Người thường gặp Tiên, liệu có phải câu chuyện hoang đường?

Huyền Bí TV
611 Người theo dõi
1.7K Lượt xem video·1 thg 1, 2025
[Huyền Bí TV] - Kho tàng truyện cổ tích dân gian Việt Nam được coi là kho báu mà người xưa đã lưu lại cho con cháu mai sau giúp các thế hệ Việt thời nay tìm lại được cội nguồn của mình. Nó là một phần của nền văn hóa truyền thống, còn gọi là nền văn hóa thần truyền, là nơi kết tụ những tinh hoa dân tộc, nuôi dưỡng tính cách và tâm hồn Việt. Hãy cùng Huyền Bí Tv lắng nghe câu chuyện hư hư ảo ảo này bạn nhé!
Người thường gặp tiên liệu có phải câu chuyện hoang đường hay không?
Khó tàn truyền cổ thích dân dang Việt Nam được coi là khó báu mà người xưa đã lưu lại cho
con cháu mai sau, giúp cho các thế hệ Việt thời nay tìm đại được cõi nguồn của chính mình.
Đó là một phần của nền văn hóa truyền thống, còn gọi là nền văn hóa thần truyền,
là nơi kết tụ những tinh hoa giang tộc, nuôi dưỡng tính cách và tâm hồn Việt.
Hàng trăm tích chuyện xưa cũ được người xưa lưu lại đã luôn nhắn nhũ rằng,
người Việt Nam chúng ta là con rồng cháu tiên, có nguồn gốc từ thần.
Người xưa có câu, tiên khó gặp nhưng không khó tìm. Trong các tích truyện cổ,
người xưa nói rằng đã có những giai đoạn trong đời sử, người và thần tiên đã có những
giao tiếp ở thế gian. Tuy nhiên, nhiều người thời nay do ảnh hưởng của quan niệm thấy thì tin,
không thấy không tin, đã luôn phủ nhận thần tích. Người thời nay xem những tích truyện cổ này chỉ
là những truyện thuyết được hư cấu theo trí tưởng tượng của người xưa trong một nỗ lực khơi lại
nguồn tinh hoa của nền văn hóa thần truyền, khơi lại bản chất thần tiên trong con người chúng ta,
đồng thời tránh những lệch lạc trong nhận thức của người hiện đại. Về những truyện thuyết lịch sử,
hãy giới thiệu lại những tích sự trí danh, những giai thoại thần kỳ trong kho tàn truyện cổ Việt Nam.
Và dưới đây là câu chuyện từ thức gặp tiên.
Ngày xưa vào đầy trần, niên hiệu Quang Thái từ năm 1388 đến năm 1398, có chàng trư sinh ở
đất Hóa Châu tên là Tử Thức, được bổ nhiệm dự trước huyện Tiên Du thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Cạnh huyện đường có ngôi chùa danh tiếng, trước sân chùa có một góc mổ đơn quý lạ. Hàng năm đến kỳ nở
hoa, người ta mở hội tương bừng, trai gái các nơi tấp nập kéo nhau đến dự hội trưởng hoa.
Nằm bến Tiến vào khoảng tháng 2, người ta thấy có một cô gái tuyệt sắc trả khoảng 15-16 tuổi đến
dự hội. Nàng ít tô điểm phấn son, nhưng làn da mặc hết sức mềm màng, tùy thấm.
Để ngắm hoa được gần hơn, nàng vinh một cành hoa xuống, không ngờ mổ đơn giòn gãy dưới tay. Người
giữ hoa trong thấy liền bắt nàng trói vào góc cây. Đến xế chiều, cũng không thấy ai đến chuột cứu nàng.
Từ thức nhân đi qua, nghe câu chuyện, động lòng thương, mang cởi áo cụ đang mặc, đưa cho nhà
chùa để bồi thương. Cô gái được thả, ngập cường cảm ơn từ thức, rồi đi về một phía mất hút.
