Ngũ Đại Thập Quốc 53 năm Trung Hoa bị xé nát bởi 15 triều đại Tóm tắt lịch sử Trung Quốc

Đình Sự
537 người theo dõi
Từ sau loạn An Sử, nhà đường liên tục xuất hiện rất nhiều phiên chấn không chịu sự khống chế.
Tình hình trong triều đình cũng rất rối loạn, hoạn quan chuyên chính, đảng tranh và không có cách loại trừ căn nguyên vấn đề phiên chấn.
Do vùng Hà Bắc bị phiên chấn khống chế, trung nguyên chiến loạn không khám nổi, triều đình đường phải dựa vào cuộc cải của vùng Giang Nam.
Tuy nhiên, trong biến Bàng Huân và loạn Hoàng Sào, vùng Giang Nam lại bị phá hoại,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập kinh tế của triều đình đường, nhà đường dần đi đến chỗ diệt vong.
Vào hậu kỳ triều đường, xuất hiện ba phiên chấn trọng yếu.
Lý Quốc Sương do có công bình loạn nên được thụ phong là Hà Đông tiết độ Sứ, trị sở tại Thái Nguyên.
Một bộ tướng của Hoàng Sào là Chu Âu do có công bình loạn nên được thụ phong Tuyên Vũ tiết độ Sứ, trị sở tại Biện Châu, nay thuộc Khai Phong, Hà Nam.
Phượng tướng tiết độ xử lý Mậu Trinh là thế lực phiên chấn lớn mạnh ở vùng Quan Trung, đương thời thường uy hiếp triều đình.
Sau khi Hoàng Sào bị tiêu diệt, hàng tướng tần tông quyền của Hoàng Sào vẫn tiếp tục nổi dậy.
Xuất quân từ Trung Nguyên đánh cướp Tứ Sứ, từng công hãm Đông Đô Lạc Dương, tạo thành cục diện chiến tranh hỗn loạn.
Loạn lan đến khu vực Lưỡng Hoài, Giang Nam, quần hùng địa phương vùng lên kháng địch.
Trong số thập quốc thì ngô và sở kiến lập theo cách này.
Đến thời Đường Triêu Tông, nhờ nỗ lực của Chu Âu, loạn tần tông quyền mới chấm dứt.
Trong ba cánh phiên trấn có ảnh hưởng lớn cuối triều đường, Lý Khắc Dụng và Chu Âu vốn đã không hợp.
Hai bên đấu tranh không ngừng cả trên triều đình lẫn dưới phiên trấn.
Chu Âu lợi dụng thế lực trong triều mà đã áp Lý Khắc Dụng, đồng thời thừa câu y phục các phiên trấn khác.
Việc mở rộng địa bàn khiến cho thế lực của Chu Âu vượt lên rõ rệt so với Lý Khắc Dụng.
Khi Lý Mậu Trinh uy hiếp triều đình đường ở Quan Trung, vì Lý Khắc Dụng và Chu Âu can thiệp nên ông ta thất bại.
Năm 888, sau khi đường Triêu Tông kế vị, Tể tướng Thôi Dận và Hoạn quan Hàn Toàn Hối tranh quyền.
Đường Triêu Tông bị Hàn Toàn Hối quản thúc, Thôi Dận khẩn cấp kêu gọi Chu Âu đến cứu viện.
Hàn Toàn Hối buộc đường Triêu Tông đến chỗ Lý Mậu Trinh, Chu Âu liền xuất quân vây khốn Mậu Trinh.
Năm sau, quân Lý Mậu Trinh cạn lương thảo, Lý Mậu Trinh giết Hàn Toàn Hối và các hoạn quan cấp cao khác, hòa giải với Chu Âu.
Chu Âu thừa cơ nắm giữ đại quyền, khống chế Triều Đình, còn đồ sát vài trăm hoạn quan, phái bình khống chế Trường An.
Thôi Dận sau đó hối hận, có ý muốn thoát khỏi sự uy hiếp của Chu Âu, ngầm triệu một lục quân thập nhị vệ,
song bị tai mắt của Chu Âu ở Trường An phát giác.
Năm 904, Chu Âu giết Thôi Dận, bức bách đường Triêu Tông thiên đô đến Lạc Dương.
Đến tháng 8 cùng năm thì giết đường Triêu Tông và lập Hoàng tử Lý Trúc Lầm Hoàng đế, tức đường Ai Đế.
Chu Âu ban đầu muốn sau khi thống nhất thiên hạ mới đoạt vị, song do cuộc chinh phục Hoài Nam kết thúc trong thất bại.
Đến năm 907, Chu Âu bức bách đường Ai Đế thiện nhượng, triều đường Diệt Vong.
Chu Âu đổi tên thành Chu Hoảng, kiến quốc Hậu Lương, tức Hậu Lương Thái Tổ, định đô tại Biện Châu.
Từ đó cho đến năm 960, ở miền Bắc Trung Quốc lần lượt dựng lên 5 triều đại là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu.
Ở miền Nam, các tướng quân phiệt mỗi người chiếm giữ một vùng, lần lượt lập thành 9 nước là Tiền Thục, Ngo Việt, Mân, Ngo, Nam Hán, Nam Bình, Sở, Hậu Thục, Nam Đường cùng với nước Bắc Hán ở miền Bắc là 10 nước.
