng khởi nghĩa nông dân tiêu diệt.
Quân của Lưu Bàng vào Hàm Dương, tướng sĩ tranh nhau lùng sụp kho tàng của vua Tần để lấy vàng bạc, khiến cung đình hỗn loạn.
Chỉ có tiêu hạc không chú ý đến những cái đó mà chạy ngay đến thừa tưởng phủ, thu thập mọi hồ sơ về nhân khẩu, bản đồ trong cả nước.
Lưu Bàng tiến vào cung A Phòng Nguy Nga trắng lệ.
Ông ta hoa mắt trước sự sang trọng, xa hoa và biết bao cung Tần Mỹ nữ xinh đẹp, ngây người ra mãi, không muốn trở ra.
Lúc đó, bộ tướng phản khoái sông vò nói, bái công muốn chiếm thiên hạ hay chỉ muốn làm một phú ông?
Những thứ xa xỉ này đã làm cho trường Tần diệt vong, ngài dùng chúng làm gì? Mau trở về doanh trại thôi.
Lưu Bàng không nghe theo, vừa may có chân lương cũng tiến vào khuyên bảo.
Lưu Bàng mới tỉnh ngộ, dặn giò tướng sĩ Niêm Phong kho tàng rồi trở về bá thượng.
Sau đó, ông triệu tập các phụ lão vùng Hàm Dương, tuyên bố ba điều lệnh.
Ngoài ba điều đó ra, mọi pháp lệnh hạ khắc của nước Tần đều bãi bỏ hết.
Lịch sử gọi ba điều quy định trên lãng ước pháp tam trương.
Chăm họ nghe được quy định của Lưu Bàng thì vô cùng phấn khởi, tranh nhau mang dựa thịt đến khao quân.
Lưu Bàng khôn khéo từ chối, nói rằng kho tàng của nhà Tần đã có đủ lương thực, không dám phiền đến sự đóng góp của chăm họ nữa.
Từ đó về sau, Lưu Bàng đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng dân Hàm Dương.
Mọi người chỉ muốn Lưu Bàng ở lại đó làm chủ.
Quay trở lại cánh quân của hạng Vũ.
Sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của 20 vạn quân trương Hàm, Vũ sợ rằng không quản lý được,
nên trừ trương Hàm và hai hàng tướng ra, còn lại đem trôn sống 20 vạn quân chỉ trong một đêm.
Từ đó về sau, hạng Vũ nổi tiếng là người tàn bạo.
Năm 206 trước công nguyên, hạng Vũ thống lĩnh trư Hầu Tiến vào nước Tần.
Tới cửa Hàm Cốc thì bị quân của Lưu Bàng chặn lại.
Nghe tin Lưu Bàng đã chiếm được đất Quan Trung, hạng Vũ rất tức giận, sai anh bố phá cửa Hàm Cốc.
Sau đó hạng Vũ tiếp tục tiến lên, đến Hồng Môn thì đóng quân lại.
Lúc đó, một thủ hạ của Lưu Bàng là Tàu Vô Thương muốn đi theo hạng Vũ,
đèn phái người đến báo cáo với hạng Vũ rằng lần này bái công vào Hàm Dương là muốn làm vương ở đó.
Hạng Vũ vô cùng tức giận. Mưu sĩ Phạm Tăng lại nói,
Lưu Bàng vào Hàm Dương, không tham của cải và gái đẹp, chứng tỏ ông ta có mưu đồ lớn.
Bây giờ không tiêu diệt thì hậu họa sẽ khó lương.
Vì vậy, hạng Vũ hạ quyết tâm tiêu diệt binh lực của Lưu Bàng.
Quân của hạng Vũ có 40 vạn, đóng tại Hồng Môn.
Quân của Lưu Bàng có 10 vạn, đóng tại Bá Thượng.
Hai bên chỉ cách nhau 40 dặp, lực lượng lại rất trinh lệch nên Lưu Bàng rơi vào tình thế nguy hiểm.
Chú của hạng Vũ là hạng bá vốn là bạn cũ của Trương Lương, đã từng chịu ơn cứu mạng của Trương Lương.
Ông ta sợ nếu hai bên đánh nhau thì Trương Lương sẽ gặp nguy hiểm,
liền phóng ngựa suốt ngày đêm đến Bá Thượng, khuyên Trương Lương hãy trốn đi.
Trương Lương không chịu rời bỏ Lưu Bàng và nói cho Lưu Bàng biết tình hình đó.
Lưu Bàng liền cùng Trương Lương đến gặp hạng bá,
ra sức biện bạch là bản thân không hề có ý chống lại, xin hạng bá nói giúp với hạng Vũ.
Hạng bá nhận lời và dặn Lưu Bàng nên đích thần đem lễ vật tới trảo hạng Vũ.
Sáng hôm sau, Lưu Bàng dẫn Trương Lương và Phản Khoái đến Hồng Môn bái kiến hạng Vũ.
Hạng Vũ giữ Lưu Bàng ở lại quân doanh dự tiệc.
Trong tiệc rượu, Phạm Tăng nhiều lần ra hiệu cho hạng Vũ nên thừa cơ giết ngay Lưu Bàng,
nhưng Vũ do dự không nỡ hạ thủ.
Phạm Tăng bèn ra ngoài tìm người em họ của hạng Vũ là hạng Trang, nói
Hạng Trang liền vào yến tiệc, rồi mượn cớ mua kiếm giúp vui, tiến gần tới trước Lưu Bàng.
