Đây Chính Là VỊ VUA BÙ NHÌN SA ĐOẠ Bậc Nhất Lịch Sử VN Triệu Người Bàng Hoàng ! | Triết Lý Tinh Hoa

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
#nhanguyen #vuakhaidinh #vua #chua #hoangde
#Su7 #Sử7 #Su7VietNam #XuavaNay
Mô Tả Nội Dung: Đây Chính Là VỊ VUA BÙ NHÌN SA ĐOẠ Bậc Nhất Lịch Sử VN Triệu Người Bàng Hoàng ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày
===================
vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn nhân gia đìnnh
Không phải Bảo Đại, Khải Định mới là ông vua bù nhìn xa đoạ mật nhất trong lịch sử Việt Nam khiến triệu người ngỡ ngàng.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tinh Hoa
Quý vị thân mến, Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ phong kín Việt Nam với 13 đời vua cai trị trong 143 năm.
Người ta vẫn thường biết đến vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là vua Bảo Đại, nổi tiếng đào hoa, ăn chơi tiêu tiển như nước.
Tuy nhiên ít ai biết rằng Bảo Đại thực chất không phải ông vua lắm tai nhiều tiếng nhất của triều đại này
mà danh hiệu đó phải thuộc về cha của Bảo Đại là vua Khải Định, ông vua bù nhìn, chơi bời xa đoạ,
thậm chí còn được hậu thế biết đến với lối sống kỳ quạc nhất lịch sử.
Vậy cụ thể vua Khải Định là người như thế nào, vị vua này có đời sống xa đoạ, xa xao?
Hãy cùng Chiết Lý Tinh Khoa đi tìm hiểu ngay sau đây.
Quý vị thân mến, vua Khải Định là con trưởng của vua Đồng Khánh và Hòa Tần Sương Thị Thục,
tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bảo Đảo, sinh ngày 8 tháng 10 năm 1885 tại Kinh Đô Huế.
Sau nhiều biến động của thời kỳ Pháp thuộc, ông lên ngôi vua năm 1916 đến năm 1925.
Sau thời gian trị vì đất nước thì nhà vua mất vào năm 40 tuổi.
Đến nay, dân gian Huế vẫn còn văng vẳng câu vẻ, tiếng đồn Khải Định nịnh Tây,
nghề này thì lấy ông làm tiên sư. Câu thơ văng vẳng đó hàng khiến cuộc đời của vua Khải Định
trở nên trớ trêu, mỉa mai hơn trong mắt hậu thế. Vậy vì đâu nên nỗi?
Vua Khải Định được xem là câu chuyện ly kỷ. Mùng 7 tháng 5 năm 1885, Kinh Đô Huế thất thủ,
vua Hảm Nghi đã tháo chạy sang vùng nối Quảng Bình, Hà Tĩnh và ra biển tiêu gọi Cần Phương kháng Pháp.
Lúc này, người Pháp chiêu dụ vua Hảm Nghi không thành công nên đã đưa tự đức lên nối ngôi vua
và lấy hiệu là Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh tại vị được 3 năm từ năm 1885-1889 thì mất khi mới được
25 tuổi. Lúc này, vua Khải Định mới được 3 tuổi đang còn nhỏ nên không được lên làm vua nối ngôi cha.