Do vậy, lịch sử gọi thời kỳ này là ngũ đại thập quốc.
Sau khi lập quốc, Hậu Lương Thái Tổ tiến hành không ít các cải cách mạnh mẽ nhằm chống lại những điều tiêu cực vào hậu kỳ triều đường.
Ngoài ra, ông còn rất chán ghét hoạn quan, từng cự tuyệt các hoạn quan từ Phương Nam đến Kinh Thành Thị Nạn, giết chết hoặc áp bức quan viên cao cấp triều đường.
Xong ông lại sử dụng những sĩ nhân thất ý như Lý Chấn, Kính Tường, còn nghe theo kiến nghị của Lý Chấn mà đổ sát 30 danh cao quan như Tể Tướng, Bùi Xu, Thôi Viễn, Sử gọi là Bạch Mã, Chi Họa.
Trên phương diện kinh tế, Hậu Lương xem trọng phát triển nông nghiệp, giảm nhẹ thuế má.
Trên phương diện quân sự, Hậu Lương rất nghiêm ngặt nếu như tướng chiến tử, binh sĩ giữa quyền đều bị chém đầu.
Tuy nhiên, vào những năm cuối, Hậu Lương thái tổ hoang dâm vô độ, thậm chí trái với luân lý, thường triệu thê thiếp của các con vào cung để hậu hạ.
Trên phương diện ngoại giao, những năm đầu Hậu Lương lập quốc, hầu như tất cả các quốc gia và phiên chấn đều tuyên bố thần phục,
chỉ có tấn, kỳ, tiền thục và ngô là đối địch với Hậu Lương, dùng niên hiệu cũ của triều đường nhằm thể hiện tôn thời đường thất.
Hậu Lương thái tổ, sau khi khai quốc, Hậu Lương thái tổ liền bắc phạt đánh tấn tại Lộ Châu, lâm vào thế ngang ngửa với Lý Khắc Dụng.
Sau khi Lý Khắc Dụng qua đời vì lo âu và kiệt sức, con là Lý Tồn Úc giành được thắng lợi với sự phụ tá của Lý Khắc Ninh và Trương Thừa Nghiệp.
Năm 910, Hậu Lương thái tổ nghi ngờ Thành Đức quân và tân bí mật liên kết, vì thế xuất quân tiến đánh,
khiến Thành Đức tiết độ sứ vương dung và nghĩa vũ tiết độ sứ vương sử trực quay sang với Lý Tồn Úc.
Lý Tồn Úc xuất quân đến Bách Hương, đánh tan quân Hậu Lương, cứu viện thành công Thành Đức quân,
còn nguyên khí quân Hậu Lương tổn hào nặng nề, sự gọi là Trận Bách Hương.
Ở xa hơn về phía Bắc, Lưu Thủ Quang là người tàn bạo, cũng là một địch thủ mạnh của Tấn.
Năm 909, Lưu Thủ Quang được Hậu Lương thái tổ phong làm Yên Vương.
Ba năm sau, Lưu Thủ Quang xưng đế, kiến lập nước Yên.
Năm sau, Lý Tồn Úc phái Tru Đức uy tiến đánh Lưu Thủ Quang.
Hậu Lương thái tổ tự xuất quân cứu viện cho Lưu Thủ Quang, xong bị quân Tấn đánh tan.
Cuối cùng, đến mùa đông năm 913, Ú Châu thất thủ, Lưu Thủ Quang sau đó bị quân Tấn bắt giữ.
Sau khi chiến bại, Hậu Lương thái tổ triệt thoái về Lạc Dương, rồi lâm bệnh nặng.
Thứ tử Chu Hữu Khuê bất mãn vì Phụ Hoàng có ý muốn lập con nuôi là Chu Hữu Văn làm thái tử,
nên thừa cơ sát hại Phụ Hoàng rồi kế vị.
Tuy nhiên, Chu Hữu Khuê hoang dâm vô độ, không được lòng người,
đến năm 913 thì em trai là Chu Hữu Trinh Liên Hiệp với Thiên Hùng Tiết Độ Sứ Dương xư Hậu Tiến đánh đoạt vị.
Năm 918, Lý Tổn Úc lại xuất quân Nam Trinh đối kháng với quân Hậu Lương ở khu vực Bộc Châu.
Quân Hậu Lương lại thảm bại, xong tướng Tấn Chu Đức Uy cũng chiến tử.
Chiến tranh Lương Tấn sau đó bước vào một thời kỳ yên lặng.
Năm 923, Lý Tổn Úc xưng đế, kiến lập Hậu Đường, tức Hậu Đường Trang Tông, không lâu sau lại tiến hành Nam Trinh.
Tướng Hậu Lương là Vương Ngạn Trương Phòng thủ ở Vận Châu, ngăn chặn thành công quân Hậu Đường.
Hai bên lâm vào thế bế tắc trong một thời gian dài, quân Hậu Đường không có đủ quân Lương, có ý triệt thoái.
Tuy nhiên, trong triều đình Hậu Lương có gian thần Sảm Ngôn, khiến Vương Ngạn Trương bị triệu về.
Hậu Đường Trang Tông lại xuất quân qua Vận Châu, đến tiến công biện Lương đang không được phòng bị.
Tháng 11 năm 923, Chu Hữu Trinh thấy không đối phó nổi nên cùng với Hoàng Hậu Tự Xác, Hậu Lương diệt vong.
