1. Những đổi mới ngôn ngữ trong văn học đương đại Việt Nam
Sau công cuộc Đổi mới năm 1986, văn học Việt Nam bước vào một thời kì vận động mạnh mẽ với những thay đổi sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người, hiện thực và sáng tạo. Sự chuyển biến từ cảm hứng sử thi, cộng đồng sang sự quan tâm ngày càng rõ nét đối với đời sống cá nhân, những số phận đời thường và thế giới nội tâm đã tạo ra nhu cầu đổi mới phương thức biểu đạt. Trong tiến trình ấy, ngôn ngữ văn học cũng không ngừng vận động, tìm kiếm những khả năng biểu đạt mới để đáp ứng một hiện thực ngày càng đa dạng, phức tạp và nhiều chiều.
Nếu trong một thời gian dài, ngôn ngữ văn học chủ yếu hướng tới sự chuẩn mực, trong sáng, giàu tính khái quát và thường mang âm hưởng cộng đồng, thì văn học đương đại đã mở rộng đáng kể biên độ của ngôn ngữ nghệ thuật. Tiếng nói của đời sống được đưa vào văn chương với nhiều sắc thái hơn: từ lời ăn tiếng nói bình dị của đời thường, phương ngữ, khẩu ngữ đến những lớp từ ngữ mang dấu ấn vùng miền, nghề nghiệp, lứa tuổi và cá tính nhân vật. Những cách nói tưởng như vụn vặt, riêng tư, thậm chí thô ráp của đời sống, khi được tổ chức trong một cấu trúc nghệ thuật thích hợp, có thể trở thành phương tiện biểu đạt hữu hiệu những trạng thái tinh thần và những vấn đề của con người đương đại.
Cùng với đó, ngôn ngữ văn học ngày càng thể hiện rõ ý thức về cá tính sáng tạo của nhà văn. Nhà văn không chỉ lựa chọn câu chữ để kể một câu chuyện hay diễn đạt một ý tưởng, mà qua cách dùng từ, đặt câu, tổ chức lời kể, xây dựng giọng điệu, còn tạo dựng một thế giới nghệ thuật riêng. Vì thế, cùng viết về những con người và cảnh đời quen thuộc, mỗi cây bút có thể đem đến một cách nhìn, một âm sắc và một nhịp điệu ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ trở thành một trong những phương diện quan trọng nhất để nhận diện phong cách nhà văn.
Một đặc điểm đáng chú ý khác là sự gia tăng tính đa thanh và sự đan xen của nhiều giọng nói trong văn bản. Ngôn ngữ của người kể chuyện có thể hòa lẫn với ngôn ngữ nhân vật; lời đối thoại, độc thoại, hồi ức, suy tưởng và những mảnh vụn của ý thức cùng tồn tại trong một chỉnh thể. Ranh giới giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời sống vì thế trở nên linh hoạt hơn. Văn bản văn học có thể tiếp nhận nhiều giọng điệu, nhiều cách nói và nhiều hệ giá trị khác nhau, qua đó tái hiện hiện thực không phải như một bức tranh đơn tuyến mà như một đời sống nhiều tiếng nói.
Ở thơ ca, sự đổi mới còn thể hiện ở việc giải phóng ngôn ngữ khỏi nhiều khuôn thức biểu đạt quen thuộc. Câu thơ được tổ chức linh hoạt hơn, nhịp điệu có thể gần với nhịp nói tự nhiên, hình ảnh và liên tưởng được mở rộng, trong khi những khoảng trống, sự im lặng và những liên kết bất ngờ giữa các từ ngữ cũng trở thành một phần của cấu trúc ý nghĩa. Ở văn xuôi, câu văn và lời kể được cá thể hóa mạnh mẽ; ngôn ngữ có thể khi giản dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, khi giàu chất thơ, khi sắc lạnh, nghịch dị hoặc mang đậm dấu ấn văn hóa của một vùng đất.
Như vậy, đổi mới ngôn ngữ trong văn học đương đại không nên chỉ được hiểu là sự xuất hiện của những từ ngữ mới hay những cách diễn đạt khác lạ. Sâu xa hơn, đó là sự thay đổi trong cách nhà văn nhìn thế giới và con người, từ đó dẫn đến sự thay đổi trong cách lựa chọn, tổ chức và tạo nghĩa bằng ngôn từ. Ngôn ngữ ngày càng trở thành nơi gặp gỡ giữa đời sống và cá tính sáng tạo, giữa tiếng nói cộng đồng và tiếng nói cá nhân, giữa những giá trị văn hóa đã được tích lũy và những trải nghiệm mới của con người trong xã hội hiện đại.