Là một vị quang, rất nhân tử, luôn được dân tình thêm mến trọng. Nhưng từ thức vốn thích bầu rượu,
túi thơ, cây đờn hơn là chồng giấy tờ ở công đường. Mãi mê theo cảnh đẹp trời mây mà bỏ bê cả
việc quang. Khi cấp trên gửi tờ khiển trách, từ thức thở thang. Lẽ nào chỉ vì một vài đấu
thốt mà ta đành dìm thân trong chốn lợi danh. Sao bằng với một chiếc thuyền con, ta thoát khỏi
phòng cương tỏa. Nước biết non xanh sẽ không bao giờ phụ ta. Ngay vậy, chàng trả ấn từ quang,
lui về vùng núi non ở huyện Tống Sơn, mang theo bầu rượu, cây đờn. Chàng đi vương ngoạn khắp mọi
chốn danh làm thắng cảnh. Cặp nơi đẹp đẽ, chàng dừng chân uống rượu, làm thơ. Vết chân,
câu thơ của chàng ghi dấu ở nhiều nơi. Núi Trích Trợ, động Lục Vân, nguồn Sông Lễ, bờ kênh Nga.
Một hôm, chàng tới Cửa Thần Phụt, trông ra ngoài biển, thấy một lớp mây nằm sắc cách thành đoá hoa sen.
Chàng ngồi thuyền đến nơi, gặp nhiều núi non kỳ dị. Từ thức lo ngại bảo người chạy thuyền,
ta đã đi khắp miền Đông Nam, biết rõ cả vùng này, nhưng chưa bao giờ nghe nói đến những núi non kỳ
tú kia. Có lẽ đây là non tiên đưa đến hay núi thần dở lại. Không thì làm sao, ta chẳng thể thấy bao
giờ cả. Rồi sai buộc thuyền, lên bờ. Đi được vài bước, thấy sườn sửng trước mặt một sườn đá cao nghìn trường.
Từ thức thở ra, không có cánh làm sao mà vượt qua được đây. Rồi chàng lấy bút viết lên thành đá một bài thơ.
Đang lúc mãi mê ngắm cảnh, chàng bỗng thấy sườn đá mở ra một cửa hàng động, rộng trường một trường.
Chàng vén áo lần vào, vừa đi được vài bước thì cửa hàng tự khép lại. Chàng chìm trong bóng tối,
không còn biết đâu lối ra. Chàng lưu chết sợ theo lớp rêu trên đá mà đi. Theo một lối quanh co,
đường bột quảng thì đường hầm dần dần mở rộng, ra khỏi bóng tối. Mắt chàng chói ngợp vì ánh sáng rực rỡ,
sửng sốt vì mây muôn màu sắc bao phủ. Các đền đài giác bằng châu ngọc, dưới cảnh vườn hoa,
quý lạ, thương thơm, khát thường. Từ thức còn đang ngây ngất tưởng mình đang mơ thì bỗng vặn có tiếng
cười trong trẹo ở sau lưng. Chàng quảnh lại, thấy hai cô gái áo xanh đàn khúc khích bão nhau.
Kìa, chú rệ mới của nhà ta đã đến. Rồi hai nàng bỏ đi. Một lát sau, trở ra bão.
Phụ nhân chúng tôi cho mời chàng vào. Từ thức theo, điều qua một quảng sân,
hai bên tường theo dạch gấm hoa, đến một lớp cửa son. Chàng thấy treo ở trên lầu cao hai bước
hoành phi chữ vang, quỳnh hư chi điện và giao quan chi cát.
Trong cung điện thì một bà tiên mà áo trắng đang ngồi trên dường thất bão. Bà tiên mời
từ thức ngồi lên kế bên cạnh rồi bảo. Chàng vốn xem mê cảnh lạ. Bảy lâu đã thỏa
thích chí bình sinh ngao du đó đây. Chàng có biết nơi đây là đâu không?
Từ thức đáp, tôi là một thư sinh sống ẩn dật ở huyện Tống Sơn,
ngao du với một chiếc thuyền con ở giữa trời biển. Tôi không được biết là chốn này có lầu hồng
điện biết. Lòng tôi đây còn nhiễm đầy trần tục, không hiểu biết được đây là chốn nào.
Xin phu nhân vui lòng dạy cho kẻ thư sinh được thấu rõ.
Bà tiên nói, phải, chàng làm sao biết được chốn này. Đây là hang thứ sáu trong 36 đồng Phù Lai.
Nơi này biển bao bọc xung quanh, lơ lửng không chạm đất, cũng như núi La Phù theo chiều gió mưa
mà tan hợp, như núi Bồng Lai mọc trên ngọn sóng. Ta đây là ngụy phu nhân, tiên chủ núi Nam Nhạc,
vì thấy chàng có đức nên mới cho mời đến.