Sau khi tiêu diệt Hậu Lương, Hậu Đường Trang Tông định đô tại Lạc Dương.
Đương thời, Hà Bắc Tam Trấn đã được bình định, quốc lực Hậu Đường cường thịnh.
Lước kỳ của Lý Mậu Trinh xưng thần với Hậu Đường, Hậu Đường Trang Tông phòng Lý Mậu Trinh là kỳ vương.
Năm 924, Lý Mậu Trinh qua đời, Hậu Đường Trang Tông bổ nhiệm con trường của mình là lý kế ngập giữ trước phượng tường tiết độ xứ, thôn tính lước kỳ.
Sau khi kiến quốc, vương kiến tại Thục trú trọng vào việc cày cấy, trồng dâu nuôi tầm, tăng cường thủy lợi, tiền thục về mặt kinh tế và quân sự đều rất cường thịnh.
Tuy nhiên, sau khi vương kiến qua đời vào năm 918, con là vương diễn lại xa xỉ vô độ, tàn bạo ngu tối.
Năm 925, Hậu Đường Trang Tông phái quách sùng thao và lý kế ngập xuất quân đánh chiến thành đô, vương diễn đầu hàng, tiền thục diệt vong.
Mặc dù đối ngoại cường thịnh, song mâu thuẫn nội bộ Hậu Đường lại ngày càng lớn.
Sau khi Hậu Đường Trang Tông định đô ở Lạc Dương, ông triều hồi hoạn quan về đảm nhiệm các chức vụ trọng yếu, tin dùng nhóm người bảo thủ như Lý Tập Cát,
gần như tương đồng với nền chính trị hậu kỳ Triều Đường, khiến Triều Chính ngày càng bại hoại.
Hậu Đường Trang Tông tự nhận định cơ nghiệp đã vững vàng, không chuyên tâm Triều Chính, hoang dâm vô độ, tự dùng nghệ danh Lý Thiên Hạ, tin dùng đám người như Linh Nhân Kính Tân Ma, Linh Quan Cảnh Tiến.
Đương thời, quân đội có quy mô lớn, quốc khố eo hẹp, song nư hoàng hậu can dự việc Triều Chính, tham lam tiền bạc, đưa một nửa số thuế thu được đến hậu cung,
khiến Triều Đình phải giảm bớt quân lương để chi cho các khoản khác. Do vậy mà xuất hiện tâm lý bất mãn, dẫn đến binh biến.
Sau khi cùng Quách Sùng Thao hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tiền thục, con trường của Trang Tông là Lý Kế Ngập cảm thấy bất mãn do không được tham dự sâu vào quân vụ.
Lý Kế Ngập mật báo với Triều Đình có ý muốn hãm hại Quách Sùng Thao.
Hậu đường Trang Tông định điều tra trước rồi sau mới quyết định, song Lý Hoàng hậu tự ý lệnh cho Lý Kế Ngập xử tử Quách Sùng Thao.
Năm 926, Quách Sùng Thao bị giết, quân đường lòng quân tan tác, xảy ra binh biến khắp nơi.
Lưu hoàng hậu không muốn đem của cải của mình ra để úy lạo quân, khiến tình hình càng thêm tồi tệ.
Không lâu sau, binh lính do Tướng Triệu tại lễ thống lĩnh nổi dậy ở Nguy Châu, Triều Đình hậu đường cho quân đi chấn áp, song thất bại.
Hậu đường Trang Tông phải phái hoàng thân Lý Tự Nguyên đem quân đi bình định.
Tại Nguy Châu, Lý Tự Nguyên nhận được sự ủng hộ của dân chúng và loạn quân, quay sang đem quân tiến về phía nam đánh lại hậu đường Trang Tông.
Quân hậu đường ở các nơi không muốn chiến đấu vì hậu đường Trang Tông, Biện Châu và Lạc Dương liên tiếp bị chiếm, hậu đường Trang Tông bị tên Lạc giết chết trong cảnh nội loạn.
Sau khi tiến vào Lạc Dương, Lý Tự Nguyên đổ sát các quan lại và xưng đế, tức hậu đường Minh Tông, ly kế ngập tự sát ở Trường An.
Trong thời gian chấp chính, hậu đường Minh Tông trừ bỏ các tệ chính dưới thời hậu đường Trang Tông, chiều chính dần ổn định.
Đây là một giai đoạn ổn định hiếm thấy vào thời ngũ đại. Sử ra nhận định hậu đường Minh Tông là minh quân chỉ đứng sau hậu Chu Thế Tông vào thời ngũ đại, một số chế độ do ông lập ra sau được Triều Tống kế thừa.
Xong đến những năm cuối triều đại của hậu đường Minh Tông, hậu đường lại xảy ra tình trạng nội loạn.
Năm 933, hậu đường Minh Tông lâm trọng bệnh, con là Lý Tòng Vinh đoạt vị rồi bị giết chết, một người con khác là Lý Tòng hậu kế vị, tức hậu đường Mấn Đế.
Đương thời, hai vị đại tướng của hậu đường Minh Tông, con người Lý Tòng khai nhậm chức Phượng Tường Tiết Độ Xứ, con rể Thạch Kính đường nhậm chức Hà Đông Tiết Độ Xứ, đều có binh lực hùng mạnh.