Vì vậy, Hoàng tử Bửu Lân được tôn lên làm vua và lấy hiệu là Thành Thái. Vị vua này có tư tưởng
nên tới năm 1907 cũng bị gây áp lực buộc nhà vua thoái vị. Sau khi vua Thành Thái thoái vị
thì Hoàng tử Vĩnh San được lập lên làm vua lấy hiệu là Duy Tân. Cũng có tư tưởng sống như cha. Năm 1916
khi mới 16 tuổi, vua đã làm 2 cuộc cách mạng nhưng không thành công và bị bắt đi đẩy cùng phụ hoàng
sang châu Phi. Khi vua Thành Thái bị phế chuất, người Pháp muốn đưa con trai của Đồng Khánh là Bửu Đảo lên
ngôi, với hy vọng sẽ lại có được một ông vua biết nghe lời bọn thực dân xâm lược. Ý định này phấp phải
sự phản đối mạnh mẽ từ Hoàng tộc nhà Nguyễn. Lý do là Bửu Đảo lúc ấy đã lớn tuổi nhưng chưa có con,
sau này sẽ gây khó khăn trong việc chọn người kế thừa ngôi bóng. Tuy nhiên vẫn may đến với Bửu Đảo
khi thời gian sau đó ông sinh được con trai. Hoàng tộc nhà Nguyễn không có lý do phản đối nữa. Bửu Đảo
được lên làm vua và lấy niên hiệu là Khải Định. Theo sách Chín đời Chúa, Mười ba đời vua Triều Nguyễn,
ngay từ khi còn nhỏ Khải Định đã nổi tiếng chơi bời, chẳng chịu học hành, chỉ thích bài bạc. Đến năm 22 tuổi,
khi mà đã được phong làm Phụ Hóa Công, Bửu Đảo vẫn ngày đêm đốt tiền ở các sòng bạc tụ điểm ăn chơi. Có
lần vì thua bài, ông phải gán lại cho chủ sòng ba người lính hậu. Khải Định lấy người vợ đầu tiên là
con gái của trọng thần Trương Như Cương khi chưa lên làm vua. Nức tiếng ham mê cửa bạc, bổng lộc không đủ
để ăn chơi, Khải Định nhiều lần bắt vợ về xin tiền bố mẹ để ông ta ăn chơi chuột nợ. Vì thương con gái,
ông bà Trương Như Cương phải bấm bụng chiều theo, hỏa mãn mọi yêu sách của chàng rể Vương Tôn. Thế thế, Phụ Hóa Công,
đinh ninh của cải, nhà nhạc xa là vô tận nên càng cờ bạc ăn chơi đã đời. Có chàng rể vòi tìm mãi
lại không sinh được con, Khải Định bị ngay chính bố mẹ vợ khinh thường ra mặt. Khoan Đại Thần, đồng thời là bố
vợ Trương Như Cương, có lần giận quá đã gọi ông ta là đồ bất lực. Một hôm, vào khoảng năm 1915,
Phụ Hóa Công nảy ý định mở một chén bạc lớn để thử thời vận. Khi thấy công khôi lớn,
nhưng trên chiếu đã sạch tiền, các con bạc chặn tay công lại, đòi phải trưng đủ tiền chung mới được mở chén.
Thâm tâm công đã muốn mở liều, không ngờ bị lật tẩy. Một phần vì muốn ăn to, phần vì sợ mất mặt,
Phụ Hóa Công liền bảo vợ về nhà xin tiền. Bà phủ thiếp họ Trương đau đớn vì thấy đức ông chồng
đã bất lực mà chẳng còn biết liêm sỉ, bà dùng rằng không muốn đi. Phụ Hóa Công nổi nóng la lối
ông xòm, dọa sẽ có thái độ với bà. Cuối cùng, bà đã đi và đó cũng là lần cuối cùng bà về nhà
xin tiền cha mẹ cho chồng cử bạc. Sau khi khải định lên ngôi, bà phụ họ Trương vì chán nàn nên
đã bỏ đi tu. Đến Làng Thanh Thủy xựng một môi chùa tại Độn Xầm, Làng Thanh Thủy, huyện Hương Thủy,
cách kinh thành Huế chừng 3 km về phía nam để tu thiền, lấy pháp hiệu là Đạm Thanh,
biệt hiệu là Tuyết Nhan, ngày đêm bà niệm vật đầy quên muộn phiền. Theo quốc sử quán Chửu Nguyễn,
vua khải định có tất cả 12 bà vợ nhưng chỉ có duy nhất một con trai, tức vua Bảo Đại sau này.
