1. Khái quát về so sánh

1.1. Khái niệm so sánh

So sánh là đối chiếu các đối tượng để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. Đây là thao tác tư duy, một phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng và là tiền đề quan trọng của khái quát hóa. Có thể hiểu, so sánh là việc đặt hai hay nhiều đối tượng trong quan hệ đối chiếu theo những tiêu chí nhất định nhằm xác định điểm chung, điểm khác và đặc điểm riêng của mỗi đối tượng.

Đặc điểm của một đối tượng thường hiện lên rõ hơn khi được đặt trong quan hệ với đối tượng khác. Điểm tương đồng giúp nhận diện thuộc tính chung; điểm khác biệt góp phần xác định tính riêng. Từ kết quả đối chiếu, người nghiên cứu có thể tiếp tục lí giải, đánh giá và khái quát vấn đề.

1.2. Ý nghĩa của so sánh trong tư duy khoa học

Trong tư duy khoa học, so sánh giúp nhận diện đặc điểm, phát hiện mối liên hệ giữa các đối tượng và hình thành nhận định khái quát. Khi đối chiếu nhiều hiện tượng, người nghiên cứu có thể xác định thuộc tính chung, nét riêng và những điều kiện liên quan đến sự hình thành, vận động của chúng.

Nhà xã hội học Guy E. Swanson nhấn mạnh vị trí thiết yếu của so sánh trong hoạt động tư duy và nghiên cứu khoa học: “Không thể hình dung nổi việc tư duy mà không có những so sánh và trong trường hợp thiếu vắng những so sánh ấy cả các tư tưởng và nghiên cứu khoa học cũng như không thể tồn tại” (Swanson, 1971, tr. 145).

Trong học tập, so sánh còn giúp người học liên hệ kiến thức mới với những điều đã biết, phân biệt các khái niệm gần nhau và phát triển năng lực phân tích, khái quát. Tuy nhiên, sự tương đồng hay khác biệt tự nó chưa đủ để chứng minh quan hệ nhân quả; những kết luận về nguyên nhân cần được kiểm chứng bằng các căn cứ thích hợp.

1.3. Phân biệt so sánh trong nghiên cứu và so sánh tu từ

Cần phân biệt so sánh với tư cách thao tác tư duy, phương pháp nghiên cứu và biện pháp tu từ.

Trong hoạt động tư duy, so sánh là việc đối chiếu các đối tượng nhằm nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt. Khi được tổ chức có mục đích, có tiêu chí và có quy trình phân tích để giải quyết một vấn đề nghiên cứu, thao tác ấy trở thành một bộ phận của phương pháp nghiên cứu.

Trong khi đó, so sánh tu từ là cách diễn đạt đặt sự vật, hiện tượng này trong tương quan với một đối tượng khác có nét tương đồng để làm nổi bật đặc điểm, hình ảnh hoặc cảm xúc. Chẳng hạn, câu thơ “Trẻ em như búp trên cành” sử dụng hình ảnh so sánh để gợi lên vẻ non tơ, trong trẻo và khả năng phát triển của trẻ em.

Hai cách sử dụng có liên quan nhưng không đồng nhất. So sánh tu từ chủ yếu hướng đến hiệu quả biểu đạt và thẩm mĩ; so sánh trong nghiên cứu văn học hướng đến việc nhận thức, phân tích và lí giải đối tượng. Phân biệt rõ hai khái niệm này giúp xác định đúng phạm vi của phương pháp so sánh văn học.

2. Phương pháp so sánh văn học

2.1. Bản chất của so sánh văn học

So sánh văn học là cách thức nghiên cứu, tiếp cận các hiện tượng văn học bằng việc đặt chúng trong quan hệ đối chiếu theo những tiêu chí xác định, nhằm phát hiện và lí giải điểm tương đồng, khác biệt, qua đó làm sáng tỏ đặc điểm tư tưởng, nghệ thuật và phong cách của từng đối tượng.

Đối tượng so sánh có thể là các tác phẩm, tác giả, thể loại, đề tài, hình tượng, biểu tượng, phương thức trần thuật, trào lưu hoặc những hiện tượng văn học khác. Phạm vi đối chiếu có thể nằm trong một tác giả, một nền văn học, một thời đại hoặc mở rộng sang những nền văn học và môi trường văn hóa khác nhau.

Bản chất của phương pháp so sánh văn học thể hiện ở ba yêu cầu cơ bản.