Tể tướng Chu Hoàng Chiêu, phùng bản chủ trương tước bỏ binh quyền của các Tiết Độ Xứ, xong lại châm ngòi cho binh biến.
Năm 934, Lý Tòng khai đem quân tiến đến Lạc Dương, hậu đường Mấn Đế bị Thạch Kính đường bắt giữ trên đường chạy đến Nghị Châu, cuối cùng bị Lý Tòng khai giết.
Lý Tòng khai xưng đế, tức hậu đường Mặt Đế, trong lúc Trung Nguyên có rối loạn, xảy ra sự kiện hậu thục độc lập.
Nguyên do là sau khi tiền thục diệt vong, hậu đường Trang Tông bổ nhiệm Mạnh Tri Tường làm tay xuyên Tiết Độ Xứ, không lâu sau hậu đường Minh Tông đoạt vị, Mạnh Tri Tường luyện binh để thực hiện ý đồ độc lập.
Năm 932, sau khi thôn tính đông xuyên quân của Đồng Trương, Mạnh Tri Tường được hậu đường Minh Tông phong làm thục vương, đến khi hậu đường Mặt Đế phát động nội loạn, Mạnh Tri Tường xưng đế, kiến quốc hậu thục.
Cùng năm đó, Mạnh Tri Tường qua đời, còn là Mạnh Sưởng kế vị. Mạnh Sưởng cai trị tốt đẹp, lãnh thổ được mở rộng, hậu thục duy trì cục diện hòa bình trong vòng 30 năm.
Ngay từ thời hậu đường Minh Tông, hậu đường Mặt Đế và Thạch Kính Đường đã phân bì không hợp tác. Sau khi hậu đường Mặt Đế kế vị, ông rất nghi kị Thạch Kính Đường. Thạch Kính Đường lo sợ và trong lòng có ý muốn vùng dậy.
Năm 926, hậu đường Mặt Đế điều nhiệm Thạch Kính Đường đến Thiên Bình Quân, lại mệnh cho Trương Kính Đạt và Dương Quang Viễn đem quân đến hối thúc.
Thạch Kính Đường nghe theo kiến nghị của thân tín, quyết định mượn binh khiết đàn quốc để nổi dậy, còn xưng là con với Liêu Thái Tông ra luật Đức Quang xin cắt nhượng yên vân thập lục châu cho người khiết đàn, mỗi năm cống nộp 30 vạn thất lụa.
Năm 937, quân hậu tấn và quân khiết đàn tiến về phía nam, Dương Quang Viễn, Triệu Đức Quân và các chấn khác liên tiếp đầu hàng. Quân hậu tấn tự mình đánh lạc dương, hậu đường mạt đế phóng hỏa tự xác, hậu đường diệt vong.
Trong thời gian chấp chính, Dương Hành Mật khuyến khích cày cấy và trồng dâu nuôi tẩm, ổn định kinh tế, khiến khu vực giang hoài dân phục hồi. Về mặt đối ngoại, Dương Hành Mật lại ủng hộ đường thất, đối địch với quân của Chú Âu.
ngô ruệ đế. Năm 927, Tư Ôn qua đời, được truy phong là Tê Vương, Tư Chi cáo kế vị, trở thành người thống trị trên thực tế của nước ngô. Tư Chi cáo sinh hoạt tiết kiệm, tôn trọng ngô đế và các tướng lĩnh, rất được lòng người.
Sau khi kiến quốc, Lý Biện chọn chính sách để dân chúng nghỉ ngơi, hữu hảo với các nước lân cận, quốc lực tiếp tục cường thịnh.
Năm 943, Lý Biện qua đời, con là Lý Cảnh kế vị, tức Nam Đường Nguyên Tông. Đầu thời gian trị vì của Lý Cảnh, quốc lực Nam Đường vẫn cường thịnh.
Về đối ngoại thì liên minh hòa hảo với Triều Liêu để áp chế hậu tru, đối với các quốc gia xung quanh thì thừa cơ xâm nhập, liên tiếp diệt nước Mân và nước Sở.
Ở đông nam của Nam Đường có nước Ngo Việt và nước Mân. Người kiến lập nước Ngo Việt là Trấn Hải, Trấn Đông tiết độ xứ Tiền Lưu, thủ đô là Hàng Châu, cơng vực nhìn trung tương đương với tỉnh triết ra ngày nay.
Năm 907, Tiền Lưu được hậu lương phong làm Ngo Việt Vương, tức Ngo Việt Thái Tổ. Trong thời gian tại vị, Tiền Lưu thúc đẩy kinh tế, bảo vệ cương giới và yên ổn dân chúng.
Về mặt đối ngoại, Ngo Việt tôn ngũ đại là Tông Chủ Quốc, đối đầu với Ngo rồi Nam Đường, chính sách đó được duy trì cho đến khi vong quốc.
Nước Mân do Phúc Kiến quan sát xứ Vương triều kiến lập, ông ta cùng với em là Vương Thẩm Chi khống chế khu vực Phúc Châu sau được phong làm uy vũ tiết độ xứ, cơng vực tương đương với tỉnh Phúc Kiến hiện nay.
Sau khi Vương Thẩm Chi chấp chính, đến năm 909 thì được hậu lương phong làm Mân Vương, tức Mân Thái Tổ.