Hạng bá nhận ra dụ ý của hạng Trang, bèn rút kiếm ra múa cùng,
vừa múa vừa lấy thân mình che cho Lưu Bàng, khiến hạng Trang không thể tới gần được.
Về sau, Lưu Bàng mượn cớ ra ngoài đi tiểu để trốn về trước.
Trương Lương ở lại giúp ông từ biệt với hạng Vũ.
Cuộc Hồng Môn yến dày công sắp đặt đã kết thúc không kẻn không chống như vậy.
Hạng Vũ tiến quân vào Hàm Dương, giết tần vương tử Anh và hơn 800 quý tộc nhà Tân,
rồi hạ lệnh đốt cháy cung A Phòng.
Lúc đó, thủ lĩnh trên danh nghĩa là Sở Hoài Vương, hạng Vũ đổi gọi ông là Nghĩa Đế.
Bên ngoài tuy thừa nhận nhưng thực tế chỉ có hư danh, mọi việc phân phong đất đài đều do hạng Vũ quyết định.
Ông phong cho các quý tộc cũ của 6 nước và các tướng lĩnh có công, tất cả 18 người được làm vương.
Hạng Vũ tự xưng là Tây Sở Bá Vương, nghĩa là tự tuyên bố mình có quyền ra lệnh cho các trư hầu.
Sau khi phân phong đất đài, các trư hầu phải mang quân về đất phong của mình.
Hạng Vũ cũng kéo quân về Bành Thành.
Đến năm sau, hạng Vũ riêng luôn vua bù nhìn Nghĩa Đế.
Trong 18 trư hầu, hạng Vũ kỹ nhất là Lưu Bang,
nên ông ta phong cho Lưu Bang vùng đất xa xôi nhất là Ba Thục và Hán Trung, gọi là Hán Vương,
lại phong miền quan trung cho 3 hàng tướng tần là Trương Hàm,
Tư Mã Hân và Đồng Ế, yêu cầu họ chặn đường không cho Lưu Bang ra khỏi đất phong.
Lưu Bang rất không hài lòng về đất phong của mình,
nhưng vì binh lực nhỏ yếu không so được với hạng Vũ nên đành dẫn quân về Nam Trịnh.
Theo lời khuyên của Trương Hàm, sau khi ông đi qua đường Sạn Đạo,
con đường duy nhất vào Hán Trung liền đốt đi để đề phong quân trư hầu đánh Úc,
đồng thời để chứng tỏ cho hạng Vũ thấy rằng mình không có ý đi về hướng Đông.
Đến nơi, Lưu Bang phong Tiêu Hà làm thừa tướng,
chuẩn bị lực lượng để đoạt thiên hạ với hạng Vũ.
Nhưng bình lính dưới quyền ông chỉ muốn về quê hương,
ngày nào cũng có người bỏ trốn.
Một hôm, Tiêu Hà bỗng nhiên đi mất,
làm Hán Vương lo cuốn quyết như bị chặt mất một cánh tay.
Ba hôm sau Tiêu Hà mới trở về,
dẫn theo một người định bỏ trốn, đó là Hàn Tín.
Hàn Tín vốn là người hoài âm,
khi hạng Lương và hạng Vũ khởi binh đi qua đó,
ông liền đi theo, là một tên lính trong quân sở.
Mấy lần Hàn Tín hiến kế,
hạng Lương và hạng Vũ đều không dùng,
nên ông rất thất vọng.
Tới khi Lưu Bang vào Nam Trịnh,
Hàn Tín liền rời bỏ hạng Vũ để theo quân Hán.
Thừa tướng Tiêu Hà gặp Hàn Tín,
thấy ông là người có tài,
nhiều lần tiến cử với Lưu Bang,
nhưng Lưu Bang chỉ cho Hàn Tín là một chức quan nhỏ.
Thấy mình không được trọng dụng,
ông nhân lúc nhiều người bỏ trốn cũng tìm cơ hội trốn đi.
Tiêu Hà biết tin Hàn Tín bỏ trốn liền vội vã tự mình
cưỡi ngựa đuổi theo, giữ Hàn Tín lại.
Khi gặp Hán Vương, Tiêu Hà nói
Đại Vương nếu muốn ở Hán Trung suốt đời
thì không cần dùng đến Hàn Tín,
còn nếu muốn đoạt thiên hạ
thì nhất định phải trọng dụng ông ta.
Nếu không trọng dụng thì sớm một ông ta cũng bỏ đi.
Lưu Bang bèn nghe theo,
phong cho Hàn Tín làm đại tướng quân,
thống lĩnh toàn bộ quân Hán.
Từ đó về sau, Hàn Tín chỉ huy tướng sĩ,
huấn luyện binh mã,
chuẩn bị đủ điều kiện để đông trinh đánh Hạng Vũ.
Tháng 8 năm 206 trước công nguyên,
Lưu Bang và Hàn Tín mang quân đi đánh vùng Quan Trung.
Hàn Tín giả cách sai người đi sửa đường sạn đạo
vốn mất rất nhiều công sức thời gian
khiến Tam Tần yên chí rằng quân Hán còn lâu mới ra được cư ải.
Nhưng thực ra, Hàn Tín dẫn đại quân đi
theo đường Trần Thương đánh út nước Ung.
Trường Hàm trở tay không kịp,
phải rút về cố thủ ở phế khâu.
Các đất địch tắc cũng bị đánh bất ngờ
từ Mã Hân và Đồng Nghế đầu hàng.
Quân Hán đã hoàn toàn chiếm lĩnh vùng Quan Trung.
