Chào Mừng Các Bạn Đến Với Kênh Thiên Hà TV Video Ngày Hôm Nay Của Chúng Ta: Hố Sâu Bí Ẩn Là Công Trình Được Tạo Ra Bởi Nền Văn Minh Ngoài Hành Tinh | Thiên Hà TV ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Thiên Hà TV là nơi chia sẻ những kiến thức thú vị và bổ ích về khoa học, khám phá vũ trụ, khám phá thế giới và những điều bí ẩn đầy cuốn hút. Nếu bạn yêu thích nội dung của kênh, đừng ngần ngại like, bình luận, chia sẻ video và đăng ký Thiên Hà TV để không bỏ lỡ những hành trình khám phá kỳ thú tiếp theo nhé! Tham gia hội viên của Thiên Hà TV để ủng hộ chương trình: / @thienhatv999 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Chúng tôi không sở hữu đầy đủ tài liệu được biên soạn trong video này. Nó thuộc về những cá nhân hoặc tổ chức xứng đáng được tôn trọng. Chúng tôi sử dụng theo: Tuyên bố từ chối trách nhiệm bản quyền, phần 107 của Đạo luật bản quyền năm 1976. "Sử dụng hợp pháp" được cho phép cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy. học bổng và nghiên cứu. Bản quyền âm nhạc thuộc: Audio Library - YouTube, storyblocks và elements envato Bản quyền hình ảnh họa thuộc: storyblocks và elements envato ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ #thienhatv #bian #khampha
Hố sâu từ lâu đã trở thành một chủ đề hấp dẫn trong vật lý học cũng như trong trí tưởng tượng của con người, được xem như một con đường tắt trong vũ trụ.
Hố sâu có thể kết nối hai điểm cách xa nhau trong không gian và thời gian, mở ra khả năng du hành liên hành tinh hoặc thậm chí là du hành thời gian.
Gần đây, một giả thiết gây sốc về hố sâu được đưa ra bởi nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng Kip Thorne, người từng đoạt giải Nobel.
Hố sâu có thể không phải là một hiện tượng tự nhiên ngẫu nhiên của vũ trụ, mà là một cấu trúc được tạo ra một cách có chủ ý bởi một nền phát minh tiên tiến ngoài vũ trụ.
Điều này đặt ra một câu hỏi lớn, liệu những hố sâu có thực sự tồn tại trong vũ trụ như những cánh cửa dẫn đến thế giới xa xôi,
hay chúng là sản phẩm của những thực tế có trình độ công nghệ vượt xa nhân loại?
Ý tưởng về hố sâu lần đầu tiên được đề xuất bởi Albert Einstein và Nathan Rosen vào năm 1935 khi họ nghiên cứu các hiện tượng không thời gian trong thuyết tương đối rộng.
Mô hình này được gọi là cầu Einstein-Rosen, mô tả một cấu trúc giống như đường hầm kết nối hai vùng không thời gian khác nhau.
Nói một cách đơn giản, nếu không thời gian có thể được hình dung như một tờ giấy phẳng thì hố sâu giống như việc tạo ra một nếp gấp trên tờ giấy đó,
giúp kết nối trực tiếp hai điểm mà không cần phải di chuyển quãng đường dài giữa chúng.
Trên lý thuyết, điều này có nghĩa là một phi hành ra có thể đi qua hố sâu để đến một vị trí cách xa hàng triệu năm ánh sáng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn.
Thậm chí, nếu hố sâu có thể kết nối các điểm ở những thời điểm khác nhau, nó có thể trở thành chìa khóa cho xu hành thời gian.
Dù hấp dẫn, nhưng hố sâu không hề đơn giản.
Theo các mô hình toán học, cấu trúc này cực kỳ không ổn định và có xu hướng sụp đổ ngay sau khi hình thành.
Để duy trì trạng thái mở của hố sâu, cần có một loại vật chất đặc biệt có một độ năng lượng âm, thường được gọi là vật chất kỳ lạ.