Trong thời gian tại vị, Vương Thẩm Chi đề xướng việc tiết kiệm cho dân chúng nghỉ ngơi, xưng thần với ngũ đại, khiến nước Mân phát triển nhanh chóng.
Năm 925, sau khi Vương Thẩm Chi qua đời, những người kế vị, Tông Thất và Đại Thần Nghị Kỵ tranh đấu lẫn nhau khiến nước Mân dần suy yếu.
Năm 943, em trai của Mân Cảnh Tông Vương Diên Hy là Vương Diên Chính xưng đế ở Kiến Châu, đặt quốc hiệu là Ân.
Năm sau, Vương Diên Hy bị Đại Thần sát hại, trong nước đại loạn.
Năm 945, Vương Diên Chính cải quốc hiệu thành Mân.
Cùng năm, Nam Đường Nguyên Tông Lý Cảnh Thừa Cơ Tiến đánh nước Mân, công hạ Kiến Châu, Mân diệt vong.
Không lâu sau, Nam Đường Thừa Cơ Sở có nội loạn, năm 951 Phái Biên Hạo đánh diệt sở, nước sở mất.
Xong do Nam Đường dụng binh trong nhiều năm, quốc lực bị tiêu hao đi rất nhiều, kết quả để mất một phần lớn lãnh địa.
Lại thêm Lý Cảnh là người nhu hòa, thích nghe lời su nịnh và ghét lời nói ngay thẳng, vì vậy đám tiểu nhân tranh nhau tiến tước.
Chính sự ngày một bại hoại.
Sau này, Nam Đường bị một trong ngũ đại là Hậu Chu đánh bại và chiếm nhiều đất đai, nên Nam Đường suy yếu.
Ở vùng Hồ Quảng có các nước Kinh Nam, Sở và Nam Hán.
Nước Kinh Nam còn gọi là Nam Bình hay Bắc Sở, cương vực ước trừng tương đương với Tây Bộ tỉnh Hồ Bắc hiện nay.
Quân chủ kiến quốc của Kinh Nam là Cao Quý Hưng, ông Nguyên là tướng lĩnh của Hậu Lương Thái Tổ.
Đến năm 907 thì được bổ nhiệm làm Kinh Nam tiết độ sứ, thủ phủ tại Giang Lang.
Kinh Nam đất hẹp nước yếu, xương thần với các nước xung quanh.
Các quân chủ Kinh Nam cao Quý Hưng và cao tổng hối ham cống phẩm của các nước nên ngăn chặn để chiếm đoạt.
Khi bị các nước phát binh uy hiếp thì lại quy phục.
Sau khi Hậu Lương diệt vong, Cao Quý Hưng chuyển sang xương thần với Hậu Đường.
Đến năm 924 thì được Hậu Đường trang tông phong làm Nam Bình Vương.
Khi Hậu Đường phát binh diệt tiền thục, Cao Quý Hưng biểu thị ý nguyện hiệp trợ Phạt Thục nhưng không có hành động trên thực tế.
Đến khi Hậu Đường thắng lợi, Quý Hưng lại thỉnh cầu Hậu Đường cắt cho một phần đất thục.
Điều này khiến cho Hậu Đường minh tông rất tức giận và quyết định phát binh Nam Trinh.
Xong do Giang Nam đang là mùa mưa nên quân Hậu Đường gặp khó khăn trong tiếp tế lương thảo, buộc phải triệt thoái.
Quan hệ giữa Kinh Nam và Hậu Đường phải đến thời cao tổng hối kế vị thì mới lại hòa hảo.
Nước sở do Vũ An tiết độ xứ Mã An kiến lập, thời loạn Tần Tông Quyền cuối trêu đường.
Bộ thuộc của Tần Tông Quyền là Mã An đem một bộ phận binh Mã vượt qua Giang Tây đến Cát Cứ ở Hồ Nam.
Năm 907, sau khi Hậu Lương được kiến lập, Mã An xưng thần với Hậu Lương, được phong làm sở vương, tức Vũ Mục Vương.
Thế lực của Mã An bao trùm lên khu vực này là tỉnh Hồ Nam và Bắc Bộ Quảng Tây.
Về đối ngoại thì sở thần phục các triều ngũ đại, về đối nội thì bình định loạn quân, cường phiên,
chọn chính sách bảo cảnh an dân, khiến quốc thế nước sở cường thịnh.
Năm 927, Hậu Đường phong Mã An làm sở quốc vương, định đô ở Đàm Châu, tức trường Sa Phủ.
Sang thời sở Văn Triêu, vương Mã Hy Phạm, nước sở mở rộng đến khu vực này là Đông Bắc Bộ Quảng Tây, quốc thế rất thịnh.
Tuy nhiên, sau khi Mã Hy Phạm qua đời năm 945, quốc thế nước sở đại loạn, các tướng sở ủng hộ Mã Hy Quảng kế lập,
khiến một người con khác là Mã Hy Ngạc bất mãn và làm phản.
Năm 950, Mã Hy Ngạc hạ được thành trường Sa, tức sở Cung Hiếu Vương.
Tuy nhiên, Mã Hy Ngạc là người túng tử hoang dâm, khiến các tướng làm phản,
ủng hộ những người khác trong tông thất là Mã Quang Huệ và Mã Hy Sùng.