Ngoài việc ăn chơi cửa bạc ngày đêm, vua khải định còn nổi tiếng với phong cách ăn mặc lỗ lăng.
Trong thất biểu trần, Phan Chu Trinh đã trách vua khải định 7 tuổi, trong đó có tuổi phục sức lỗ lăng.
Sau khi lên ngôi, khải định thay đổi y phục, bản thân ông ta lại tự thiết kế trang phục cho mình
với những kiểu mẫu Tây không ra Tây, ta chẳng giống ta. Điều này khiến vua bị xem như một con dối.
Không tử bỏ thói ăn chơi hưởng lạc, tật xấu này còn được tăng lên nhiều lần khi khải định lên làm vua,
nắm nhiều tiền của trong tay. Về điều này, sử sách chép rằng, việc tiếp xúc với Tây Phương trực tiếp là
đã làm ảnh hưởng lớn đến cảm quan của vua khải định. Trong việc ăn mặc của vua, ảnh hưởng này thấy rất rõ.
Chỉ có bộ phẩm phục tại triều là thuộc về lễ nghi truyền thống, có tính cách thiên liêng nên vua không dám đụng tới.
Còn tất cả các thứ khác thì vua chế tác thoải mái. Vua đã tạo mẫu, vẽ kiểu, thiết kế, làm ra những bộ trang phục
riêng cho mình dùng trong lúc thiết chiều, đi vi hành, du lịch, thường phục hàng ngày và cho cả các quan lại.
Vua chuộng và coi trọng việc trang điểm, phối hợp màu sắc điểm suyết bằng cách đính các biên ngọc quý,
vàng bạc kim cương trên áo quần, giày, ủng, mũ nón, bao kiếm. Vua chế ra một số y phục long bào,
vượt qua những mẫu mã quy định truyền thống của các vua chúa thời trước. Chỉ cần nhìn xem một số hình ảnh và tự động
của Hoàng đế Khải Tịnh là chúng ta có thể thấy sự khác biệt đó rất rõ ràng, nhất là áo bào, cổ áo, gũ vai,
chóp mũ, quay nón, quân chương, kiếm, giày ống. Điển hình là bộ võ phục, chiếc áo dài được may chẽn nhưng là áo vua
nên phải thuộc loại gấm phóc, theo dòng vẽ phượng khác hơn người thường, rồi cho gắn thêm hai cái gũ vai,
còn gọi là khiên chương, là thứ thường thấy trên lễ phục của sĩ quan Pháp. Ngoài ra, thay vì mang hya, vua đi ủng ra
lãng bóng, có trang trí hoa văn bằng vạc, ngang lưng mang đai cần ngọc, mang kiếm pháp, đeo bao tay trắng, quần tay trắng,
nhưng đầu vẫn bị khăn đóng và có khi đội nón chóp. Cái nón này lượt bằng lông vũ, mọc lụa vàng, có chóp bằng vàng.
Vua cũng có một cái nón chóp khác màu đen. Không dừng lại ở đó, vua còn cải cách cả cách ăn mặc của các cận thần,
chẳng hạn với thị vệ thay vì mang hya, vua cho mang giày ống. Đồng phục của thị binh cũng được đổi mới,
bỏ mặc áo chấn thủ, chân đất quấn xà cạp, mà được mặc áo nỉ đỏ, mặc quần trắng, đi giày, đội nón kiểu Tây.
Có thể nói, chính lối phục sức nửa tay nửa toàn này cùng với hai bàn tay mang tám chiếc nhẫn mặt ngọc
đã làm cho nhiều người đương thời xè biểu bài bác vua Khải Định.
Hơn nữa, Khải Định biết thị là con sối trong tay thực dân Pháp, ông ta không được quyết định việc chính sự nào,
tất cả đều so Tòa Khâm Sư Pháp quyết định. Vua Khải Định chỉ biết mũ ni che tay, ăn chơi, phung phí.