Từ câu chuyện này,
đời sau có câu thành ngữ
Minh tu sạn đạo ám độ Trần Thương
để nói đến kế dương đồng kích Tây của Hàn Tín.
Tây Sở Bá vương Hạng Vũ biết tin rất tức giận
toan đưa quân đến phía Tây đánh Lưu Bang
nhưng ở phía Đông lại xảy ra sự biến.
Điển Vinh nước tề nổi lên đánh Đuổi Tề vương
do Hạng Vũ phòng, tự lập làm vương.
Tình hình có phần nghiêm trọng hơn phía Tây.
Trong khi đó,
Lưu Bang lại xài Trưng Lương đưa thư cho Hạng Vũ
nói rằng do không được phân phong như giáo ước
nên mới đánh Quan Trung.
Này đã được như lời giáo ước rồi,
sẽ không đem quân sang phía Đông nữa.
Hạng Vũ nghe theo lời đánh lạc hướng
của Trưng Lương mang đại quân đi đánh Tề trước.
Năm 200 lình năm trước công nguyên,
Hạng Vũ đem quân về hướng Bắc,
đến Thành Dương. Điển Vinh cũng đem
bình đến giao chiến nhưng đánh không lại quân Sở,
phải thua chạy đến Bình Nguyên,
bị dân ở đây giết. Hạng Vũ bèn
đem quân đi theo phía Bắc, san phẳng
và đốt thành quách nhà cửa của nước Tề,
trôn sống tất cả quân lính của Điển Vinh đầu hàng,
tan sát rất nhiều. Người Tề hợp lại
với nhau làm phản. Vì vậy,
em của Điển Vinh là Điển Hoành thu thập được
mấy vạn lính Tề đã tản mát, nổi dậy
ở Thành Dương, lập con Vinh là Điển Quảng
lên ngôi Tề Vương. Hạng Vũ vì vậy
phải dừng lại, đánh mấy trận nhưng không hạ được.
Trong khi đó,
Lưu Bang và Hàn Tín lợi dụng tình hình
Hạng Vũ đánh Tề còn chưa ngã ngũ, đưa
quân sang phía Đông, lần lượt đánh và
thu hàng một loạt các chư hầu mà không gặp phải
sự phản kháng lớn nào của phía Sở là
Hàn, Ân, Nguy, Hà Nam
và Triệu. Biết tin nghĩa
đế bị Hạng Vũ giết, Lưu Bang lại lấy
cớ để tăng nghĩa đế để đánh Sở.
Tập trung các chư hầu được 56 vạn quân
dầm rộ tiến vào kinh đô Tây Sở
là Bành Thành. Hàn Tín ở lại
giữ quan trung. Hạng Vũ nghe tin
quân Hán vào Bành Thành, bèn sai
các tướng đánh nước Tề, còn mình thì đem
3 vạn tinh binh về cứu. Quân Hán
ở Bành Thành không chú ý phong thủ, chỉ lo
vơ vét của Cải, Châu Báu và Gái Đẹp
ngày nào cũng đặt tiệc rượu, hội họp
linh đình. Quân Sở tiến đánh
Bành Thành, quân Hán đại bại, số lớn
chết đuối ở sông Tuy Thủy, số
khác bị bắt. Cha của Lưu Bang
là Thái Công và vợ là Lữ Hậu cũng bị
Hạng Vũ bắt sống. Hán Vương
Lúc đó, Tiêu Hà
điều một số quân từ quan trung tới. Hàn
Tín cũng dẫn quân tới hội họp, tình
thế của quân Hán mới bớt nguy hiểm.
Sau khi quân Sở Đại thắng
ở Bành Thành, các chư hầu còn sống đều
bỏ Hán theo Sở, thế bên Sở lại mạnh
lên. Hạng Vũ Nhân đã thắng lợi
mang quân đánh Lưu Bang. Hàn Tín
tâu với Hán Vương rằng, tôi ở Hàm Dương
đã chế ra được vài trăm cỗ xe để
đánh Sở. Loại xe này gọi là chiến sa
có tác dụng rất mạnh trong trận chiến trên
Bình Nguyên. Huỳnh Dương cách đây 30 dặm
có một khu đất bằng có thể áp dụng được.
Hán Vương nghe nói, liền
sai thợ ngày đêm theo mẫu của Hàn Tín
chế tạo, được hơn 3.000 chiếc.
Khi hai bên giao chiến,
Hàn Tín giả vừa thua chạy, đến
sông Kinh Sách thì qua cầu xong quay mặt lại
chờ Hạng Vũ. Hạng Vương thúc
quân đuổi theo. Quân Sở vừa qua
cầu thì Hàn Tín sai quân chặt cầu,
lại sai đem chiến sa ra làm tường lũy,
bắn tên như mưa vào quân Sở.
Quân Sở trước mặt thì không tiến lên được,
sau lưng lại là sông, không có lối thoát
nên đều bị giết cả.
Hạng Vũ dẫn theo quý bố phá vây
mà chạy. Sau trận đánh,
hai bên Hán Sở lại lâm vào thế giẳng co,
cầm cự nhau hơn 2 năm.
Liêu Bang dùng thiểu số binh lực
kiềm chế quân Hạng Vũ ở Huỳnh Dương để
Hàn Tín tiếp tục đánh lên phía Bắc.
Tháng 8 năm 200 năm trước
Công Nguyên, Liêu Bang phòng Hàn Tín
làm tả thừa tướng để đánh Nguy.