Sau khi nước sở bị chia thành ba phe, đến năm 951,
thì Nam đường Nguyên Tông Lý cảnh thừa cơ phái biên hạo công chiếm trường Sa,
Mã Hy Sùng và Mã Hy Ngạc lần lượt đầu hàng, nước sở mất.
Nam Hán do Thanh Hải tiết độ sứ Lưu Ẩn đặt nền móng.
Năm 907, Lưu Ẩn được Hậu Đường phong làm Bành Quận Vương, cuối cùng được phong làm Nam Hải Vương.
Sau khi ổn định vững chắc vùng lĩnh Nam, Lưu Ẩn trọng dụng sĩ nhân địa phương,
đặt cơ sở cho việc kiến quốc trong tương lai.
Năm 911, Lưu Ẩn qua đời, em là Lưu Nghiễm kế vị.
Năm 919, sau khi thống nhất lĩnh Nam, Lưu Nghiễm xưng đế,
tức Nam Hán cao tổ, định đô ở phiên ngung, hiệu hưng vương phủ.
Lưu Nghiễm hòa hảo với các nước lân cận, mở rộng chế độ khoa cử.
Tuy nhiên, bản thân Lưu Nghiễm lại tàn khốc xa xỉ,
Năm 942, Nam Hán cao tổ qua đời, con là Lưu Phần kế vị, tức Nam Hán thương đế.
Lưu Phần tham lam, thích hưởng lạc, đương thời có cuộc nổi dậy của chương Ngộ Hiền.
Năm sau thì Lưu Phần bị em là Lưu Thịnh giết chết.
Lưu Thịnh tự lập làm hoàng đế, tức Nam Hán trung tông.
Trong thời gian tại vị, Lưu Thịnh đoạt được Dung Châu và Ung Châu của sở,
đề xưởng việc sử dụng hình phật nghiêm khắc để lập uy,
Nam Hán chỉ còn lại hoạn quan và cung nữ chấp chính.
Năm 958, sau khi Lưu Thịnh qua đời, con là Lưu Sưởng kế vị, tức Nam Hán hậu chủ.
Trong lúc thập quốc dần suy yếu, hậu tấn liên tiếp bị khiết đan uy hiếp ở phía Bắc.
Vì mới lập quốc, tài chính thiếu thốn, phiên chấn không phục triều đình,
hậu tấn cao tổ nghe theo Tăng Duy Hàn,
thi hành an phủ phiên chấn, cung cẩn khiết đan, chú trọng nông thương để chấn hương kinh tế.
Những chính sách này tuy tạm xoa dịu được khiết đan,
nhưng các quan người Hán ở vùng Yên Vân thập lục Châu như Ngo Loan,
quách sùng uy lấy lầm hổ thẹn, không muốn thần phục khiết đan.
Nhiều phiên chấn còn ngầm liên kết với người khiết đan để mưu đoạt vị.
Triều đình xảy ra biến loạn liên tiếp.
Năm 942, hậu tấn cao tổ qua đời, quần thần tôn thạch trọng quý kế vị, tức hậu tấn xuất đế.
Do tướng lĩnh và bách tính hậu tấn bất mãn trước việc hậu tấn cao tổ cúi mình tôn thờ ngoại tộc,
hậu tấn xuất đế nghe theo kiến nghị của cảnh Diên Quảng,
bỏ sưng thần mà chuyển sang sưng là cháu với khiết đan quốc.
Cảnh Diên Quảng có thái độ thù địch mãnh liệt với người khiết đan,
ông ta giết hại thương nhân khiết đan, bắt giữ xứ giả khiết đan, nhiều lần gây hấn với khiết đan.
Những điều này khiến khiết đan khả hãn ra luật Đức Quang Phẫn Độ.
Năm sau, hậu tấn xuất đế phái đỗ trọng uy xuất quân Bắc Phạt,
ra luật Đức Quang hay tin thì xuất đại quân tiến về phương Nam.
Đỗ trọng uy đánh tan quân khiết đan tại Bạch Câu, Hà Bắc.
Tuy nhiên, sau trận Bạch Câu, hậu tấn xuất đế ngày càng kiêu ngạo xa xỉ,
không quan tâm chiều chính, hối lộ trở nên công khai, chiều chính bại hoại.
Năm 946, hậu tấn xuất đế lại phái đỗ trọng uy xuất quân Bắc Phạt,
hội chiến với ra luật Đức Quang tại Hô Đà Hà.
Đương thời, đỗ trọng uy có ý muốn đoạt vị, quay sang đầu hàng ra luật Đức Quang.
Ra luật Đức Quang thừa cơ đem liên quân tiến thẳng đến gần Khai Phong,
quân hậu tấn liên tiếp đầu hàng.
Cuối cùng, hậu tấn xuất đế cũng ra khỏi thành sinh hàng,
hậu tấn biệt vong, sự gọi là chiến tranh liêu diệt tấn.
Năm sau, ra luật Đức Quang cải quốc hiệu thành Đại Liêu,
tức Liêu Thái Tông, chính thức kiến lập chiều Liêu.
Liêu Thái Tông vốn rất có thành tâm trong việc mưu hoạch phát triển Trung Quốc,
song do chính sách cướp phá và bắt người làm nô lệ của quân Liêu khiến cho bách tính Trung Nguyên hợp lại phản kháng.