Năm 1918, Vua Khải Định ra Hà Nội giữ lễ khai trương Vườn Bách Thú theo lời mời của Thống xứ Bắc Kỳ.
Nhân dịp này, sĩ vua Bắc Hà đã làm thơ, chê diễu vua và đám quan lại đầu hàng thực dân Pháp,
chẳng khác gì những con thú bị ngoại bang giam sử tại Hà Thành.
Khải Định sang Pháp giữ hỗ trợ thuộc địa ở Marseille năm 1922,
đã làm dưới lên nhiều hoạt động của người Việt Nam yêu nước nhằm phản đối ông.
Thời điểm này, Chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh đã gửi một bức thư dài trách Khải Định mảnh tội,
hay còn gọi là thất điều trần.
Nội dung bức thư có lể lẽ nghiêm khắc buộc Khải Định phải thoái vị nhường quyền lại cho quốc dân
và kể về tội nhà vua đã làm và đáng tội chém đầu.
Lãnh tụ Nguyên Ai Quốc viết vỡ kịch Con Sồng Tre và Chuyện Ngắn Phi Hành
để đả kích châm điếm ông vua tay sai hèn kém.
Tháng 9 năm 1924, Khải Định tổ chức lễ mừng thỏ 40 tuổi của mình hết sức linh đỉnh tốn kém.
Vua Ban Sụ phải xây dựng trước cửa ngõ môn một lầu ba san và một lầu hai san khác
để trưng bày các lễ vật cung tiến của hằng thân quốc thích.
Chưa thỏa mãn, vua còn cho xây thêm sáu đọc lâu để trưng bày phẩm vật tiên cống từ quan lại địa phương.
Vậy là những người được sự lễ tha hồ về tỏ lòng thành với vua bằng những món đồ xa hoa, lãng phí.
Hành động này của ông vua vù nhìn khiến nhân sĩ cả nước hết sức căm giận.
Sau đại lễ tốn kém của Khải Định, Thực dân Pháp lê cớ ăn thuế thêm 30%,
sưu cao thuế nặng đánh tận xương tủy quần chúng, nhân dân ai cũng oán trách.
Nghe lời Thực dân Pháp vô điều kiện, Khải Định được triều truộng.
Tất cả yêu cầu chứng đáng, phục vụ thói ăn chơi xa xỉ của ông ta đều được người Pháp tạo điều kiện.
Theo sách Chín đời Chúa, 13 đời vua Triều Nguyễn,
trong lịch sử Việt Nam Khải Định chính là ông vua để lại nhiều công trình phục vụ thói ăn chơi vô độ của mình nhất.
Tiêu biểu trong số đó là ứng lăng, tức là lăng tầm của chính ông vua này.
Lăng Khải Định được khởi công xây dựng vào ngày 4 tháng 9 năm 1920
do tiền quân đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy.
Éo dài suốt 11 năm mới hoàn thành bởi con trai nhà vua là Hoàng Bế Bảo Đại.
Vua Khải Định băng hà sau 5 năm khi bắt đầu xây dựng lăng tầm.
Năm 1920, sau khi các thầy địa coi đất và chọn được địa điểm,
triều đình đã huy động các tù nhân và binh lính cho mở đường, phá núi, làm tọa đạo,
tạo ra mặt bằng xây dựng ở miền phía Tây của một ngọn núi của vùng Châu Chữ.
Lăng chính ứng lăng được xây dựng trên một quả đồi thấp nằm ở vị trí phía trước.
Hai bên có núi chóc vùng và kim sơn với ý nghĩa tả thanh long, thưỡng bạch hổ.
Ngoài ra còn có khe suến chảy từ trái qua phải tên Châu Ê làm thủy tụ, lấy tên là Minh Đường.
Ngoài ra vua Khải Định đã đổi tên núi Châu Sơn thành ứng Sơn,
nên lăng đã được gọi tên theo ngọn núi là ứng lăng.