Nguy Vương báo đem nhiều binh đến bổ bản,
không giản nghi binh, bày thuyền bè như muốn
vượt qua sông Lâm Tấn, nhưng kỳ thực
dùng phục binh đi đường đất Hạ Dương,
lấy thùng gỗ để cho quân vượt qua sông,
đánh úp đất An ấp. Nguy báo biết tin,
đem quân về đánh trả nhưng đã muộn.
Hàn Tín bắt báo cầm tù,
bình định đất Nguy, làm thành quận Hà Đông.
Liêu Bang lại sai chưng nhĩ cùng
với Hàn Tín đem binh sang Đông đi về
hướng Bắc, đánh nước Triệu và nước Đại.
Tháng 9 nguyện năm 200 năm trước Công Nguyên,
Hàn Tín phá quân nước Đại.
Lúc đó, chiến sự giữa Hàn và sở đạng
rất gây go, Liêu Bang bị Hạng Vũ tấn công
mạnh mẽ. Hán vừa nghe tin
Hàn Tín diệt liền hai nước, liền sai
người thu tinh binh của ông đem đến Huỳnh Dương
để chống sở. Hàn Tín
và chưng nhĩ mộ quân mới, được mấy vạt
người, đi về phía Đông xuống tỉnh Hình
để đánh Triệu. Vua Triệu và
Trần Dư nghe tin quân Hán sắp đánh úp,
bèn tụ tập quân đội ở tỉnh Hình, pho tin
là 20 vạn. Tướng Triệu
là Lý Tả Sa Bày mưu cho Trần Dư
nên cố thủ và chặn đường vận lương của quân Hán,
nhưng Trần Dư không nghe theo.
Hàn Tín sai người sang thám thính,
biết mưu của Lý Tả Sa không được dùng,
bèn đem quân đến cách tỉnh Hình 30 dặm
thì dừng lại cắm chạy.
Nửa đêm, ông chuyển lệnh xuất phát.
Hàn Tín chọn 2.000 quân kỵ trang bị
nhẹ, mỗi người cầm một lá cơ đỏ
của quân Hán, đi theo đường tắt,
lén lút sang đồn quân triệu đội sẵn,
Đó là phép tối kỵ trong
việc dùng binh, vì theo binh pháp
phải dựa vào núi và nhìn ra sông.
Nếu tựa vào sông, khi bị kẻ địch
đánh dồn tới sẽ hết đường chạy.
Đó là chỗ chết. Vì thế,
quân triệu ở xa nhìn thấy thì cười vang.
Lúc bình minh, tín dựng cơ đại tướng
đánh chống lên, kéo quân ra cửa
tỉnh Hình. Quân triệu mở cửa
lũy tiến ra giao chiến, 2 bên đánh
nhau to một hồi lâu.
Bây giờ, Hàn Tín và Trương Nhĩ
vừa bỏ cơ chống chạy đến đạo quân
gần sông. Đạo quân gần sông rẽ ra,
đón lấy họ, rồi tất cả quay đầu
lại chiến đấu dữ dội. Quân triệu
quả nhiên bỏ thành ra tranh lấy cơ chống
của Hán, đuổi theo Hàn Tín và Trương Nhĩ.
Tuy nhiên, quân Hán đã
không còn đường lùi nên đều liều chất
chiến đấu. Quân triệu đông hơn,
nhưng không thể nào đánh bại được. Trong khi
đó, 2.000 quân kỵ mà Tín
đã cho đi từ trước, chờ đến khi quân triệu
bỏ lũy chống để đuổi theo quân Hán
nhổ tất cả cơ sý của triệu để dựng
2.000 lá cơ đỏ của Hán. Quân triệu
đã không thắng được Hàn Tín, lại thấy
trong thành toàn là cơ sý của quân Hán
thì hoàng mang sợ hãi. Quân sĩ
hỗn loạn bỏ chạy, tướng triệu chém
cũng không ngăn được. Quân Hán 2 bên
áp lại, phá tan quân triệu, chém
Trần Dư trên sông Tri Thủy, bắt sống
triệu Vương Yết, thu hàng Lý Tà Sa.
Quân Hán thắng trận, các tướng
đều thắc mắc tại sao Hàn Tín lại bày
binh bố trận như vậy. Ông đáp
các tướng sĩ của ta phần lớn
là tân binh, chưa được quán luyện nhiều.
Nếu ta không đặt họ vào chỗ chết,
khiến cho người nào cũng vì mình mà chiến đấu
thì không được. Nếu như ta để họ
vào nơi đất sống, khi lâm trận họ
quay đầu bỏ chạy thì ta sao dùng được họ nữa.
Sau đó, Hàn Tín theo kế
của Lý Tà Sa, cho quân nghỉ ngơi,
bình định nước triệu, rồi sai người
mang một bức thư sang nước Yên Dụ Yên
Vương Tăng Đồ, tăng đồ sợ thế quân
Hán bèn quy thuận. Hàn Tín
lại sai sư báo với Hán Vương, nhân tiện
sẽ lập Trương Nhĩ làm triệu vương để cai trị
và vỗ về nước này. Vua Hán
chấp thuận bèn lập Trương Nhĩ làm triệu vương.
Lúc đó, Lưu Bang
đóng quân ở Huỳnh Dương. Rằng
co với quân sở, mưu sĩ của Hạng Vũ
là Phạm Tăng khuyên Hạng Vũ nhanh chóng
đánh chiếm Huỳnh Dương. Lưu Bang
hết sức lo lắng. Trần Bình vốn là người
từ phía quân sở chạy sang, khiến kế
cho Lưu Bang tìm cách ly gián Hạng Vũ
và Phạm Tăng. Nhân khi có sứ giả của
Hạng Vũ nghi ngờ Phạm Tăng tư thông với mình.