Nói rồi, bà tiên đưa mắt ra lệnh cho các tiên nữ đứng khầu. Một nàng áo xanh đưa
từ trong ra một tiên nữ trẻ tuổi. Từ thức liếc nhìn thì nhận ra người đã làm gãy cành mẫu đơn
trong hội thượng hoa. Bà tiên trỏ thiếu nữ mà nói với từ thức, em nó là con gái ta,
gọi là Giáng Hương. Ngay trước nó gặp nạn trong hội thượng hoa, được chàng cứu thoát,
lòng em nó vẫn không quen, ta muốn cho nó kết duyên với chàng, để đền ơn đó.
Rồi bà tiên ra lệnh cử hành hôn lễ, ngay trong đêm hôm ấy, dưới ánh đèn mở phụng,
trên chiếu theo rồng. Hôm sau, chiêu tiên ở khắp nơi đến mừng đôi tân nhân.
Kẻ mặt lộ từ phương Bắc cửi rồng xanh đến, kẻ mặt tơ từ phương Nam cửi ly vàng đến,
kẻ ngồi xe ngọc, kẻ đi xe mây. Các tiên tụ hợp trên gác điện giao quang, rèm ngọc, sáu vàng.
Khi kim tiên đến, tất cả chiêu tiên đều xuống điện rước lên ngồi ở trên ngai pha lê,
7-9 giữa. Chiêu tiên vừa ngồi xuống, tiếng nhạc trời văng vẳng trỗi lên,
đủ các thứ rượu quý đượm hương ngào ngạt rót, dân ra.
Tiên nương mặc áo lộ nói, chúng ta dạo chơi trong vùng này đã gần 80.000 năm,
biển phía Nam đã ba lần biến đổi. Giờ đây chú rễ không sợ thay đổi đời sống. Từ xa đến đây
để lấy vợ, tôi nghĩ là chú rễ sẽ không hối tiếc đời cũ và sẽ không còn nói là trên đời này
không có tiên. Kim đồng ngọc nữ sắp thành nhiều hàng dài bắt đồ múa. Nguyện phu nhân chủ
đồng đứng ra mời tiệc, dán hương rót rượu đưa đến tay chú tiên. Nàng tiên trẻ tuổi cười và nói,
Cô dâu chúng ta hôm nay thịt già như mở động, không còn gầy như trước nữa. Người ta thường nói là
con gái trường giới không có chồng, tôi không còn có thể tin như vậy nữa.
Nguyện phu nhân nói, tôi nghe nói người ta có thể gặp tiên song khó mà tìm đến. Những cuộc gặp gỡ
hiếm có nhịp màu, thời nào cũng thấy, tỉ như vết tích đền bạc hậu, núi cao đường,
dấu chân ở lạc phố, đồi ngọc giang phi, nàng lọc ngọc lấy tiên sử, vần tiêu gặp Thái Loan,
Lan Hương và Trương Thạc. Nếu ta chế dĩa của hôn nhân này thì những việc trước kia cũng hóa ra đáng
cười lắm ru. Tất cả chú tiên đều cười, trừ ra nàng tiên áo lùa nói bằng một giọng kém vui.
Cô dâu trẻ của chúng ta đã thành thân tốt đẹp rồi, nhưng khi tin kẻ tiên kết hôn với người tục xuống
đến trần, trên thiên đình sẽ không khỏi có kẻ mỉa mai chúng ta. Chú tiên thường giới phải gánh chịu lấy
thành quả này, tôi e rằng chúng ta không tránh khỏi tiếng tâm đó.
Kim tiên liền nói, tôi ở thiên đình chưa bao giờ đặt chân xuống ở bể trần,
thế mà có kẻ xấu miệng đã nói rằng thiên tiên, dân rụ cho vua Chu, chim xanh đem tin đến cho vua Hán,
chính chúng tôi cũng phải chịu lấy những lời lẽo phạm thừa của người đời. Thế làm sao chú tiên tránh
khỏi được lời vua khống kia? Tân Lan đã ở đây, chúng ta không nên tranh luận với nhau điều ấy để làm buồn lòng
chàng làm gì. Chú tiên lại cười lên vui vẻ. Đến khi mặt trời ngả về Tây thì các tiên mới chia tay
ra về, còn lại một mình tự thức cười bạo giáng hương. Ở thương giới, tình yêu cũng đưa đến việc lỡ đôi,
trở nên trước nữ với lấy ngô lan. Tự nguyên theo phong trác ở dưới trần, Tăng Nhu viết ra Thiên
Chu Tần, Quân Ngọc làm bài thơ hoàng lãng. Hoàn cảnh tùy mỗi nơi mỗi khác, song tình yêu ở đâu
cũng giống nhau. Từ ngàn đời nay thì bao giờ cũng thấy, bây giờ tất cả chú tiên đi rồi,
sao không khí chung quanh nơi ta là lạnh lẽo, buồn bã thế này? Có phải vì tình yêu không phát sinh ra
ở lòng em, hay là em cố cầm giữ lại? Giáng hương buồn rầu đáp, các chị đều đã đắc đạo,
có tên ở hoàng điện, thường lùi tới hồng mông, sống ở chốn thanh khiết, vùi chơi trong cõi cực tịnh,
lòng không vương vấn dục tình, cọ em đê chưa sạch khỏi thất tình, dấu vết cọ ở nơi thúy điện,
vấn vương duyên nợ trần ai, thân em tuy ở điện ngọc nhưng lòng em còn dính bụi trần.