Lúc bấy giờ, vùng núi Châu Chữ, nơi có khe Châu Ê chảy qua là vùng nước độc, đầy lăm sơn chướng khí.
Nhiều tù binh và binh lính lên làm việc ở đây đã trở bệnh nặng và bị thương, và có nhiều người đã không qua khỏi.
Để xây dựng lăng, vua Khải Định đã cho thuyền sang Nhật Bản, Trung Quốc mua đồ thủy tinh, đồ xứ,
cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói.
Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ,
cho phép ông ta tăng thuế điền 30% trên cả nước, và để lấy số điền đó làm lăng.
Hành động này của vua Khải Định đã bị lịch sử lên án gây gắt.
So với các lăng tầm của những vị vua khác, lăng vua Khải Định có dị tích khiêm tốn hơn.
Chỉ với kích thước 117m x 48,5m, hình như lại mất nhiều chi phí, nhân công và tốn nhiều thời gian để hoàn thành.
Lăng vua Khải Định là sự kết hợp tinh tế của kiến trúc văn hóa phương Đông và phương Tây,
được thiết kế công phu, tinh xảo và lộng lẫy.
Theo đó, sau một thời gian ốm nặng, Khải Định qua đời vào ngày 6 tháng 11 năm 1925,
thọ 41 tuổi, sau 15 năm làm vua triều Nguyễn.
Nghe tin Khải Định qua đời, nhân sĩ trong nước làm thơ rằng
Ông vội đi đâu, bỏ bạc, bỏ tiền, bỏ cơm, bỏ rượu, bỏ con hát Thầy Tăng, bỏ hết phong lưu trong một kiếp.
Nhiều người thắc mắc tại sao trong câu thơ lại có từ Thầy Tăng,
hỏi mãi mới hiểu thâm ý của các cụ nho rằng Thầy Tăng nó lái lại là Thằng Tây.
Quý vị thân mến, sinh thời, ngoài lối ăn chơi xa xỉ và phung phí,
Vua Khải Định còn được biết đến với những sở thích, lối sống có phần kỳ quặc,
trong đó có căn bệnh sợ đàn bà.
Khải Định được sân san đồn đại, có tình đồng bóng, không thích gần đàn bà.
Tuy rằng có 12 bà vợ, có con trai duy nhất là Vua Bảo Đại,
nhưng đã gây ra nhiều đồn đại tranh cãi và tới bây giờ vẫn là một mí ẩn.
Khải Định là một trong hai vị vua mang tiếng bất lực,
nghĩa là kém khả năng trong tình dục ân ái.
Sử sách chép rằng Khải Định là vị vua thứ 12 của nhà Nguyễn,
chỉ vì từ năm 1916 đến năm 1925 mắc căn bệnh bất lực,
không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông.
Tuy nhiên, vua vẫn có tất cả 12 bà vợ,
có một con trai duy nhất là Nguyễn Phúc Vĩnh Thủy,
chính là Vua Bảo Đại, con bà Hoàng Thị Cúc,
và chuyện này đã gây ra nhiều đồn đại.
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu tâm lý hiện nay,
Vua Khải Định không phải bất lực mà là không thích gần đàn bà.
Suốt 10 năm làm vua, ông đã nuôi Nguyễn Đắc Phọng làm thị vệ,
ban đêm ông ôm Phọng mà ngủ.
Nhờ sự kheo léo trong việc phục tùng này
mà ông Phọng đã được thăng tiến đến ngũ đằng thị vệ.
Những buổi sáng phải ra điện cần tránh thiết chiều,
các bà đứng hai hàng bái kiến đón chào.
Ông liền dùng tay ôm gọn hai phạt áo bào sát vào người,
để khỏi phương vào đàn bà.
Điều này được ghi lại trong cuốn Chuyện Nội Cung Các Vua Nguyễn,
ông Nguyễn Đắc Xuân có viết.
Những buổi sáng phải ra điện cần tránh thiết chiều,
các bà đứng hai hàng bái ít đón chào.