Thứ nhất, xác định đối tượng và tiêu chí so sánh. Người nghiên cứu cần làm rõ những đối tượng nào được đưa ra đối chiếu và đối chiếu trên phương diện nào. Tiêu chí có thể là đề tài, chủ đề, hình tượng nhân vật, cảm hứng nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu, điểm nhìn trần thuật hoặc quan niệm nghệ thuật. Tiêu chí phải phù hợp với mục đích nghiên cứu và đặc điểm của đối tượng.

Thứ hai, phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trên cơ sở dẫn chứng. Việc so sánh phải dựa vào văn bản và những tư liệu đáng tin cậy. Các nhận định cần được chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể, đặt trong mối quan hệ với chỉnh thể tác phẩm, tránh khái quát vội vàng từ một vài chi tiết riêng lẻ.

Thứ ba, lí giải và đánh giá kết quả đối chiếu. Người nghiên cứu cần trả lời những câu hỏi: Vì sao các đối tượng có điểm chung ấy? Những khác biệt bắt nguồn từ đâu? Chúng cho thấy điều gì về đặc điểm của từng tác phẩm, cá tính sáng tạo của nhà văn, bối cảnh lịch sử – văn hóa hoặc sự vận động của văn học?

Giá trị của kết quả so sánh phụ thuộc vào tiêu chí phù hợp, dẫn chứng xác đáng và khả năng lí giải ý nghĩa của những điểm tương đồng, khác biệt.

Chẳng hạn, khi đặt Hai đứa trẻ của Thạch Lam bên cạnh Một nơi sáng sủa, sạch sẽ của Ernest Hemingway, người nghiên cứu có thể chọn không gian, ánh sáng, bóng tối và sự tĩnh lặng làm tiêu chí đối chiếu. Những yếu tố ấy ở Thạch Lam gắn với cuộc sống tù đọng của phố huyện, niềm thương cảm đối với những kiếp người nhỏ bé và khát vọng hướng tới một thế giới khác; ở Hemingway, không gian quán cà phê sáng sủa góp phần thể hiện nỗi cô đơn và nhu cầu tìm kiếm một điểm tựa tinh thần. Ví dụ này cho thấy tiêu chí so sánh cần gắn với những biểu hiện cụ thể của từng tác phẩm.

2.2. Vai trò của phương pháp so sánh văn học

Trước hết, so sánh giúp làm sáng tỏ đặc điểm và giá trị của từng tác phẩm. Khi được đặt bên cạnh một tác phẩm khác, những nét tư tưởng, nghệ thuật hoặc phong cách có thể hiện lên rõ hơn. Một hình tượng, kiểu nhân vật hay cách tổ chức lời kể thường bộc lộ đặc điểm riêng khi được đối chiếu với những cách thể hiện khác.

Thứ hai, so sánh giúp nhận diện cá tính sáng tạo của nhà văn và đặc điểm của nền văn học. Cùng viết về một đề tài, các tác giả có thể lựa chọn tình huống, hình tượng, giọng điệu và phương thức biểu đạt khác nhau. Những khác biệt ấy góp phần làm rõ cách nhìn hiện thực và quan niệm nghệ thuật của mỗi người viết; khi đối chiếu các nền văn học, chúng còn gợi mở vai trò của bối cảnh lịch sử và văn hóa.

Có thể thấy điều này khi đặt Chí Phèo của Nam Cao bên cạnh Hóa thân của Franz Kafka. Cả hai tác phẩm đều cho thấy bi kịch con người bị đẩy ra ngoài những quan hệ xã hội vốn xác định vị trí của mình. Tuy nhiên, Nam Cao đặt nhân vật trong hiện thực xã hội cụ thể, phơi bày những áp bức khiến người nông dân bị tước đoạt quyền làm người; Kafka sử dụng tình huống biến hóa phi lí để khám phá sự mong manh của căn tính cá nhân và những rạn nứt trong quan hệ gia đình. Phép đối chiếu vừa nhận diện vấn đề chung, vừa làm rõ cách mỗi nhà văn kiến tạo thế giới nghệ thuật riêng.

Thứ ba, so sánh góp phần mở rộng nhận thức về văn học và con người. Những điểm tương đồng giữa các tác phẩm không nhất thiết bắt nguồn từ ảnh hưởng trực tiếp mà có thể xuất phát từ những vấn đề phổ quát của đời sống. Vì vậy, cần phân biệt sự gần gũi về chủ đề, tương đồng về nghệ thuật và quan hệ ảnh hưởng có thể kiểm chứng.