Ở Hà Đông, Liêu Tri viễn nghe theo kiến nghị của Trương Ngạn Uy,
lấy lý do Trung Nguyên vô chủ mà xưng đế, kiến quốc hậu hán, tức hậu hán cao tổ.
Liêu Thái Tông không áp chế nổi cục diện, lấy lý do thời tiết nóng lực mà rút quân trở về phương Bắc.
Sau khi quân Liêu rút đi, hậu hán cao tổ bắt đầu thu phục Trung Nguyên,
định đô tại Khai Phong, các chấn nối tiếp nhau quy phục.
Năm 948, hậu hán cao tổ qua đời, con là lưu thừa hữu kế vị,
tức hậu hán ẩn đế, đồng thời cho Dương Bân, Quách Quy, Sử Hoàng Triệu và Vương Trương làm đại thần phụ quốc.
Sau khi trưởng thành, hậu hán ẩn đế nghi kị các đại thần phụ quốc, cùng Quách doãn minh hiệp nghị.
Năm 950, nhân quân Liêu tiến công Hà Bắc, ẩn đế phái Quách Quy, chấn thủ nghiệp Đô,
sau đó đại sát các đại thần như Dương Bân, Sử Hoàng Triệu và Vương Trương,
đồng thời giết cả người nhà của Quách Quy.
Quách Quy nghe tin, quyết định khởi binh tiến về phương Nam, đồng thời phái con nuôi là xài vinh chấn thủ nghiệp Đô.
Năm 951, Quách Quy đánh tan quân của Triều Đình, tiến vào Khai Phong, hậu hán ẩn đế bị giết.
Quách Quy vốn có ý muốn lập một người cháu của hậu hán cao tổ là Lưu Vân làm hoàng đế,
do vậy trước tiên để lý thái hậu lâm Triều nhiếp chính.
Bây giờ quân Liêu xâm nhập, Quách Quy xuất quân chống lại, nhưng khi đại quân đến Thiền Châu,
Hà Bắc quân sĩ ủng hộ Quách Quy lên ngồi, đại quân quay trở về Khai Phong.
Năm 951, Quách Quy xưng đế, kiến quốc hậu tru, tức hậu tru thái tổ, hậu hán mất.
Sau khi hậu tru thái tổ đăng cơ, hậu tru giảm trừ nhược can hà chính, khuyến khích thi hành tiết kiệm,
khuyên hướng nhân khẩu chuyển dịch từ đi xuống phiến Am Thành trở về Trung Nguyên.
Tuy nhiên, do Lưu Vân bị giết, khiến các cựu tướng hậu hán sau đó không phục Triều Đình hậu tru.
Sau khi Hải Đông tiết độ xứ Lưu Sùng biết tin Quách Quy xưng đế,
ông ta cũng tự lập làm hoàng đế, kiến quốc Bắc Hán.
Lưu Sùng dựa vào viện trợ của người Lưu, xưng là hoàng đế cháu với nhà Lưu, chờ cơ hội phạt hậu tru.
Năm 954, hậu tru thái tổ mất, không có con.
Xài hoàng hậu có người cháu là Xài Vinh, từ nhỏ thông minh lanh lợi,
được thái tổ nhận làm con nuôi, nay lên kế vị, đó là hậu tru Thế Tông.
Hậu tru Thế Tông là đệ nhất danh quân thời ngũ đại thập quốc,
Đương thời, triều đình hậu tru kinh sợ, đại đa số chủ trương hành sự thận trọng.
Tuy nhiên, hậu tru Thế Tông quyết định thần trình chống lại liên quân Lưu và Bắc Hán.
Khi hai bên giao tranh, Thế Tông tự mình xông pha tên đạn đốc chiến, đánh cho quân Bắc Hán tan tát.
Quân Lưu thấy vậy cũng vội vàng rút đi.
Kể từ sau đó, hậu tru cải cách chế độ quân sự, tinh giản cấm quân trung ương, bổ sung binh sĩ khỏe mạnh.
Trên phương diện nội chính, hậu tru Thế Tông chiêu phủ dân lưu vong,
giảm thiểu chưng thu thuế, ổn định kinh tế trong nước.
Hậu tru chỉnh đốn việc quan lại xử trị ở các địa phương, tuyển mộ văn nhân,
trừ bỏ chính trị võ nhân, khiến chính trị hậu tru trở nên trong sạch.
Năm 1955, Thế Tông giảm bớt chùa triển trong nước, thu được một lực đồng lớn dùng để chỉnh đốn kinh tế.
Sau khi ổn định được quốc nội, hậu tru Thế Tông có ý đồ thống nhất thiên hạ.
Ông lấy 10 năm mở mang thiên hạ, 10 năm dưỡng bách tính, 10 năm đạt tới Thái Bình làm mục tiêu.
Năm 1955, hậu tru Thế Tông xuất quân đánh tan quân hậu thục, chiếm được khu vực Tần Châu, Hán Trung.
Năm 1956, Thế Tông xuất binh đánh tan quân Nam Đường, giành được đất Giang Bắc, buộc Nam Đường xưng thần.
Năm 1959, ông lại xuất quân Bắc Phạt Triều Liêu nhằm thu phục Yên Vân thập Lục Châu.
Tuy nhiên, đang trong chiến dịch thì ông đột nhiên sinh bệnh, buộc phải đem quân về.