Vua liền dùng hai tay ôm gọn hai phạt áo bào sát vào người,
để khỏi phương vào đàn bà.
Chưa kể, vào ngày lễ hội tổ chức những buổi vũ múa do cung tần mỹ nữ đàm trách,
vua Khải Định nhìn những màn mô vũ một cách buồn chán.
Vua Khải Định vốn không ưa phụ nữ,
tuy ham xem hát vũi nhưng nhà vua không muốn xem phụ nữ xiễn.
Đoàn tuần ngự chỉ toàn nam giới,
vặp cảnh cần có vai đào thì nam đóng xả nữ.
Vì thế, đoàn tuần thanh bình dưới chiều Khải Định
có nhiều nghệ nhân đóng vai đào rất giỏi.
Do không thích gần đàn bà,
nên tuy nhà vua vẫn phải tuyểm một số bà phi
nhưng rất lạt lẽo trong tình chăn gối.
Có lúc, ông còn bảo quan hãy dẹp những màn vũ ấy
và thay thế vào những màn vũ công nam.
Vua Khải Định đấy làm thích thú,
còn xa lệnh những vũ công nam cần phải tha phấn,
đánh má hồng và tô môi son đỏ,
thậm chí cho họ mặc áo quần màu lè lè.
Vua Khải Định cũng thế, thích ăn mặc đẹp,
khiết kế những áo quần nhiều màu sắc,
mang nhiều nữ trang trên người và độ non lá.
Nhiều người biết Khải Định bất lực,
chính vua cũng nhận điều đó,
thế nhưng các quan đại thần thì vẫn muốn
tiến công con gái mình vào làm vợ vua.
Khó lòng trúng từ, vua thường nói với các quan rằng
nội cung của chẩm là một cách chùa,
ý nói không có chuyện ái ân tình dục,
ai muốn tu thì cứ vào.
Sau đó, dù Khải Định không gần gũi đàn bà,
ông vẫn có đủ tăng công lực viện
như là các vua tiền triều.
Khải Định có mấy chục bà vợ
nhưng không bà nào có con.
Tuy nhiên vào một ngày khi vừa dùng thuốc,
vua nổi cơn ham muốn,
lúc ấy không có vợ kế bên,
nên vua liền phan lộc cho một cung nữ gần đó,
cung nữ tên Hoàng Thị Phúc,
sau đó có bầu và sinh ra hoàng tử Viễn Thụy.
Cánh phi tần bị bỏ sơi,
ở triều đại nào cũng có,
thế nhưng mỗi người một hoàn cảnh khác nhau.
Bà Phi này đau khổ không hẳn vì kém nhan sắc
hoặc nhà vua có quá nhiều vợ
mà bởi chính Khải Định chỉ ưa đàn ông.
Nhiều bà Phi phải chấp nhận cảnh
đóng kịch làm vợ vua như thế
để được hưởng vua quý sanh vọng,
với ý nghĩ mình sẽ là mẹ đích thực
của hoàng tử Viễn Thụy
vì bà tử cung tuy là mẹ sinh
nhưng là con nhà bình dân
lại không được cưới hỏi theo nghi lễ triều đình.
Có lẽ đọc được ý nghĩ đó
nơi bà ân Phi
mà ngày vua Khải Định mất
đáng lẽ ông phải chăn chối
trao xương hòm chìa khóa lại cho bà
thì Khải Định đã chuyển trao cho bà tử cung
với lời di ngôn vắn tắt
tử quý mẫu vinh
ý nói vĩnh thị được quý trọng
thì bà tử cung được vinh hiển.
Việc làm này
làm cho ân Phi họ Hồ
tức giận muốn phát điên
và sau đó bà điên thật.
Cuối cùng bà đã chết giả
trong một tu viện thiên chú sáu.
Nghi vấn vua Khải Định
không phải là cha ruột vua Bảo Đại.