Trong dạy học và viết nghị luận văn học, so sánh giúp người học vượt qua cách đọc đơn lẻ, phát triển năng lực phân tích, khái quát và đánh giá. Việc lựa chọn tiêu chí, tìm dẫn chứng và lí giải kết quả đối chiếu có thể dẫn đến những nhận định sâu hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Phương pháp so sánh là một cơ sở quan trọng của văn học so sánh – lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng văn học trong những mối quan hệ rộng hơn, thường liên quan đến nhiều nền văn học, môi trường văn hóa hoặc loại hình nghệ thuật. Tuy nhiên, cần phân biệt hai khái niệm: phương pháp so sánh là cách thức tiếp cận và nghiên cứu; văn học so sánh là một lĩnh vực có đối tượng, phạm vi và vấn đề chuyên biệt. Không phải mọi hoạt động đối chiếu tác phẩm đều thuộc văn học so sánh theo nghĩa chuyên ngành.

2.3. Những hướng vận dụng phương pháp so sánh

Trong nghiên cứu, so sánh có thể được triển khai theo nhiều hướng dựa trên những căn cứ khác nhau. Các hướng này không hoàn toàn độc lập hay loại trừ lẫn nhau.

2.3.1. So sánh tương đồng và so sánh khác biệt

So sánh tương đồng tập trung phát hiện những điểm chung giữa các đối tượng, từ đó nhận diện những đặc điểm cùng xuất hiện, những mối quan tâm nghệ thuật tương tự hoặc những giá trị có ý nghĩa khái quát.

Chẳng hạn, khi so sánh Nam Cao và Tô Hoài, có thể khảo sát sự quan tâm của hai nhà văn đối với đời sống của những con người bình thường, những cảnh ngộ bị giới hạn bởi hoàn cảnh xã hội và những phương diện phức tạp trong tính cách con người. Tuy nhiên, điểm chung ấy cần được đặt trong từng tác phẩm cụ thể. Nam Cao thường đi sâu khám phá bi kịch nhân phẩm và những mâu thuẫn trong đời sống tinh thần; Tô Hoài có thế mạnh trong việc tái hiện phong tục, sinh hoạt, tâm lí và sức sống của con người trong những môi trường văn hóa khác nhau. Sự tương đồng về mối quan tâm đến con người không xóa nhòa sự khác biệt trong cách khám phá hiện thực và tổ chức thế giới nghệ thuật của mỗi nhà văn.

So sánh khác biệt tập trung làm rõ những nét riêng của các đối tượng, qua đó nhận diện cá tính sáng tạo, đặc điểm tư tưởng và phương thức biểu đạt. Khác biệt không đồng nghĩa với hơn kém; mục đích của hướng so sánh này trước hết là lí giải tính đặc thù của mỗi đối tượng.

Ví dụ, khi so sánh cách thể hiện miếng ăn trong sáng tác của Nam Cao và Nguyễn Tuân, cần chú ý đến sự khác biệt trong hoàn cảnh được miêu tả, ý nghĩa của hình tượng và cảm hứng nghệ thuật. Trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao, miếng ăn gắn với cái đói, sự bần cùng và những tình thế có thể đẩy con người vào đau khổ, tủi nhục. Trong Một bữa no, nhu cầu ăn uống trở thành một phương diện quan trọng để nhà văn phơi bày cảnh ngộ khốn cùng và bi kịch của người nghèo. Ở Nguyễn Tuân, việc ăn uống có thể được nhìn nhận như một nghệ thuật, gắn với sự tinh tế trong cảm quan và ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa. Để phép so sánh có sức thuyết phục, cần lựa chọn những văn bản cụ thể của Nguyễn Tuân có liên quan trực tiếp đến ẩm thực, thay vì khái quát toàn bộ sáng tác của ông từ một vài biểu hiện riêng lẻ.

Đặt hai cách thể hiện trong tương quan, người nghiên cứu có thể nhận ra rằng cùng một phương diện đời sống nhưng khi đi vào những thế giới nghệ thuật khác nhau, nó có thể mang những ý nghĩa khác nhau. Qua đó, sự đối chiếu góp phần làm rõ cách nhìn hiện thực, mối quan tâm nhân sinh và đặc điểm nghệ thuật của từng tác giả.

So sánh tương đồng và so sánh khác biệt thường gắn bó với nhau: muốn hiểu sâu điểm chung cần nhận diện nét riêng, còn muốn làm rõ khác biệt cũng cần xác định cơ sở để đặt các đối tượng trong tương quan.

2.3.2. So sánh lịch sử

So sánh lịch sử khảo sát sự vận động của một đối tượng qua những thời điểm hoặc giai đoạn khác nhau, từ đó làm rõ những yếu tố được duy trì, những phương diện thay đổi và các điều kiện góp phần tạo nên sự chuyển biến ấy.