Trong bức tranh nhiều màu sắc ấy, những đổi mới của ngôn ngữ văn học không diễn ra theo một mô hình duy nhất. Mỗi nhà văn tìm đến một con đường riêng: có người làm mới ngôn ngữ bằng sự cách tân mạnh mẽ về hình thức và liên tưởng; có người trở về với tiếng nói của vùng đất, của đời sống dân gian để tạo nên một giọng văn riêng; có người khai thác chiều sâu văn hóa và ngôn ngữ của cộng đồng mình để làm giàu cho tiếng Việt văn chương. Chính sự khác biệt trong những con đường sáng tạo ấy đã góp phần làm nên diện mạo đa dạng của ngôn ngữ văn học Việt Nam đương đại.
Từ phương diện đó, có thể nhận diện khá rõ những dấu ấn riêng qua sáng tác của một số cây bút tiêu biểu. Nguyễn Quang Thiều đem đến những tìm tòi giàu tính hiện đại trong cách tổ chức hình ảnh, liên tưởng và nhịp điệu tạo nên ngôn ngữ giàu chất thơ và chiều sâu triết luận; Nguyễn Ngọc Tư tạo dựng một giọng văn mộc mạc, giàu sắc thái Nam Bộ nhưng có sức gợi sâu về thân phận con người; còn Đỗ Bích Thúy đưa vào văn chương một thế giới ngôn ngữ đậm màu sắc miền núi phía Bắc, nơi tiếng nói, phong tục, cảnh sắc và tâm hồn cộng đồng hòa quyện. Ba cây bút, ba vùng văn hóa, ba cách tổ chức ngôn từ khác nhau, qua đó cho thấy khá rõ sự phong phú của những con đường đổi mới ngôn ngữ trong văn học Việt Nam đương đại.
2. Ngôn ngữ giàu chất thơ và chiều sâu triết luận của Nguyễn Quang Thiều
Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Quang Thiều đã góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới ngôn ngữ thơ sau năm 1986. Ngôn ngữ thơ của ông vì thế không thiên về kể, tả hay biểu đạt trực tiếp mà giàu tính biểu tượng, giàu sức gợi và hàm chứa chiều sâu triết luận.
Đặc điểm nổi bật nhất trong thơ Nguyễn Quang Thiều là hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê như dòng sông, cánh đồng, ngọn lửa, bầu trời, cỏ, cây, bóng tối, ánh sáng, đàn bò, bến nước, con đường… không chỉ phản ánh hiện thực mà còn trở thành những biểu tượng nghệ thuật, gợi mở nhiều tầng ý nghĩa về ký ức, thời gian, sự sống và bản thể con người. Trong thơ ông, hình ảnh luôn vận động từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ cảnh vật bên ngoài đến thế giới tinh thần bên trong. Vì vậy, người đọc không chỉ "nhìn thấy" hình ảnh mà còn phải "giải mã" ý nghĩa ẩn chứa phía sau. Những biểu tượng như lửa, dòng sông, chim, cỏ may, đám tang, người mẹ, người bà, đàn bò, cánh đồng, ngôi sao... xuất hiện với tần suất cao, tạo thành một "từ điển nghệ thuật" riêng của nhà thơ.