Nguyễn Phúc Vĩnh Thị
sinh ngày 22 tháng 10
năm 1913 tại Huế.
Cha của Vĩnh Thị
là Nguyễn Phúc Bù Đảo tức vua Khải Định
mẹ là Hoàng Thị Cúc
tức bà tử cung sau này.
Các vị hoàng thân quốc thích
đã kể thêm về điều đó
cho nhà nghiên cứu Huế là ông Nguyễn Đắc Xuân
và ông Xuân đã viết lại như sau
Vua Đồng Khánh
Vua Đồng Khánh sinh được sáu trai và hai gái
nhưng chỉ nuôi được một trai là Bù Đảo
và hai gái là Ngọc Lâm, Ngọc Sơn.
Vua Đồng Khánh với bà Thánh Cung
và bà Tiên Cung
hẳng hy vọng Bù Đảo
sẽ là người nối rõi tông đường
bảo vệ được những gì
vua Đồng Khánh đã phun tắp được
trong thời gian ở Ngài Vàng.
Khi Bù Đảo đến tuổi lập phủ thiếp
hai bà vui mừng đi cưới con
quan đại thần Trưng Nhi Cương
cho con trai mình ngay
với hy vọng làm sể họ Trương
vừa có thể lực vừa được của cải
biết đâu trở đất đoái hoài
Bù Đảo được chọn làm vua
nào ngờ vợ chồng Bù Đảo
ăn ở với nhau không hạnh phúc
ngày đêm Bù Đảo chỉ ham thích đánh bạc
không ngó ngàng chi đến
bà vợ mới cưới
khi vợ chồng gặp nhau
Bù Đảo chỉ bàn đúng một việc
là làm sao xin gia đình họ Trương cho thật nhiều tiền
vợ Bù Đảo rất buồn
nhiều lần phải khóc lóc với cha mẹ
mới xin được đủ tiền cho chồng tiêu xài
lúc đầu
gia đình họ Trương còn giữ uy tín
cho ông Hoàng Phụ Hóa Công
đây là tước của Bù Đảo lúc chưa làm vua
nhưng về sau
Bù Đảo cứ ép vợ về lấy tiền hoài
Trương xa bất bình
nhất móc chẳng rể là đồ bất lực phô hậu
biết chuyện con trai
duy nhất của mình không có hậu
hai bà Thánh Cung và Tiên Cung buồn bã
thất vọng não nể
suốt ngày than thở cùng nhau về hậu phận
và cứ thế
nỗi lo lắng trồng chất
làm cho đêm mất ngủ, ngày biến ăn
sức vóc của hai bà ngày càng xa suốt
thiều tụy
tuy ham mê cỡ bạc
nhưng Bù Đảo là đứa con có hiếu
thấy hai mẹ mình muốn đau như thế
ông cũng phải lo
cũng theo lời kể của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân
thì Bù Đảo đem nỗi lo của mình
tâm sự với một người trong khoảng tộc
thuộc bậc ông
nhưng lại cùng trăng lứa
và chơi rất thân với Bù Đảo
đó chính là ông Hường Đê
để giúp cháu
ông Hường Đê đã bày cho Bù Đảo
dựa lên câu chuyện như sau
Phụng Hóa Công vốn là một người
bất lực nhưng một hôm
công bắn được một con trổn hương
người nhà đã hầm con trổn hương
quyết tâm, nhung và nhiều vị
thuốc bổ xương khác
buổi tối công uống rượu và ăn món hầm
đại bù ấy
liền cảm thấy hứng khởi và nổi cơn
đòi phụ nữ
giây phút sinh lực trần thế đột ngột
sợ nó tan biến đi
nên sẵn có cô Hoàng Thị Cúc đang ở trong nhà
công cho gọi đến
và may mắn sau cô Cúc đã thọ thai
tất nhiên
chuyện Bù Đảo bất lực bấy lâu nay
bỗng nhiên làm cho cô Cúc có thai
không khỏi khiến người ta nửa tin nửa ngờ