Trong nghiên cứu văn học, hướng so sánh này có thể được vận dụng để tìm hiểu sự thay đổi trong sáng tác của một nhà văn, sự vận động của một thể loại hoặc sự chuyển biến của quan niệm nghệ thuật trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau.

Chẳng hạn, khi khảo sát sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975, có thể nhận thấy những chuyển biến đáng kể trong cách nhà văn tiếp cận hiện thực và khám phá con người. Trước năm 1975, nhiều tác phẩm của ông tập trung thể hiện cuộc sống chiến đấu, vẻ đẹp của con người trong chiến tranh và những phẩm chất gắn với lí tưởng cộng đồng. Cảm hứng sử thi, khuynh hướng khẳng định những giá trị tích cực và chất trữ tình là những phương diện đáng chú ý trong không ít sáng tác thuộc giai đoạn này. Sau năm 1975, đặc biệt từ những năm đầu thập niên 1980, Nguyễn Minh Châu ngày càng quan tâm đến những vấn đề thế sự, đời tư và các nghịch lí trong đời sống con người. Nhân vật được khám phá trong những hoàn cảnh phức tạp hơn, với sự đan xen giữa phẩm chất tốt đẹp, giới hạn nhận thức, những lựa chọn khó khăn và những day dứt đạo đức. Cách nhìn hiện thực cũng trở nên đa chiều, hướng đến việc chất vấn những nhận thức đơn giản hoặc một chiều về con người và cuộc sống.

Đặt hai giai đoạn sáng tác trong tương quan giúp nhận ra sự vận động trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và mối liên hệ giữa hành trình sáng tạo của ông với những chuyển biến của đời sống xã hội, văn học Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, không nên đối lập tuyệt đối hai giai đoạn: sự đổi mới thường diễn ra trên cơ sở kế thừa và điều chỉnh những đặc điểm đã hình thành trước đó.

2.3.3. So sánh định lượng

So sánh định lượng sử dụng những dữ liệu có thể thống kê để xác định mức độ xuất hiện, tần suất hoặc sự phân bố của các yếu tố trong đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu văn học, hướng tiếp cận này có thể hỗ trợ khảo sát từ ngữ, hình ảnh, kiểu nhân vật, hình thức trần thuật hoặc những đặc điểm ngôn ngữ khác.

Chẳng hạn, người nghiên cứu có thể thống kê tần suất xuất hiện của một từ ngữ hoặc một nhóm hình ảnh trong hai tác phẩm, sau đó đối chiếu kết quả để xác định những khác biệt về mức độ sử dụng. Tuy nhiên, số liệu chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong mối quan hệ với văn bản và mục đích nghiên cứu.

Tần suất xuất hiện của một từ ngữ không đồng nhất với mức độ quan trọng của hình tượng. Một hình ảnh xuất hiện ít lần vẫn có thể giữ vai trò then chốt trong cấu trúc và ý nghĩa tác phẩm; ngược lại, một từ xuất hiện nhiều lần chưa chắc đã trở thành biểu tượng nghệ thuật trung tâm. Do đó, so sánh định lượng thường cần kết hợp với phân tích định tính: số liệu giúp xác định một số đặc điểm có thể thống kê, còn việc giải thích ý nghĩa nghệ thuật cần dựa vào ngữ cảnh và cấu trúc tác phẩm.

2.3.4. So sánh định tính

So sánh định tính tập trung vào những phương diện khó hoặc không thể biểu đạt đầy đủ bằng số liệu, như đặc điểm tâm lí, sắc thái cảm xúc, quan niệm sống, trải nghiệm và ý nghĩa tư tưởng của đối tượng. Phương pháp này giúp nhận diện những nét tương đồng và khác biệt về chất, đồng thời lí giải cách mỗi đối tượng thể hiện những vấn đề chung bằng hình thức và phương thức riêng. Trong nghiên cứu văn học, so sánh định tính cần dựa trên việc đọc gần văn bản, phân tích chi tiết nghệ thuật và đặt các đối tượng vào những bối cảnh thích hợp.

Ví dụ: So sánh Bến quê của Nguyễn Minh Châu với Quái vật trên không của Kenzaburo Oe (Nhật Bản).