Hạng Vũ vốn tính đa nghi,
bị trúng kế phản gián, đem lóng nghi ngờ
Phạm Tăng. Phạm Tăng vô cùng quất ức
nói với Hạng Vũ. Đại thế
trong thiên hạ đã định rồi, đại vương
nên liệu cho khéo. Thần đã già yếu
xin được về quê nghỉ ngơi.
Phạm Tăng rời Huỳnh Dương về Bành Thành
trên đường đi vừa buồn vừa giận, sinh
bệnh mà chết. Hạng Vũ mất Phạm Tăng
nhưng vẫn tăng cường công hám Huỳnh Dương.
Quân Hán bị cắt đứt đường lương thực
tình hình rất nguy cấp. Lưu Bang
sai kỷ tín đóng giả mình ra đầu hàng để
lừa quân sở. Quân sở thi nhau
chạy đến phía đông thành để xem vua Hán.
Nhờ vậy, Lưu Bang thoát ra cửa Tây
với vài chục quân kỵ và bỏ trốn
nhưng vẫn để các tướng ở lại giữ Huỳnh Dương.
Lưu Bang chạy thoát đến Thành Cao.
Lúc đó, tướng cầm quân ở Lương
là Bành Việt đã theo Hán, vượt qua
sông Tuy Thủy đánh tan quân sở, lấy
Hạ Bì. Hạng Vũ đang muốn
truy kích Lưu Bang nhưng lại phải đem binh
về hướng đông đánh Bành Việt. Sau
khi đánh quân Bành Việt thua chạy, Hạng Vũ
lại đem binh về hướng Tây Phá được thành Huỳnh Dương.
Hạng Vũ kéo tỡi bao vây
Thành Cao rất gấp. Tháng 6 năm 204
trước công nguyên, Lưu Bang không chống nổi
vượt vòng vây ra khỏi Thành Cao,
vượt qua sông Hoàng Hà, chỉ có một mình
hạ hầu anh đi cùng, tới địa phận do
Trưng Nhĩ và Hàn Tín cai quản.
Đến nơi, sáng sớm, Lưu Bang
Trưng Nhĩ và Hàn Tín chưa dậy, Lưu Bang
vào trong phòng ngủ, cấp ấn Tín và binh phủ,
dùng cờ mau để triệu tập các tướng,
thay đổi chức vị các tướng mà Tín
và Nhĩ đã sắp đặt. Khi hai người
thức dậy mới biết là Hán Vương đã đến.
Lưu Bang sau khi đoạt quân của hai người
liền ra lệnh cho Trưng Nhĩ giữ lấy đất triệu,
phòng Hàn Tín làm tướng quốc, thu gom
quân ở triệu đi đánh tề.
Hàn Tín đem quân sang đông,
chưa vượt qua bến sông Bình Nguyên thì nghe tin
sứ thần của Hán Vương là Lịch Sinh
đã thuyết phục được nước tề đầu hàng.
Ông định dừng lại, nhưng đu sĩ Khói Triệt
nói rằng tướng quân nhận chiếu đánh
nước tề, nay Hán Vương chỉ sai một người
ly rán mà khiến nước tề đầu hàng,
nhưng đã có chiếu chỉ bảo tướng quân dừng lại đâu.
Và lại Lịch Sinh là một thư sinh,
múa ba tắt lưỡi mà hạ được hơn
70 thành của nước tề, tướng quân cầm
mấy vạn quân hơn một năm mới hạ được hơn
50 thành của triệu. Làm tướng mấy
năm mà công lao không bằng một nho sinh hay sao?
Hàn Tín cho là phải,
Hàn Tín nhân đã đánh Úc quân tề ở Lịch Hạ
rồi tiến thẳng đến Lâm Tri.
Vua tề là điền Quảng cho rằng
Lịch Sinh lừa mình nên nấu Lịch Sinh trong mặt dầu
rồi trốn đến đất Cao Mật,
sai sư đến nước Sở để cầu cứu.
Sau khi đã bình định Lâm Tri,
Hàn Tín đi về hướng Đông đuổi theo Quảng.
Hạng Vũ nghe tin cầu cứu,
bèn sai Long Thư làm tướng, phao tin là
có 20 vạn quân đem đến cứu tề.
Long Thư bày trận bên sông Tuy Thủy.
Hàn Tín đăng đêm sai người làm hơn
một vạn bao cát chặn lấy thượng lưu dòng sông.
Hôm sau, Tín đem quân qua sông
đánh Long Thư, hai bên giao chiến một hồi.
Sau đó, Hàn Tín giả vờ thua,
quay lưng bỏ chạy.
Long Thư bèn dẫn quân đuổi theo qua sông.
Lúc đó, Hàn Tín cho người phá
các bao đựng cát, nước sông chảy ao ảo.
Đại quân của Long Thư quá nửa không qua được.
Bấy giờ, Tín mới thúc quân
quay lại đánh gấp.
Quân sở đại bại, Long Thư bị giết.
Bộ phận quân của Long Thư
phía bên kia dòng sông bỏ chạy tán loạn.
Tề vương Biển Quảng chạy trốn.
Hàn Tín liền đuổi theo đến đất Thành Dương
bắt bỏ tù tất cả lính sở.