để làm rõ sự thật
hai bà Tiên Cung và Thánh Cung
đã tìm cách tra hỏi cô Cúc xem
chủ nhân của cái thai là ai
các bà sai đảo một cây hố
sâu khoảng 2 tất
và bảo cô Cúc nằm xuống
để cái bụng có mang nằm lọt dưới hố
rồi dùng xoay đánh
buộc cô phải khai sang mình đã thụ thai
với người nào
thế nhưng cô Cúc cắn xăng chịu đựng
và nhất mực chỉ khai rằng
đã thụ thai với Phụ Hóa Công
thế là hai bà cũng phải thử nhận
và công bố với Hoàng tộc rằng
Phụ Hóa Công sắp có người nối sói
nhưng dựa trên lời kể
của một số nhân vật thân tín với Hoàng tộc
như ông Phan Văn Giật
và ông Ngũ Đằng Thị Về Nguyễn Đắc Bỏng
thì cách thai trong bụng cô Cúc
không phải là của Phụ Hóa Công
mà cô đã có thai với ông Hường Đê
từ trước. Chính vì lễ này
mà sau đó Bảo Đảo
đã mang ơn Hường Đê và
giúp đỡ cho ân nhân của mình rất nhiều
về chuyện quan tước hay tiền bảng
Ngoài ra nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân
cũng tìm thêm được một số bằng chứng khác
chứng minh Vĩnh Thủy
chính là con của cụ Hường Đê
như tẻ liệu 1.700 trang viết tay
của Thầy Ưng Đồng
là con trai ruột của cụ Hường Đê
Chúng tôi có thể kể ra đây
một vài tình tiết như sau
Thứ nhất, trong khi đi sự họp
Nguyễn Phúc Tộc ở Phủ Tân
người ta thường chào Thầy Ưng Đồng
là ông em giáo sư của cụ Hoàng
ám chỉ Thầy Ưng Đồng
với Bảo Đại là anh em cùng cha
Thứ hai
sau khi Vĩnh Thủy
tức là Bảo Đại
ra đời vào ngày 22 tháng 10 năm 1913
thì khoảng một tháng rưỡi sau
vào ngày mùng 7 tháng 12
năm 1913
Ưng Linh là con chính thức
của cụ Hường Đê cũng chào đời
Hai người này lớn lên
trông đều cao to khỏe mạnh
khi đặt ảnh hai người cạnh nhau
thì trông giống như anh em ruột
Hay rõ nhất là vào năm 1934
khi vào đại nội
thăm Hoàng đế Bảo Đại
cụ Hường Đê đã bị mật thám Pháp
chặn lại trở về nhà
cụ bực mình mà nói
đổ cho má
Tâu là cha vua mà tụi nó chẳng nể năng chi
về vấn đề này
như Đắc giả Nguyễn Đắc Xuân
đã khẳng định mẹ đích
tức là mẹ đẻ của Vĩnh Thủy
là bà Hoàng Thị Cúc tức bà Tử Cung
điều này không ai trô cãi rồi
nhưng người tạo nên cái bảo thai
trong bụng để bà sinh ra
Vĩnh Thủy mới lần sắc dối
khi có nhiều giả thuyết được đưa ra
nhưng vẫn chưa có lập luận nào đứng vững
trong khi đó
các đương sự có đủ thẩm quyền trả lời
về vấn đề này
đã trở thành người thiên cổ
là vua Khải Định bà Hoàng Thị Cúc
cụ Hường Đê
còn Bảo Đại thì lại không thể trả lời được
về chuyện sâu kín này
cho tới bây giờ Nhi An Vĩnh Thủy
là con ai vẫn là bí mật của công đình
nhưng theo sự nhìn nhận
của chính thống
Vĩnh Thủy vẫn là con của Khải Định
đã được Khải Định chăm sóc nâng niu
mẹ ông vẫn được tôn xưng
là bà Tử Cung