Đêm đêm tôi vừa chợp mắt
Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh
Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ
Tiếng lăn như đá lở trên ngàn
“Tiếng đập cánh” của con chim sẻ nhỏ như cầu mong sự giúp đỡ trong đêm cơn bão về gần sáng; “những quả trứng” trong tổ không có chim mẹ ấp ủ sẽ mãi mãi không nở thành chim non được. Những hình ảnh đó đã làm nên tiếng vọng khủng khiếp trong giấc ngủ và trở thành nỗi băn khoăn, day dứt khôn nguôi trong tâm hồn tác giả. “Tiếng vọng” chính là tiếng kêu khẩn thiết, báo động sự vô tâm đang ngày càng làm phai mờ đi phẩm chất cao quý, giá trị tốt đẹp của con người. Trong Sự mất ngủ của lửa, hình tượng lửa không đơn thuần là hiện tượng tự nhiên mà trở thành biểu tượng của sự sống, ký ức, niềm tin và sức sống bền bỉ của con người. Những người đàn bà gánh nước sông không còn là một cá thể cụ thể mà trở thành biểu tượng của người mẹ, của người phụ nữ nông thôn Việt Nam âm thầm gìn giữ sự sống qua bao thế hệ mà đều mang ý nghĩa vượt lên khỏi hiện thực để trở thành biểu tượng của sự tiếp nối, của khát vọng và số phận.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều có nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển, được tạo nên từ những câu thơ tự do, giàu cảm xúc. Ông không quá chú trọng niêm luật truyền thống mà tạo nhạc điệu bằng sự lặp lại của hình ảnh, nhịp câu, cấu trúc cú pháp và dòng cảm xúc. Nhiều câu thơ dài ngắn đan xen, tạo nên nhịp chảy tự nhiên như dòng hồi tưởng hoặc dòng ý thức. Chính điều đó đem lại cho thơ ông âm hưởng vừa da diết, vừa khoáng đạt, giàu sức ngân vang.
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Đặc sắc trong thơ Nguyễn Quang Thiều là triết lí luôn được ẩn giấu trong hình tượng nghệ thuật. Ông không trực tiếp phát biểu chân lí mà để người đọc tự khám phá thông qua những biểu tượng và mạch liên tưởng. Từ cái chết của một con chim nhỏ, "Con chim sẻ nhỏ chết rồi" gợi lên câu hỏi về lương tri và trách nhiệm. Từ hình ảnh "Những người đàn bà gánh nước sông" mở ra suy ngẫm về quy luật tiếp nối của các thế hệ và sức mạnh bền bỉ của đời sống. Trong "Âm nhạc", hành trình của một đám tang không chỉ gợi chia ly mà còn là hành trình trở về với ký ức gia đình và cội nguồn văn hóa. Triết lí trong thơ Nguyễn Quang Thiều vì thế mang tính nhân văn sâu sắc. Đó là triết lí về sự sống, về cái chết, về ký ức, về quê hương và về trách nhiệm của con người trước thế giới. Nguyễn Quang Thiều đã góp phần đưa ngôn ngữ thơ Việt Nam từ lối biểu đạt thiên về tả thực sang ngôn ngữ giàu biểu tượng và tính mở. Hình tượng nghệ thuật trong thơ ông không còn mang ý nghĩa đơn tuyến mà trở thành những "mã văn hóa" đa nghĩa, đòi hỏi người đọc tham gia giải mã.
3. Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. Từ vùng đất Cà Mau, chị đã mang vào văn học một tiếng nói nghệ thuật vừa bình dị vừa sâu lắng, góp phần làm phong phú ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam sau Đổi mới. Nếu nhiều nhà văn cùng thời lựa chọn lối viết giàu triết luận hoặc thiên về cấu trúc hậu hiện đại thì Nguyễn Ngọc Tư lại tạo dấu ấn bằng một thứ ngôn ngữ mộc mạc, đậm hơi thở Nam Bộ nhưng giàu chất thơ và sức gợi. Ngôn ngữ trong sáng tác của chị không chỉ tái hiện chân thực đời sống con người miền sông nước mà còn chuyên chở những suy tư về thân phận, tình người và vẻ đẹp của những số phận bình dị.