Năm 203 trước công nguyên,
Hàn Tín bình định nước Tề,
sai người đến nói với lưu bang rằng
nước Tề gian dối hay gây biến,
cháo trở. Biên giới phía nam
là nước sở, nếu không lập giả vương
để giữ thì không thể bình định được.
Xin cho tôi làm giả vương.
Lúc bấy giờ quân sở đang vây
Hán Vương rất gấp ở Thành Huỳnh Dương.
Sử giả của Hàn Tín đến,
Hán Vương mở phòng thư ra, cả giận mắng.
Ta đang nguy khốn ở đây,
sớm chiều trông người đến giúp,
thế mà người lại muốn tự lập làm vương à?
Các mưu sĩ, trưng lương, trần bình
dẫm vào chân Hán Vương, nhân đầy ghé
vào tai Hán Vương nói, nhà Hán hiện nay
bất lợi, có thể cấm không cho tín làm vương được không?
Chi bằng nhân để mà lập,
đối xử với ông ta cho tử tế,
khiến ông ta vì mình mà giữ,
nếu không sẽ sinh biến.
Hán Vương nghe theo, liền sai trưng lương
đi lập Hàn Tín làm tề vương,
trưng dụ binh lính của ông đến đánh sở.
Nghe tìn lòng thư chết, Hán Vương lo lắng
sai sử giả đến nói với tề vương Hàn Tín
hãy phản Hán để chia ba thiên hạ,
nhưng ông từ chối.
Lúc đó, mưu sĩ Khói Triệt biết rằng
thiên hạ ai thắng ai bại là ở Hàn Tín,
cũng ra sức thuyết phục ông hãy cắt lấy đất ba nước
Tề, Yên, Triệu để chia
ba thiên hạ, tạo thế chân vạc.
Nhưng ông nói với Khói Triệt rằng
vua Hán đối đãi tôi rất hậu,
tôi lẽ nào lại chạy theo lợi mà quên nghĩa.
Khói Triệt cố phân tích mọi lẽ
để thuyết phục ông thêm mấy lần nữa
cũng không nổi vì Hàn Tín do dự không nỡ
phản lại nhà Hán.
Ông lại tự cho rằng mình lập được nhiều chiến công,
vua Hán dẫu sao cũng không lấy mất đất Tề của mình,
nên ông bền từ tạ Khói Triệt.
Sau khi đã nắm được quân của Hàn Tín,
uy thế của Lưu Bang lại mạnh,
ông sai bảnh Việt đem quân
Năm 203 trước công nguyên,
hạng vũ thân đi đánh bảnh Việt,
đề tướng là tàu cữu ở lại giữ hình dương
và dặn dò kỹ là không được đem quân ra đánh.
Lưu Bang thấy hạng vũ đi khỏi,
liên phái quân đến khiêu chiến.
Tàu cữu không chịu ra đánh,
Lưu Bang lại sai quân suốt ngày
đứng cách sông Chửi Dùa.
Mấy ngày liền, tàu cữu không chịu nổi,
quyết định đưa quân qua sông Quyết Chiến.
Quân sở lính nhiều thuyền ít
Phải chia ra từng tốp để vượt sông
Lưu Bang nhân cơ hội quân sở vượt được nửa trừng
liền đem quân ra đánh mạnh
Tiền quân sở bị đập tan,
hậu quân trở nên rối loạn,
dẫm đạp lên nhau.
Tàu cữu thấy không còn mặt mũi nào gặp lại hạng vũ,
bèn tự sát.
Hạng vũ đang thắng ở phía đông,
nghe tin hình dương thất thủ,
vội chạy về phía tây đối phó với Lưu Bang,
hai bên lại cầm cữ nhau.
Thời gian kéo dài,
lương thực tiếp tế của quân sở không đủ.
Hạng vũ không có cách gì,
chỉ biết dụ Lưu Bang mang quân ra quyết chiến
nhưng không được,
bèn cử sứ giả đến nói
Thiên hạ này loạn lạc là do hai người chúng ta đối chọi nhau.
Này ta thách người cùng ta quyết chiến
so tài cao thấp một trận cho sông.
Lưu Bang cử sứ giả đến đáp
Ta chỉ đấu trí chứ không đấu sức với người.
Sau đó,
đường tài lương của quân sở lại bị bành việt cắt đứt.
Lưu Bang nhấn lúc hạng vũ đang gặp khó khăn,
liền cử người đến xin giảng hòa,
yêu cầu quân sở thả thái công và lưỡi hậu ra.
Hạng vũ thấy đề nghị đó hợp lý,
bèn chấp thuận,
đem quân về bành thành.
Thực ra, việc giảng hòa chỉ là kế hoãn binh.
Sau đó, Hán vương chuẩn bị kế hoạch
cho trận quyết chiến cuối cùng giữa hai bên Hán sở.
Lúc đó, đất đai trên toàn cõi Trung Hoa,
bảy nước Chư Hầu Cũ thì sáu nước đã về Hán,
lực lượng giữa hai bên đã rất trinh lệch.
Năm 202 trước công nguyên,
liều bàng củng quân của Chư Hầu Tiến
đánh quân sở ở cai hạ.
Quân Hán có khoảng 30 vạn, do Hàn Tín làm thống lĩnh.
Quân của Hạng vũ chỉ có khoảng 10 vạn.
Hai bên giao chiến,
quân sở không chống nổi,
phải rút lui vào thành cai hạ cố thủ.
Hàn Tín bố trí quân mai phục mười mặt.