Chất này có tính chất hoàn toàn khác với vật chất thông thường mà chúng ta biết.
Trong cơ học lượng tử, một hiệu ứng có thể tạo ra hiện tượng năng lượng âm là hiệu ứng Casimir.
Nhưng mức độ của hiệu ứng này còn quá nhỏ để có thể duy trì một hố sâu.
Nhiều nghiên cứu đã cố gắng tìm kiếm bằng chứng về vật chất kỳ lạ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ quan sát thực nghiệm nào xác nhận sự tồn tại của nó.
Điều này đồng nghĩa với việc dù lý thuyết về hố sâu là hợp lý về mặt toán học,
nhưng khả năng nó xuất hiện một cách tự nhiên trong vũ trụ vẫn còn là điều rất mơ hồ.
Hố sâu có thể được chia thành nhiều loại khác nhau.
Hố sâu sóc sầu, dạng đơn giản nhất, có thể hình thành từ hai lỗ đen kết nối với nhau.
Tuy nhiên, loại hố sâu này không ổn định và sẽ sụp đổ ngay lập tức,
khiến cho bất kỳ vật chất nào cố gắng đi qua cũng bị nghiên nát bởi lực hấp dẫn khổng lồ.
Một loại khác là hố sâu có thể đi qua.
Về mặt lý thuyết, có thể duy trì trạng thái mở nếu được hỗ trợ bởi vật chất kỳ lạ,
cho phép con người hoặc tàu vũ trụ đi qua an toàn.
Đây là mô hình thường được khai thác trong các tác phẩm khoa học viễn tượng như bộ phim Interteller.
Loại hố sâu thứ ba là hố sâu thời gian.
Có thể không chỉ kết nối hai điểm trong không gian mà còn liên kết các thời điểm khác nhau,
mở ra khả năng du hành thời gian.
Tuy nhiên, khái niệm này lại kéo theo những vấn đề về nghịch lý nhân quả,
chẳng hạn như nghịch lý ông nội,
nơi một người có thể quay về quá khứ và làm thay đổi sự tồn tại của chính mình.
Những thách thức về lý thuyết và thực nghiệm khiến nhiều nhà khoa học tin rằng hố sâu không thể hình thành một cách tự nhiên.
Đây chính là lúc Kip Thorne đưa ra giả thuyết táo bảo,
nếu con người không thể tự tạo ra hố sâu thì liệu có một nền phân minh tiên tiến nào khác trong vũ trụ đã làm điều đó.
Theo Kip Thorne, nếu một nền phân minh đủ phát triển có thể kiểm soát không thời gian và năng lượng âm,
họ hoàn toàn có thể thiết kế và xây dựng những hố sâu ổn định để phục vụ mục đích di chuyển giữa các thiên hà
hoặc thậm chí xuyên qua các thời điểm khác nhau.
Điều này có thể giải thích tại sao nhân loại chưa tìm thấy bất kỳ hố sâu nào có thể đi qua.
Có thể vì chúng không phải là sản phẩm tự nhiên mà là các cấu trúc được chế tạo với sự kiểm soát chặt chẽ.
Dù chưa có bằng chứng thực hiện nhưng ý tưởng của Kip Thorne mở ra một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu vật lý hiện đại.
Nếu có những nền phân minh tiên tiến có khả năng thao túng cấu trúc không thời gian,
thì điều đó không chỉ có ý nghĩa trong việc tìm kiếm hố sâu mà còn liên quan đến các vấn đề lớn hơn
như khả năng du hành vũ trụ, giao tiếp với nền phân minh ngoài hành tinh hay thậm chí là bản chất thực sự của không thời gian.
Hơn nữa, nếu hố sâu thực sự là công trình nhân tạo,
thì chúng có thể là bằng chứng cho thấy có những thực thể trí tuệ khác trong vũ trụ đang sử dụng chúng để di chuyển
và điều đó có thể giúp giải thích hiện tượng chưa được hiểu rõ như tín hiệu bí ẩn từ không gian hay những sự kiện thiên văn bất thường.
Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là một giả thuyết và còn xa mới có thể chứng minh được.
Nhưng hố sâu có phải là cánh cổng xuyên không gian do nền phân minh tiên tiến tạo ra hay không?
Thì những nghiên cứu về chúng vẫn mang lại giá trị to lớn cho khoa học.
Chúng không chỉ giúp con người hiểu rõ hơn về bản chất của vũ trụ mà còn có thể mở ra những đột phá trong công nghệ tương lai.
Nếu một ngày nào đó con người có thể kiểm soát được năng lượng âm và tạo ra hố sâu ổn định,
thì điều đó sẽ là một bước tiến vĩ đại không chỉ trong ngành vật lý mà còn trong hành trình khám phá vũ trụ.
Hố sâu là một trong những bí ẩn lớn nhất của vật lý hiện đại.
Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng thái niệm này vẫn không ngừng kích thích trí tượng tuộc và thúc đẩy con người tìm kiếm những câu trả lời mới.
Nếu thực sự có những nền văn minh ngoài trái đất đủ tiên tiến để tạo ra và kiểm soát hố sâu,
thì vũ trụ có thể rộng lớn và kỳ diệu hơn rất nhiều so với những gì chúng ta từng nghĩ.
Lịch sử loài người được viết nên bởi năng lượng mà chúng ta sử dụng.
Thỏa sơ khai.
Chúng ta phải sử dụng cơ bắp.
Sau đó chúng ta đã học được cách kiểm soát lụa.
Chúng ta đã công nghiệp khóa thế giới bằng cách sử dụng than và dầu.
Rồi sau đó chúng ta tiến bước vào kỳ nguyên hạt nhân khi chúng ta học được cách phân hạch hạt nhân.
Qua từng bước, chúng ta đã tăng quy mô chưa từng thấy trong việc thu thập năng lượng và phát triển thành một sống loài tiên tiến.
Hiện tại, chúng ta đang dần chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo và nếu chúng ta may mắn,
năng lượng nhiệt hạch sẽ có thể được khai thác trong tương lai.
Nếu loài người không bị diệt vang bởi chiến tranh hay thảm họa từ thiên nhiên,
chúng ta rất có thể sẽ kiểm soát được toàn bộ nguồn tài nguyên đang có trên trái đất.
Khi đến giai đoạn đó, chúng ta có thể bắt đầu hướng ra khỏi trái đất
và vươn tới những vùng đất mới để phát triển và mở rộng.
Nhưng không gian rất khắc nghiệt và để xây dựng một nơi sinh sống cho nhân loại trong hệ mặt trời
sẽ cần sử dụng rất rất nhiều năng lượng.
May mắn thay, chúng ta biết nơi để tìm ra nguồn năng lượng đó.
Ngôi sao mẹ của chúng ta.
Mặt trời, nguồn năng lượng vô tận.
Một lò nung mạnh gấp 100 tỷ tỷ lần.
Lò phản ứng hạt nhân tốt nhất của nhân loại.
Nó tòa sáng với năng lượng bằng 1.000 tỷ quả bom nguyên tử mỗi giây.
Vậy làm sao chúng ta có thể sở hữu được số năng lượng này?
Không phải một ít, mà là tất cả.
Nếu chúng ta muốn thu thập được nhiều năng lượng nhất,
có thể chúng ta sẽ phải xây dựng một công trình to lớn, vĩ đại và đầy tham vọng bậc nhất trong vũ trụ.
Đó là quả cầu Dyson.
Một siêu công trình có thể ôm chọn một ngôi sao và lấy được toàn bộ năng lượng bằng ngôi sao tỏa ra.
Quả cầu Dyson là một cấu trúc giả tưởng,
bao phủ hoàn toàn một ngôi sao với khả năng khai thác gấn được toàn bộ nguồn năng lượng của ngôi sao đó.