Từ xưng hô là một trong những phương diện hàm chứa trong lòng nó nhiều bình diện của đời sống từ ngôn ngữ đến văn hóa xã hội. Từ xưng hô cũng chính là nét độc đáo khác nhau giữa các vùng phương ngữ. Đó là lối hô gọi nội – ngoại xưng con thay thế cho lối hô gọi ông – bà xưng cháu trong ngôn ngữ toàn dân. Trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, cách xưng hô này xuất hiện khá nhiều trong Ngọn đèn không tắt và Sông. Trong mối quan hệ gia đình, ba, má là cũng cách xưng gọi phổ biến của người miền Nam. Trong Sông và Ngọn đèn không tắt, từ xưng hô này cũng thường được sử dụng để xưng hô với bậc sinh thành. Bên cạnh cha, má, ba được dùng đề hô gọi trong mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư còn có cách xưng hô đậm đặc phong vị Nam bộ. Đó chính là cách hô gọi cha mẹ bằng “ông già”, “bà già” khi trò chuyện với người khác: Con nhỏ bỏ xứ mất biệt rồi. Chưa kịp nói thằng con là của chồng hay ông già chồng. Trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy chị thường xuyên sử dụng các từ như: ổng, bả, chỉ, cậu, mợ, dì, dượng… thay cho các từ như ông ấy, bà ấy, chị ấy… một cách tự nhiên, thân thuộc, gần gũi. Cách xưng hô ngoài xã hội cũng tương đối giống với cách xưng hô trong gia đình. Đối với những người lớn tuổi hơn thì thường gọi theo vai là ông, bà, cô, bác, chú, dì… và thường đi kèm với thứ tự như: Bác Hai Tương, ông Tư Đờ, Tư Đấu, Mười Mực, Út Hết… Và khi xưng hô với người khác, người nói thường xưng là “con” đối với người có vai lớn hơn; xưng là “tui” hoặc “mình” đối với những người bằng vai vế. Và có một kiểu xưng hô với những người bằng tuổi hoặc hơn kém nhau một hai tuổi nhưng rất thân nhau là kiểu gọi đối phương bằng “cha nội”. Đây là một kiểu xưng hô rất riêng, thể hiện sự thân mật của hai người đối thoại nhưng cũng không làm mất đi yếu tố lịch sự trong giao tiếp. Từ “cha nội” này xuất hiện 1 lần trong Sông và 1 lần trong Ngọn đèn không tắt. Trong mối quan hệ gia đình hay ngoài xã hội, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư không thay thế các từ hô goi trong phương ngữ Nam bằng cách hô gọi trong ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên, nó vẫn lưu giữ những nét đẹp của truyền thống, của văn hoá như vẫn đảm bảo tính lịch sự, sự lễ phép và tôn trọng người nghe. Mang cách xưng hô từ cuộc sống vào trong tác phẩm Văn học chính là sự dịch chuyển câu chuyện cuộc đời, câu chuyện nhân sinh, câu chuyện của những tương tác xã hội vào trong tác phẩm. Chính điều này góp phần xây dựng nên hệ thống các nhân vật rất Nam bộ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Bên cạnh từ ngữ xưng hô, hệ thống các ngữ khí từ trong phương ngữ Nam Bộ cũng đi vào các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư một cách mộc mạc, tự nhiên. Trong mỗi lời thoại của nhân vật, nhà văn tái hiện một cách chân thật, không gọt giũa, cũng không thay thế các ngữ khí từ trong phương ngữ Nam thành các ngữ khí từ trong ngôn ngữ toàn dân. Đáng chú ý tác giả sử dụng đồng thời cả các ngữ khí từ trong phương ngữ Nam lẫn các ngữ khí từ trong ngôn ngữ toàn dân. Nhà văn dùng cả hôn (3 lần) lẫn không (65 lần), hổng (2 lần) (Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa. Hổng ấy cho con Tươi đi, chịu hôn?... “Hổng nhớ ngoại à, má thương chồng má hơn thương ngoại, thương con”, “Hồi má 386 quyết định bỏ con lại cho ngoại, má có buồn như con bây giờ không?”) để thêm vào các câu hỏi hoặc câu phủ định. Các ngữ khí từ tình thái như: hả, hén, hen, bộ, nghen… cũng xuất hiện trong lời thoại của các nhân vật. Ngữ khí từ dùng trong câu khuyến lệnh nghen xuất hiện với tần số cao. Nghen chính là hình thức rút gọn của “nghe không” và được dùng chủ yếu để dặn dò, hay nhắc nhở điều gì. Từ “nghen” này xuất hiện trong Ngọn đèn không tắt 11 lần. Ngữ khí từ là một nét rất riêng, rất đặc trưng làm nên cá tính của con người Nam bộ. Ngữ khí từ được sử dụng thường xuyên trong lời ăn tiếng nói hằng ngày và trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cũng đậm dấu ấn của ngữ khí từ. Có thể nói, nếu không có ngữ khí từ “chất Nam bộ” sẽ phôi pha, nhạt nhòe trong mỗi nhân vật.