Hạng vũ ít quân, thiếu lương,
muốn phá vòng vây, nhưng quân Hán
và Chư Hầu bao vây trùng trùng điệp điệp.
Lớp này ngã xuống lại có lớp khác lên thay,
không thể nào thoát ra được.
Một đêm, Hạng vũ đang cùng với Sùng Phi
là ngu cơ uống rượu giải sầu,
bỗng nghe thấy tiếng hát từ trại quân Hán vọng ra.
Các bài hát đều là dân ca nước sở,
số người hát có vẻ rất nhiều.
Hạng vũ thấy vậy thì hoảng hốt,
nói rằng, hỏng rồi,
chẳng nhẽ liều bàng đã chiếm hết nước sở rồi sao?
Làm sao mà trong quân Hán
có nhiều người sở như vậy?
Hạng vũ bèn dẫn theo 800 tử đệ binh phá
vây bò chạy.
Quân sở thua to, liều bàng sai quán,
anh nổi theo.
Hạng vũ chạy đến Âu Giang thì cùng đường.
Vừa may gặp người đình trưởng
đậu chiếc thuyền nhỏ ở đó.
Người đình trưởng khuyên Hạng vũ vượt sông và nói,
Giang Đông tuy nhỏ nhưng cũng có
hơn ngàn rạm đất đai và mấy chục vạn nhân khẩu.
Đại vương qua sông vẫn có thể
xưng vương ở đó.
Hạng vũ cười đau đớn.
Ta khởi binh ở cối kê, dẫn theo 8.000 con em
vượt sông, đến nay đã không còn ai.
Ta còn mặt mũi nào trở về nhìn
các phụ lão Giang Đông nữa.
Hạng vũ liền xuống ngựa
cùng các binh sĩ còn lại xông vào chém
giết quân Hán, cuối cùng kiệt sức,
rút kiếm tự sát.
Sau trận quyết chiến cai Hạng,
Hán vương Lưu Bang xây dựng nên vương triều Hán
còn lớn mạnh hơn triều Tần.
Năm 202 trước công nguyên,
Lưu Bang chính thức lên ngôi hoàng đế,
đó là vua Hán Cao Tổ.
Ban đầu, Hán Cao Tổ đóng đô ở Lạc Dương,
về sau lại rời đến Trường An.
Từ đó trong suốt 210 năm,
kinh đô của nhà Hán đều ở Trường An,
lịch sử gọi thời kỳ này là Tây Hán.
Sau khi lên ngôi, Hán Cao Tổ
mở tiệc mừng công ở Nam cung Lạc Dương.
Trong buổi tiệc, ông nói với
các đại thần rằng, các người nói xem
tại sao ta lại có được thiên hạ,
còn Hạng vũ lại thất bại.
Đại thần Vương Lang nói, bệ hạ đối với
người có công đều có phong thưởng,
nên mọi người tình nguyện phục vụ.
Còn Hạng vũ nghi ngờ đối kị những người có tài năng,
đánh thắng trận cũng không phong thưởng cho người ta,
cho nên mất thiên hạ.
Hán Cao Tổ cười nói,
các người biết một mà không biết hai,
việc thành công hay thất bại đều
phụ thuộc vào việc dùng người.
Ngồi trong màn trướng mà định ra kế sách thắng lợi
ngoài trăm dặm thì ta không bằng trưng lương.
Cai trị đất nước, vỗ về trăm họ,
cung cấp lương thực cho tiền phương
thì ta không bằng tiêu hà.
Thống lĩnh trăm vạn quân, công thành nhiều trại,
đã đánh là thắng thì ta không bằng hàn tím.
Ba người đó đều là hào kiệt đương thời,
ta biết trọng dụng họ nên mới giành thắng lợi.
Còn Hạng vũ có một phạm tăng
Mọi người đều không phục ý kiến đó
của Hán Cao Tổ.
Sau này người ta gọi trưng lương, tiêu hà,
hàn tím là Hán Sở Tam Kiệt.
Khi quân Hán chiến đấu với quân Sở,
có một số đại tướng lập được công lớn,
Hán Cao Tổ không thể không phòng vương cho họ.
Trong số đó,
ngoài những người thân thích còn có bảy vương khác họ
như Sở Vương Hàn Tím, Lương Vương Bảnh Việt,
Hoài Nam Vương Anh Bố.
Những vương trư hầu đều có triều đình riêng,
quân đội riêng.
Đó là mối lo ngại lớn đối với Ngài Vàng Họ Lưu
nên Hán Cao Tổ rất không yên tâm về họ.
Sàng năm thứ 2,
có người tố cáo với Hán Cao Tổ là hàn tím mưu phản.
Cao Tổ theo kế của Trần Bình
đi tuần du đến đất Trần
ra lệnh cho các trư hầu đến hội họp.
Sở Vương nhận được lệnh không thể không đến
nhưng vừa tới nơi thì bị bắt trói lại.
Hán Cao Tổ nghĩ tới công lao trước kia
miễn tội chết nhưng thu lại tức vương
và ráng xuống làm hoài âm hầu
đưa về trường an quản thúc.
Sau khi bị ráng trức, hàn tím rất buồn giàu
thường lấy cớ có bệnh không vào triều kiến.
Hán Cao Tổ sai hàn tím và bành việt
đem quân đi thảo phạt nhưng cả hai
đều lấy cớ có bệnh để thoái thác.
Ông đành tự mình mang quân xuất trinh.