Đừng đem em ra mà so sánh với các chi tiền khác, tự thức nói.
Như thế thì em cũng không xa cách anh lắm, cả hai đều bật cười.
Ngày tháng kế tiếp nhau trong khoái lạc thường tiên, một sáng tự thức thấy hoa sen nở,
hồ ngọc đã thay đổi màu xanh, thấm thoát thế mà đã qua một năm rồi.
Những đêm gió thổi lạnh lùng, những sáng xương sa nặng hạt, những tối trăng rội qua sông,
có khi tự thức không làm sao nhắm được mắt. Một nỗi buồn tràn ngập tâm hồn, thức tỉnh tràn dậy.
Một hôm, trong ra xa thấy một con thuyền, chàng trỏ tay bảo Giáng Hương.
Anh từ miền xa xôi kia tới đây, chân trời mờ mịch,
sóng biển buôn trùng, không biết rõ nhà anh ở nơi nào.
Một lát chàng lại nói, khi đi, anh còn có mẹ, bạn bè ở dưới kia.
Lòng chân chưa rủ sạch, anh muốn nhìn lại quê hương.
Em hãy hiểu cho lòng anh, để cho anh trở về thăm nhà ít lâu, không biết em nghĩ sao.
Giáng Hương buồn bã không tốt nên lời, tự thức lại nói tiếp.
Để cho anh đi dăm hôn, một tháng gặp lại các bạn, xếp đặt công việc nhà,
rồi anh sẽ trở lại sống bên em mãi mãi cho đến già ở chốn Bạch Vân.
Giáng Hương khóc nói, em không muốn lấy tình vợ chồng để ngăn anh đường trở lại quê nhà,
em chỉ sợ rằng đời sống thế gian quá nhỏ hẹp, ánh sáng mặt trời quá vắng või,
anh sẽ không còn tìm thấy sân vườn xưa trong cảnh cũ nữa đâu.
Nàng báo tin cho mẹ hay, nguyện phu nhân thở dài bảo,
ta không ngờ con người ấy lại còn vương vấn tục quỷ đến thế.
Rồi cho sóng sửa một chiếc xe mây để đưa tự thức đi,
Giáng Hương trao cho chồng một bông thư viết trên giấy lùa dặn dò,
sau này đi xem đến bức thư, anh hãy nhớ đến em.
Rồi hai người gạt nước mắt chia xa,
trông nhé mắt từ thức đã đặt chân xuống mặt đất, nhưng tất cả đều đã hoàn toàn đổi thay.
Nhà cửa người làng không còn, là những người quen cũ nữa,
chỉ có các tạng đá bên bờ suối vô phủ rêu xanh, như xưa.
Hỏi đến những người già cả trong làng xem có biết người tên tự thức không,
mọi người đều nói.
Hồi chúng tôi còn bé có nghe nói là ông cố ba đời của chúng tôi mang tên đó,
ông ấy đi lạc bò núi đã 80 năm nay, từ đó đến nay, chúng tôi đã trải qua ba đời vua.
Tự thức cảm thấy lòng buồn thấm thiế muốn trở lại trường giấy,
song chiếc xe mây đã biến thành chim loan, bay mất về trời,
giang mở phong thiêu ra đọc, trồng mây, kết duyên loan phụ, mối tình đôi ta đã giết.
Làm sao tìm đại non tiên trên biển cả, chúng ta khó gặp được nhau lần nữa,
mới biết là giáng hương đã gửi tràn những lời biệt biệt.
Sau đó từ trước quá ao lông, đợi nóng nhẹ, một mình đi vào núi Hoành Sơn, không thấy trở về nữa.