Nhắc đến ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, ta không thể không tìm hiểu trường từ vựng biểu thị “sông nước” miền Tây. Trong mỗi trang văn của chị đầy ắp hơi thở của miền Tây. Đó là những đặc sản địa phương như cá sặc, bánh xèo, canh chua bông súng, cây bần, cây đước, so đũa, dầu mù u,… hiện lên tầng tầng lớp lớp trong bức tranh cảnh vật miền Tây. Đó là địa hình sông nước đặc trưng với những sông, những rạch, những kinh, những đầm, ao, bãi, những cù lao… Lớp lớp các dòng sông, con rạch, con kinh, con đầm, cù lao.. .gắn với những tên riêng hiện ra trên từng câu chuyện, từng lời văn như một thước phim quay chậm về miền Tây với những: sông Di, sông Đốc, rạch Giồng Ông, kinh Thợ May, đầm Bà Tường…. Con Tươi qua sông, chở nước ngọt về uống trượt chân té xuống sình; Thế là đang làm phóng sự ở sông Ðốc, hết đò tôi quá giang tàu dầu về thành phố. Trong chằng chịt kênh rạch của miền Tây, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn dành riêng một tác phẩm để khắc họa một dòng sông – sông Di. Nổi bật trên nền địa hình trong Sông vẫn là không gian sông nước mênh mông. Sông vùng hạ lưu, sông ở thượng nguồn, sông len lỏi vào từng xóm, từng làng. Những địa danh trong Sông gợi cho ta cảm giác về những vùng đất bí hiểm, xa lạ trở thành đích đến trong hành trình khám phá của ba chàng trai Xu, Ân, Bối. Hành trình đi ngược sông Di của ba chàng trai được tác giả mô tả như một cuốn phim quay chậm. Từng tên làng, tên núi, tên sông được dẫn ra. Mỗi địa danh được nhắc đến lại gắn với những sự kiện lịch sử, những con người, những số phận… khiến người đọc như cũng bị cuốn vào chuyến đi dài ngày và thú vị ấy. Ngoài ra, trường từ vựng gắn với hoạt động của dòng sông, của con nước, hoạt động gắn với sông nước của con người cũng được sử dụng và tái hiện sinh động trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư. Đó là hình ảnh của nước ròng, nước lên, nước rút; đó là ghe (50 lần), là xuồng (12 lần), đò, quách (6 lần), thuyền… Sông nước chính là mảnh đất sinh tồn của biết bao số phận, biết bao mảnh đời và nó cũng chính là không gian nghệ thuật để nữ nhà văn chấm phá, gợi tả, phỏng dựng những cuộc đời, những con người sinh ra ở sông, luôn cảm thấy “thiếu sông” và nhớ sông da diết, quay quắt.
Có thể nói, đi vào trong các trang viết của Nguyễn Ngọc Tư những từ ngữ địa phương này không chỉ có tác dụng miêu tả sự vật, sự việc mà còn là thứ chất liệu quan trọng phỏng dựng nên không gian nghệ thuật rộng lớn. Trên cái nền không gian sông nước mênh mông ấy, văn hóa sông nước đã thấm rất sâu vào trong đời sống, sinh hoạt và cả trong ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư. Và chính nó đã góp phần làm nên cái riêng, cái độc đáo, đa dạng trong các tác phẩm của nhà văn trẻ này.