Sau khi Hán Cao Tổ rời khỏi kinh thành
có người tố giác với Lã Hoàng Hậu
là hàn tím câu kết với Trần Hy làm phản.
Lã Hậu bàn với Thưa Tướng Tiêu Hà
giả truyền tin tức nói Hán Cao Tổ
đã bắt được Trần Hy, triệu các đại thần tới chúc mừng.
Hàn tím vào tới cung
liền bị quân sĩ Mai Phục bắt giết.
Tiêu Hà trước kia là ân nhân của hàn tím
hết sức tiến cử ông với Lưu Bang
nhưng cuối cùng lại chính Tiêu Hà lừa
hàn tím vào cung cho Lã Hậu giết.
Vì thế người đời sau nói rằng hàn tím
thành tại Tiêu Hà, bại tại Tiêu Hà.
Không đầy ba tháng sau khi hàn tím
bị giết, Hán Cao Tổ diệt được Trần Hy
về Trường An lại nhận được
tố giác nói bành việt bưu phản.
Ông liền sai người bắt bành việt, dáng làm
thứ dân và đẩy vào đất thục.
Lã Hậu biết tin, nói với Hán Cao Tổ rằng
bành việt là một trắng sĩ
đưa hắn ta vào thủ khắc gì thả hộ về rừng
trước lấy phiền phức sau này.
Cao Tổ nghe lời, bèn hạ lệnh giết bành việt.
Hoài nam vương anh bố biết tin hàn tím
và bành việt bị giết, biết chắc tiếp
theo sẽ đến lượt mình, liền quyết tâm nổi loạn.
Hán Cao Tổ lại thân trinh đi đánh
chỉ huy quân tiến công mãnh hiệt.
Anh bố đại bại tháo chạy
giữa đường thì bị giết chết.
Cứ như thế, Hán Cao Tổ lần lượt tiêu diệt
các vương khác họ, đưa con cháu
và những người cùng họ lên thay.
Về cuối đời, khi đã lầm bệnh nặng
ông triệu tập các đại thần tới
và bắt mọi người lập lời thề.
Từ nay về sau, nếu không phải họ lưu
thì không được phong vương, ai làm trái lời thề
thì mọi người cùng thảo phạt.
Năm 195 trước công nguyên
Hán Cao Tổ qua đời, xưng làm hoàng đế
được 7 năm, thọ 61 tuổi.
Ông xuất thân là một nông dân bình thường
không phải là quý tộc như đa số
các vị vua khai triều lập quốc khác
nhưng cuối cùng lại là người giành được thiên hạ.
Theo đánh giá của các nhà sử học
lưu bang hoàn toàn trái ngược với đối thủ hạng vũ
Trong khi hạng vũ thường được coi
là lãng mạn và quý tộc, lưu bang thường
bị coi là thô lỗ. Hạng vũ
luôn tỏ ra nhân đức đối với các tướng sĩ
dưới quyền nhưng lại là một nhà chính trị
kém cỏi, ý vào tài năng, tư cách
chỉ làm theo ý mình mà không lắng nghe lời góp ý.
Trong khi đó, lưu bang xuất
thân thấp, ít học, tự biết mình tài năng
có hạn nên luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến
của người khác, tận dụng tài năng của thuộc cấp
để thành sự nghiệp.
Sự hậu hĩnh phòng đất
của Hán cao tổ cho các công thần đã khiến
thế lực của họ quá mạnh. 7 nước trừ hầu
chiếm hơn nửa Giang Sơn Trung Hoa,
lãnh thổ do nhà Hán thực sự quản lý
chỉ có 15 trên 40 quận.
Hơn nữa, lưu bang tuổi cao sức yếu,
ông biết thái tử lưu doanh tài năng kém
cỏi và nhu nhược, không thể giữ được
cơ nghiệp trước thế lực lớn mạnh của các trừ hầu.
Dù hiện tại họ không có ý định
làm phản, nhưng không có gì đảm bảo khi
lưu doanh non kém nối nghiệp thì họ sẽ
tiếp tục trung thành với Hán Thất.
Do đó, lưu bang và Lã Chỉ chọn giải pháp
diệt trừ họ. Việc làm của vợ chồng
lưu bang được xem là chọn lựa tốt nhất
trong hoàn cảnh đó. Mặt khác,
việc sát hại công thần của lưu bang thường bị
phóng đại. Thực tế, khoảng
143 công thần mà lưu bang phong thưởng
sau khi lập quốc, nhưng chỉ có vài người
trong số họ bị sử tử, là những người
có binh lực mạnh và lưu bang không tin tưởng.
Còn đa số những người khác vẫn được
đối xử tốt như Trần Bình, Chu Bột,
Quán Anh, Trương Lương, Tiêu Hà,
Tàu Tham. Họ vẫn trung thành
phục vụ con cháu lưu bang sau khi
ông đã qua đời.
Với cục diện chính trị thống nhất, ít còn
nguy cơ hỗn loạn mà lưu bang để lại,
người dân Trung Quốc cuối cùng đã có thể yên ổn
an cư lạc nghiệp. Đất nước cơ bản được
hưởng hòa bình lâu dài gần 200 năm,
không còn lâm vào cảnh chiến tranh loạn lạc,
chết chóc khắp nơi kéo dài suốt hàng trăm năm trước đó.
Chính trị yên ổn đã giúp
nền kinh tế, văn hóa Trung Quốc
Người Trung Quốc hiện nay
vẫn gọi mình là người Hán,
chính là để thể hiện sự ca ngợi công lao của triều đại
do lưu bang sáng lập.