Khái niệm này là đầu tiên được đưa ra trong cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Starbucks của Olaf Stephenson vào năm 1937.
Trong đó, ông đã miêu tả mỗi hệ mặt trời được bao bọc 11 màng 7 ánh sáng.
Thứ tập trung năng lượng mặt trời đang thoát ra cho việc ứng dụng thông minh.
Khái niệm này sau đó được phổ biến nhờ Freeman Dyson vào năm 1960.
Ông suy đoán rằng những cấu trúc như vậy sẽ là hệ quả logic của nhu cầu năng lượng gia tăng của một nền phân minh công nghệ
và sẽ là cần thiết cho sự sống lâu dài.
Ông đã đề xuất rằng việc tìm kiếm những cấu trúc như vậy có thể dẫn đến việc phát hiện ra sự sống thông minh tiến bộ ngoài trái đất.
Đối với sống loài thông minh, xây dựng quả cầu Dyson là một bước tiến lớn về công nghệ giống như khi tổ tiên của chúng ta khi phát hiện ra lửa.
Là sự khởi đầu để trở loài trở thành giống loài liên hành tinh.
Nó sẽ mở ra một thời đại mới trong việc khám phá và phát triển loài người trong vũ trụ với quy mô mà chúng ta khó có thể tưởng tượng được.
Vậy công trình quả cầu Dyson sẽ trông như thế nào?
Một lớp vỏ cứng bao bọc quanh mặt trời có lẽ không phải là một ý hay.
Vì công trình lớn như thế dễ bị phá hủy bởi các vật thể ngoài vũ trụ và vỡ vụn ra khiến các mảnh vỡ trôi đi hoặc rơi thẳng xuống mặt trời.
Một thiết kế khả thi hơn của công trình này là lồng Dyson đã tập hợp một lượng lớn vệ tinh pin mặt trời đi theo quỹ đạo có nhiệm vụ thu thập năng lượng từ mặt trời rồi chiếu nó đi về nơi nào đó.
Nó sẽ cung cấp cho loài người một nguồn năng lượng vô hạng.
Nhưng việc xây dựng nó sẽ không hề đơn giản.
Mặt trời rất lớn nên chúng ta cần rất nhiều vệ tinh.
Nếu mỗi vệ tinh rộng một km vuông, chúng ta cần 30 triệu tỷ vệ tinh để có thể bao bọc được hết mặt trời.
Ngay cả khi chúng ta chế tạo bằng chất liệu nhẹ nhất, chúng ta vẫn phải tiêu tốn đến 100 tỷ tỉ tấn vật liệu.
Và sau đó, ta lại cần năng lượng để chế tạo các vệ tinh và lại cần thêm năng lượng để đưa chúng vào quỹ đạo quay quanh mặt trời.
Và trên hết, chúng ta cần thiết lập một cơ sở hạ tầng cố định trong vũ trụ để bắt đầu quá trình xây dựng.
Giả sử con cháu chúng ta có khả năng giải quyết những điều trên và chúng muốn xây dựng siêu công trình này,
chúng ta có thể sắp xếp các thử thách này thành 3 loại chính đó là vật liệu, thiết kế và năng lượng.
Để có được số vật liệu thôi cho công trình, chúng ta sẽ phải khai thác cả một hành tinh.
Trong các hành tinh thì sao thủy là ứng cử viên tốt nhất vì nó là hành tinh gần mặt trời nhất và có chứa rất nhiều kim loại.
Gần mặt trời sẽ đồng nghĩa ít tốn năng lượng hơn để di chuyển vệ tinh vào quỹ đạo.
Và sao thủy không có bầu khí quyền và trọng lực ở đây chỉ bằng một phần ba trên trái đất.
Vì thế sẽ dễ dàng hơn để phóng các vật liệu vào không gian so với ở trái đất.