Trong Bến quê, Nhĩ, khi nằm trên giường bệnh và đối diện với cái chết, mới nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông cùng những giá trị bình dị, gần gũi mà mình từng vô tình bỏ qua. Qua những chiêm nghiệm của nhân vật, tác phẩm gợi lên nỗi tiếc nuối trước những giới hạn của đời người, đồng thời đặt ra vấn đề về khả năng nhận thức và trân trọng những giá trị thiết thân trong cuộc sống.

Trong Quái vật trên không, bi kịch của người cha có con trai khuyết tật được đặt trong mối quan hệ phức tạp giữa tình phụ tử, mặc cảm tội lỗi và trách nhiệm đạo đức. Nhân vật D bị giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự trốn tránh và nhu cầu chuộc lỗi. Việc lựa chọn sống cùng đứa con được gọi là đứa con ma có thể được nhìn nhận như một nỗ lực đối diện với hậu quả của những lựa chọn trong quá khứ và tìm kiếm khả năng cứu rỗi nhân tính. Qua đó, tác phẩm khám phá những giới hạn chịu đựng của con người cũng như sự phức tạp trong đời sống đạo đức và tâm lí.

Đặt hai tác phẩm bên cạnh nhau, có thể nhận thấy cả hai đều hướng sự chú ý vào những trải nghiệm khiến con người nhìn lại cuộc đời và nhận thức sâu sắc hơn về những giá trị có ý nghĩa đối với sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, điểm nhấn tư tưởng và sắc thái cảm xúc của hai tác phẩm không giống nhau. Bến quê nghiêng về nỗi tiếc nuối và sự thức tỉnh trong nhận thức: con người nhận ra vẻ đẹp của những điều gần gũi khi khả năng tiếp cận chúng đã trở nên hạn hẹp. Trong khi đó, Quái vật trên không tập trung vào bi kịch đạo đức, mặc cảm tội lỗi và nỗ lực tìm kiếm sự chuộc lỗi của con người trước những tổn thương đã gây ra. Một tác phẩm gợi suy ngẫm về những giá trị bình dị thường bị bỏ quên; tác phẩm kia đặt con người trước câu hỏi về trách nhiệm và khả năng phục hồi nhân tính sau những đổ vỡ.

Qua phép so sánh, có thể nhận ra điểm gặp gỡ trong chiều sâu nhân bản của hai tác phẩm, đồng thời thấy rõ cách mỗi nhà văn khám phá con người từ một điểm xuất phát riêng. Nguyễn Minh Châu hướng sự chiêm nghiệm vào những nghịch lí của nhận thức và các giá trị đời thường; Kenzaburo Oe đi sâu vào những xung đột tâm lí, đạo đức nảy sinh từ bi kịch gia đình.

So sánh định tính giúp làm sáng tỏ sắc thái ý nghĩa và giá trị riêng của từng tác phẩm. Kết quả cần dựa trên bằng chứng văn bản và sự lí giải, tránh dừng ở những nhận xét chung chung như cả hai tác phẩm đều thể hiện nỗi đau, tình cảm gia đình hay giá trị cuộc sống.

2.4. Mối quan hệ giữa các hướng so sánh

Các hướng so sánh được xác lập theo những căn cứ khác nhau: so sánh tương đồng và khác biệt chú trọng quan hệ giữa các đối tượng; so sánh lịch sử chú trọng sự vận động qua thời gian; so sánh định lượng và định tính nhấn mạnh cách thức khảo sát, phân tích dữ liệu.

Vì vậy, các hướng này không tách biệt tuyệt đối. Trong một nghiên cứu, người viết có thể kết hợp đối chiếu tương đồng, khác biệt với khảo sát lịch sử, thống kê định lượng hoặc phân tích định tính, tùy theo vấn đề cần làm sáng tỏ.

Việc lựa chọn hướng so sánh phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu, đặc điểm đối tượng và căn cứ có thể thu thập. Dù triển khai theo hướng nào, người nghiên cứu cũng cần xác lập tiêu chí phù hợp và bảo đảm các nhận định có căn cứ.

So sánh là thao tác tư duy có ý nghĩa trong nhận thức và nghiên cứu văn học. Việc đặt các hiện tượng văn học trong quan hệ đối chiếu giúp nhận diện những điểm tương đồng, khác biệt và đặc điểm riêng của từng đối tượng. Tuy nhiên, kết quả so sánh chỉ có giá trị khi được xây dựng trên những tiêu chí phù hợp, dẫn chứng xác đáng và sự lí giải có căn cứ. Nắm vững khái niệm, bản chất và các hướng so sánh cơ bản là bước đầu để tiếp cận văn học sâu sắc hơn, tránh những nhận xét cảm tính hoặc khái quát giản đơn.