4. Ngôn ngữ giàu bản sắc văn hóa miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy
Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Hà Giang, Đỗ Bích Thúy không chỉ viết về miền núi như một không gian địa lí mà còn tái hiện cả một thế giới văn hóa với phong tục, tín ngưỡng, nếp sống và tâm hồn của đồng bào các dân tộc. Chính điều đó đã tạo nên một lớp ngôn ngữ mang đậm dấu ấn văn hóa vùng cao, góp phần mở rộng biên độ biểu đạt của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Bản sắc miền núi trước hết được thể hiện qua hệ thống từ ngữ gắn với đời sống văn hóa của người dân vùng cao. Trong các tác phẩm như Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Bóng của cây sồi hay Đàn bà đẹp, Đỗ Bích Thúy sử dụng tự nhiên những địa danh, tên gọi của núi rừng, những vật dụng quen thuộc, trang phục, nhạc cụ và phong tục của người Mông, Dao, Tày... Những hình ảnh như bờ rào đá, đàn môi, phiên chợ, váy lanh, ngô trên nương, mùa tam giác mạch... không chỉ tạo màu sắc địa phương mà còn gợi mở cả một không gian văn hóa đặc trưng của vùng cao phía Bắc. Điều đáng chú ý là lớp từ ngữ ấy không mang tính minh họa hay "trang trí" cho bối cảnh mà trở thành phương tiện biểu đạt đời sống tinh thần của nhân vật. Chẳng hạn, trong Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, tiếng đàn môi không đơn thuần là một nhạc cụ dân tộc mà trở thành ngôn ngữ của tình yêu, của nỗi nhớ và khát vọng hạnh phúc. Bờ rào đá cũng không chỉ là chi tiết hiện thực mà còn biểu tượng cho những ranh giới của phong tục, định kiến và số phận con người. Chính cách chuyển hóa các yếu tố văn hóa thành biểu tượng nghệ thuật đã làm cho ngôn ngữ của Đỗ Bích Thúy vừa giàu bản sắc địa phương vừa mang ý nghĩa khái quát. Bản sắc miền núi còn được thể hiện qua nhịp điệu và cách tổ chức câu văn. Câu văn của Đỗ Bích Thúy thường chậm rãi, khoan thai, giàu nhạc điệu, gợi nhịp sống bình lặng của bản làng. Nhà văn không chạy theo những biến cố dữ dội mà để thiên nhiên, con người và phong tục hiện lên trong sự hòa quyện tự nhiên. Vì vậy, ngôn ngữ không chỉ kể chuyện mà còn tái tạo được nhịp sống và tâm hồn của miền núi.
Một phương diện nổi bật khác trong phong cách ngôn ngữ của Đỗ Bích Thúy là vẻ đẹp nữ tính. Là một cây bút luôn hướng ngòi bút đến số phận người phụ nữ miền núi, chị lựa chọn một kiểu ngôn ngữ mềm mại, tinh tế và giàu khả năng diễn tả đời sống nội tâm. Nếu nhiều nhà văn viết về miền núi nhấn mạnh sự hùng vĩ của thiên nhiên hoặc những biến cố của cuộc sống thì Đỗ Bích Thúy lại đi sâu khám phá những rung động rất nhỏ trong tâm hồn người phụ nữ trước tình yêu, hôn nhân, gia đình và khát vọng hạnh phúc. Trong các tập truyện như Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Đàn bà đẹp hay Bóng của cây sồi, nhân vật nữ thường ít nói, giàu đức hi sinh nhưng có đời sống nội tâm sâu sắc. Ngôn ngữ của nhà văn vì thế thiên về miêu tả cảm giác, tâm trạng và những chuyển động tinh vi của cảm xúc hơn là hành động bên ngoài. Những câu văn chậm rãi, giàu hình ảnh và nhiều khoảng lặng giúp người đọc cảm nhận được những nỗi niềm không thể nói thành lời của nhân vật. Đáng chú ý, Đỗ Bích Thúy không nhìn người phụ nữ chỉ như nạn nhân của hủ tục mà còn phát hiện ở họ sức sống bền bỉ, lòng vị tha và khát vọng tự do. Ngôn ngữ vì thế luôn giữ được sự dịu dàng nhưng không bi lụy, mềm mại mà vẫn ẩn chứa sức mạnh nội tâm. Đây chính là điểm khác biệt giữa ngôn ngữ nữ tính của Đỗ Bích Thúy với nhiều cây bút nữ đương đại khác. Điều đó đã làm nên dấu ấn riêng của Đỗ Bích Thúy trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại.
***
Qua ba trường hợp Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy, có thể thấy sức sống của ngôn ngữ văn học đương đại trước hết nằm ở khả năng không ngừng tự làm mới mình. Mỗi nhà văn, từ một vốn sống, một vùng văn hóa và một quan niệm nghệ thuật riêng, đã tìm được cách tổ chức ngôn từ riêng để tạo nên giọng điệu và thế giới nghệ thuật không trộn lẫn. Chính sự đa dạng trong những cách tìm tòi ấy đã làm giàu thêm khả năng biểu đạt của tiếng Việt, đồng thời góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa thanh và giàu cá tính của văn học Việt Nam đương đại.



Bình luận