Tiếp theo chúng ta nên xem xét thiết kế của vệ tinh. Càng đơn giản càng tốt.
Các tấm pin mặt trời truyền thống thì quá phức tạp và có tuổi thọ ngắn.
Các vệ tinh chúng ta cần phải hoạt động mà không cần sửa chữa hoặc can thiệp trong thời gian dài ngoài vũ trụ.
Và chúng cần phải rẻ để sản xuất.
Vậy phương án khả thế nhất đó là một tấm gương khổng lồ.
Những tấm gương này sẽ tập trung ánh sáng đến các trạm thu năng lượng.
Trung tâm giống như các nhà máy điện mặt trời trên trái đất.
Để chế tạo và phóng chúng một cách hiệu quả, chúng cần phải cục nhẹ.
Đơn thuần là một tấm kim loại sáng bóng gắn với một số thiết bị hỗ trợ.
Và cuối cùng chúng ta cần năng lượng để xây dựng và phóng chúng lên vũ trụ.
Khai thác một phần của cả hành tinh rồi đưa chúng lên không gian sẽ tốn một lượng năng lượng khổng lồ.
Giả sử như chúng ta sử dụng toàn bộ năng lượng khóa thạch và uranium trên trái đất một cách hiệu quả tuyệt đối.
Ta chỉ có thể phóng khối lượng tương tương với núi Everest vào không gian, một thành tựu quá nhỏ bé so với việc xây dựng siêu công trình này.
Để có được năng lượng để xây dựng được quả cầu Dyson,
thì chúng ta rất có thể sẽ cần một lượng năng lượng được sản xuất ra từ chính công trình đó.
Nhưng không sao, trên sao thủy có rất nhiều ánh nắng nên chúng ta có thể bắt đầu luôn công việc.
Nhân loại tốn kém rất nhiều để duy trì sự sống và rất nhạy cảm trước tác động của môi trường.
Vì thế chúng ta cần phải tự động hóa chúng càng nhiều càng tốt.
Kế hoạch hay nhất là chúng ta sẽ có một nhóm người nhỏ điều hành và kiểm soát đội quân máy móc một cách tự động hóa và để chúng làm việc đó.
Quá trình này cần bốn thành phần công nghệ chính, bộ thu năng lượng mặt trời, thiết bị đào mỏ, lò luyện kim và thiết bị phóng.
Các bộ thu năng lượng mặt trời sẽ cung cấp cho chúng ta năng lượng mà chúng ta cần để khai thác hành tinh.
Để bắt đầu, chúng ta có thể triển khai khoảng 1 km vuông các bộ thu này, có thể là gương hội tụ hoặc viên năng lượng mặt trời truyền thống.
Chúng sẽ cung cấp năng lượng để chúng ta chạy máy đào, để chúng khai thác bề mặt sao thủy và các lò luyện kim, nơi lọc nguyên vật liệu cần thiết để biến chúng thành các vệ tinh.
Để đưa các vệ tinh vào không gian, chúng ta cần một giải pháp sáng tạo và hiệu quả.
Tiên lửa thì quá đắt và rất khó để tái sử dụng.
Thay vào đó, ta sẽ dùng một đường băng điện tử, sử dụng một thanh dây dài với từ trường cực mạnh để bắn các vệ tinh với tốc độ cao vào cũi đảo.
Các vệ tinh sẽ được gớp chặt lại rồi mở ra như một tờ giấy origami khổng lồ khi đã ở trên cũi đảo, giống với thiết kế của siêu kính viễn vọng Remington.
Từ lúc này, chúng ta có thể sử dụng lợi thế đó để phát triển theo cấp số nhân bằng cách sử dụng năng lượng từ các vệ tinh đã phóng để phát triển các cơ sở hạ tầng trên sao thủy và phóng thêm các vệ tinh mới nhanh hơn và nhanh hơn nữa.