Không lâu sau, Thế Tông qua đời, ấu tử Sài Tông huấn kế vị, tức hậu tru cung đế.
Cung đế còn quá nhỏ tuổi, phải có 2 tể tướng là Phạm Chất và Vương Phổ Phò Tá.
Cục diện chính trị hậu tru vị thế không được ổn định, lòng dân nhân ngả.
Mọi người đều xôn xao bàn tán rằng sớm muộn Triệu Khung Dẫn cũng sẽ đoạt ngôi hoàng đế.
Triệu Khung Dẫn là một đại tướng đắc lực dưới quyền hậu tru Thế Tông,
từng theo thế Tông Nam chinh bắt chiến, lập nhiều chiến công.
Ông được giao cho trọng trách thống lĩnh cấm quân, đội quân tinh nguệ nhất của hậu tru.
Thời ngũ đại đã xảy ra nhiều trường hợp vũ tướng đoạt ngôi hoàng đế,
nên mọi người nghi nghị cũng không có gì lạ.
Năm 960, Triệu Khung Dẫn được các tướng dưới quyền ủng hộ, tôn lên làm vua.
Hậu tru cung đế phải nhờ ngôi.
Triệu Khung Dẫn lên làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tống, tức Bắc Tống,
đóng đô ở Biện Kinh, đó là Tống Thái Tổ.
Thời ngũ đại kéo dài hơn 50 năm, đến đây chính thức kết thúc.
Mặc dù vậy, Trung Quốc bây giờ vẫn chưa thống nhất.
Chưa nói đến các chính quyền còn cát cứ khắp nơi, ngay trong lãnh thổ hậu tru cũ,
một số tiết độ sứ cũng chưa thần phục nhà Tống.
Tống Thái Tổ lên ngôi không tới nửa năm, đã có hai tiết độ sứ khởi binh chống lại Triều Đình.
Ông phải đích thân dẫn quân đi đánh mới dẹp yên được.
Trong Triều, các lão tướng và các tiết độ sứ có quyền lực quá lớn.
Tống Thái Tổ lần lượt giải trừ binh quyền của họ, tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế.
Nhờ vậy mà Vương Triều Bắc Tống buổi đầu đã dần được ổn định.
Sau khi ổn định nội bộ, Tống Thái Tổ hăng hái thực hiện hoài bão dùng quân sự để thống nhất đất nước.
Ông nghe theo chiến lược của Triệu Phổ, tiến quân theo chủ, chương trước Nam sau Bắc,
trong vòng 13 năm thống nhất tất cả các khu vực phía Nam.
Năm 962, nhà Tống thôn tính Kinh Nam, Hồ Nam.
Năm 965, Tống Thái Tổ cho hai đạo quân chia làm hai đường đánh hậu thục.
Chưa tới 60 ngày thì vua hậu thục là Mạnh Sưởng ra hàng, hậu thục diệt vong.
Năm 970, Tống Thái Tổ sai phan Mỹ, đem quân đánh Nam Hán.
Vua Nam Hán là Lưu Sưởng đầu hàng, nhà Tống xác nhập Nam Hán.
Lúc Lưu Sưởng đến châu Thái Tổ, vua ban cho chén rượu.
Lưu Sưởng sợ quá, khóc lóc không dám uống vì khi làm vua, Lưu Sưởng hay giết đại thần bằng cách này.
Tống Thái Tổ cười lớn, sai người đem chén rượu lại rồi tự mình uống sạch.
Năm 975, Tống Thái Tổ sai tào bân đem quân đi đánh Nam Đường, dùng quân Ngo Việt phụ giáp công.
Vua Nam Đường là Lý Dục đầu hàng, Nam Đường mất.
Vua Ngo Việt là tiền hoàng thục lo sợ sức mạnh của nhà Tống, bèn tỏ ý quy phục.
Tống Thái Tổ bèn phong ông ta làm binh mã đại nguyên xoái.
Ngo Việt hoàn toàn sát nhập vào Tống.
Ngoài ra, Tống Thái Tổ còn ba lần đem quân đánh Bắc Hán ở Thái Nguyên
nhưng lần nào cũng có quân Liêu đến cứu nên không hạ được, phải lui về.
Như vậy, về cơ bản, Tống Thái Tổ đã khôi phục được phần lớn bản độ Trung Quốc,
chỉ còn lại Bắc Hán và 16 châu Yên Vân thuộc nhà Liêu.
Sau khi Tống Thái Tổ qua đời, năm 979, Tống Thái Tông Phái Phan Mỹ đánh đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán,
đánh nuôi viện binh Triều Liêu. Liêu kế nguyên đầu hàng, Bắc Hán mất.
Đến lúc này, thời kỳ thập quốc kết thúc chính thức tiến vào thời kỳ Triều Tống.
Tuy nhiên Yên Vân thập Lục Châu vẫn nằm trong tay Triều Liêu.
Không lâu sau khi diệt song Bắc Hán, Tống Thái Tông bất chấp phản đối của các đại thần,
từ Thái Nguyên tiến về phía Bắc nhằm thu phục Yên Vân thập Lục Châu.
Lúc đầu, quân Tống đánh hạ dịch Châu và chát Châu,
song lại thảm bại trong trận cao lăng hạ ở Yên Kinh và phải triệt thoái.
Đến lúc này, Trung Quốc lại tiến vào thời đại Tống Liêu đối lập.