Mỗi vệ tinh cung cấp năng lượng để xây dựng một vệ tinh khác, chúng lại hoạt động cùng nhau để xây dựng những vệ tinh kế tiếp 4 trở thành 8, 8 trở thành 16
Và cứ thế tiếp tục chỉ sau khoảng 60 lần nhân trôi, mặt trời sẽ được bao phủ hoàn toàn bởi các tấm pin mặt trời. Và quá trình xây dựng có thể diễn ra rất nhanh chóng.
Nếu một km vuông pin mặt trời được xây trong một tháng, thì ta sẽ hoàn thành dự án chỉ trong vòng 10 năm.
Đó là trong trường hợp cơ sở hạ tầng trên trái đất theo kịp với sản lượng năng lượng ngày càng tăng nhanh.
Ngay cả việc thu thập 1% năng lượng từ mặt trời, thì đó sẽ là sự thay đổi không thể tin được trong nguồn năng lượng của chúng ta.
Về cơ bản, chúng ta sẽ có một nguồn năng lượng vô hạn để thực hiện mọi dự án quét hệ mặt trời, xây dựng thuộc địa ngoài trái đất,
cài tạo các hành tinh thành nơi có thể sinh sống hay xây dựng thêm nhiều siêu kiến trúc khác hoặc thậm chí du hành từ các vị sao khác.
Đó có thể là một khởi đầu của một nền văn minh liên thiên hạ.
Dựa vào trên vật lý, điều này không những không thể mà lại rất dễ dàng.
Đó là một quá trình đơn giản và đó là một bước tiến cần thiết cho bất kỳ sống loài nào muốn phát triển ra quy mô vũ trụ.
Đến nỗi các nhà khoa học nghĩ rằng, có các công trình quả cầu Dyson khác đã xuất hiện đâu đó trong giải ngân hạ của chúng ta.
Vào năm 2013 đã xảy ra một sự việc gây chấn động NASA.
Từ trong dữ liệu của kính viễn vọng không gian kép lợt được phóng lên trước đó,
nhà thiên văn học Tabetha Poisson đã để ý tới một vị sao kỳ lạ.
Nó có thể thỉnh thoảng trở nên mở nhạt rồi lại trở nên giựt sáng,
ngay cả khi giảm độ sáng cũng không cố định, có khi kéo dài 5 ngày, có khi lại mười mấy ngày.
Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng do máy bị hỏng.
Vì về lý mà nói, cứ cho là các hành tinh chặn ánh sáng từ các vị sao
thì cũng phải theo quy luật lúc mở lúc sáng.
Nên có thể nói, nguyên nhân khiến cho sao Tappi bị tối mở đi hoàn toàn không phải là do những hành tinh xung quanh nó.
Kinh ngạc nhất là năm 2013, sao Tappi đã đột nhiên giảm mạnh tới 20% độ sáng.
Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời là sao Mộc,
cũng chỉ có thể chặn 1% tiên nắng mặt trời mà sao Tappi cũng có kích thước tương tương mặt trời.
Điều này cho thấy, vật có thể che được sao Tappi chắc chắn vô cùng to lớn.
Trong tự nhiên, không thể có vật như thế tồn tại.
Vì vậy cuối cùng, Tabata đã thừa nhận nguyên nhân khiến sao Tappi bị mở tối đi,
Hiện tại, chưa có gì chắc chắn rằng nhân loại sẽ tiến tới được như thế.
Hiện tại chúng ta tập trung quá nhiều vào lợi ích chính trị ngắn hạn,
và xung đột chính trị sẽ là vô nghĩa qua thời gian.
Nhưng nếu chúng ta sống sót sau những thử thách đã khơi ra,
chúng ta có khả năng trở thành giống loài đầu tiên trong vũ trụ,
tạo ra một công trình có quy mô tương tương với một ngôi sao.
Nếu chúng ta quyết định làm điều đó,
giới hạn duy nhất còn lại sẽ chỉ là trí tưởng tượng của chính chúng ta.