KỲ THI OLYMPIC TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XX, NĂM 2026
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Thời gian 180 phút (Không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 05 tháng 8 năm 2026
Câu 1 (8,0 điểm)
Triết gia người Đức Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844-1900) từng đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta nhận trách nhiệm trước những sai lầm mà không nhận trách nhiệm với ước mơ?”
(Dẫn theo Lời của Nietzsche cho người trẻ, tập 1, Shiratori Haruhiko biên soạn, Nguyễn Đỗ An Nhiên dịch, NXB Thế giới, 2023, trang 152).
Hãy viết bài văn nghị luận trả lời câu hỏi của triết gia.
Câu 2 (12,0 điểm)
Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) khi viết về Nguyễn Tuân (1910-1987) đã bình luận: “Phải đến Nguyễn Tuân viết ra thì cũng một vùng phố xá ấy mới thành tên gọi.”
(Trích Cát bụi chân ai – Tô Hoài, NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2014, trang 8)
Lời bình luận ấy gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tầm vóc của một nhà văn lớn?
Hãy viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm của mình.
............................. HẾT ...............................

I. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo chấm đúng như đáp án, biểu điểm của Ban Tổ chức.
- Nếu thí sinh có cách trả lời khác đáp án nhưng đúng thì giám khảo vẫn chấm theo biểu điểm của Hướng dẫn chấm.
- Giám khảo không quy tròn điểm thành phần của từng câu, điểm của bài thi.
II. ĐÁP ÁN, BIỂU ĐIỂM
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)
“Tại sao chúng ta nhận trách nhiệm trước những sai lầm mà không nhận trách nhiệm với ước mơ?”
1. Yêu cầu chung
- Không áp đặt một cách hiểu duy nhất đối với phát biểu của Nietzsche.
- Chấp nhận các lập trường đồng tình, đồng tình có điều kiện, phản biện hoặc mở rộng, miễn là được lập luận logic và có cơ sở.
- Đánh giá trọng tâm vào năng lực giải thích vấn đề, lập luận, phản biện và tư duy độc lập, không đánh giá theo số lượng ý.
2. Yêu cầu về kiến thức (7,0 điểm)
2.1. Giải thích (1,5 điểm)
- Giải thích: “Trách nhiệm” là bổn phận, nghĩa vụ của cá nhân hoặc cộng đồng đối với chính bản thân mình hoặc công việc được giao; “Sai lầm” là suy nghĩ, hành vi không đúng, có thể gây ra hậu quả với cá nhân và cộng đồng; nếu sai lầm là những gì đã xảy ra thì “ước mơ” là mục tiêu, là khát vọng, là những khả thể chưa tồn tại trong hiện thực.
- Câu hỏi cấu trúc như một nghịch lí nhằm khẳng định con người phải có trách nhiệm với sai lầm thì cũng đồng thời phải có nghĩa vụ với ước mơ của mình, tức là phải thực hiện cam kết với chính mình trong hành trình kiến tạo ước mơ, và ý nghĩa của bản thân.
2.2. Bàn luận (5,5 điểm)
a. Nhận trách nhiệm với sai lầm rất quan trọng và mới là điều kiện cần. (1,0 điểm)
- Là nghĩa vụ về pháp luật của con người trước hành vi của chính mình.
- Là đòi hỏi của ý thức đạo đức và lương tri của con người.
b. Cần phải có trách nhiệm với ước mơ của mình (1,5 điểm)
- Ý nghĩa của việc chịu trách nhiệm với ước mơ: Ước mơ là cái chưa có thực nhưng có ý nghĩa vẫy gọi con người; chịu trách nhiệm với ước mơ, con người can đảm theo đuổi nó, có hoạch định cụ thể để hành động, biến ước mơ thành hiện thực, kiến tạo nên giá trị cho xã hội đồng thời cấp nghĩa cho bản thân.
- Khi chịu trách nhiệm với ước mơ con người không chỉ kiên cường theo đuổi nó mà còn can đảm sẵn sàng đối diện với thách thức và cũng như nguy cơ thất bại.
c. Mối quan hệ giữa việc chịu trách nhiệm với sai lầm và trách nhiệm với ước mơ (0,5 điểm)
- Trách nhiệm với sai lầm là điều kiện cần nhưng trách nhiệm với ước mơ mới là điều kiện đủ để hoàn thiện bản thân.
- Trách nhiệm với sai lầm giúp con người nhìn lại để điều chỉnh hành vi; trách nhiệm với ước mơ khiến con người có can đảm dấn thân.
2.3. Chứng minh (1,5 điểm)
- Lấy dẫn chứng phù hợp, thuyết phục từ lịch sử, đời sống hoặc trải nghiệm.
- Không đánh giá cao những bài viết lấy dẫn chứng một chiều về gương người theo đuổi ước mơ đến cùng và gặt hái thành tựu.
- Nên lấy những dẫn chứng về những con người sống nhất quán với lựa chọn của mình như Nelson Mandela – người dấn thân cho lí tưởng về công bằng xã hội; Simone de Beauvoir, nữ triết gia nữ quyền, người không chỉ viết mà còn đấu tranh cho những khát vọng của phụ nữ.
- Phân tích được dẫn chứng, nhận thấy ý nghĩa của bài học hình thành ngay trong quá trình con người có trách nhiệm với ước mơ chứ không phải chỉ kết tụ ở thành tựu sau cùng khi ước mơ trở thành hiện thực.
- Không cộng điểm chỉ vì trích dẫn nhiều danh ngôn, triết gia. Cần chú ý đánh giá khả năng giải thích, lập luận đối thoại với vấn đề.
2.4. Phản biện – mở rộng (1,0 điểm)
- Trách nhiệm với ước mơ phải gắn liền với trách nhiệm đạo đức.
- Thực tế nhiều người không từ bỏ trách nhiệm với ước mơ mà bị giới hạn bởi hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, nghĩa vụ xã hội.
- Đôi khi có trách nhiệm với ước mơ không đồng nhất theo đuổi nó đến cùng mà còn bao hàm cả việc từ bỏ hoặc điều chỉnh những ước mơ sai lầm.
3. Yêu cầu về kĩ năng tạo lập văn bản (1,0 điểm)
- Lập luận chặt chẽ, logic, nhất quán, có khả năng khái quát và phân tích lí lẽ.
- Diễn đạt mạch lạc, dùng từ chuẩn xác.
- Ít hoặc không mắc lỗi.
TỔNG ĐIỂM TOÀN CÂU: 8,0

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)
“Phải đến Nguyễn Tuân viết ra thì cũng một vùng phố xá ấy mới thành tên gọi”
1. Yêu cầu chung
- Giải mã được ý nghĩa hình tượng của lời bình luận; từ trường hợp Nguyễn Tuân, khái quát được quan niệm về tầm vóc của nhà văn lớn.
- Xác lập được quan điểm riêng bằng lí lẽ và trải nghiệm văn học.
- Thể hiện được năng lực cảm thụ, phân tích, khái quát và đối thoại với vấn đề lí luận văn học.
Chú ý: Không áp đặt một cách hiểu duy nhất. Chấp nhận những kiến giải khác nhau, miễn là hợp lý, nhất quán và có cơ sở.
2. Yêu cầu về kiến thức (11,0 điểm)
2.1. Giải thích (2,0 điểm)
- Giải thích lời bình luận của Tô Hoài:
+ Giải thích cách nói hình tượng: “thành tên gọi” là cách nói để biểu đạt nhà văn không chỉ miêu tả mà còn phát hiện, định danh và kiến tạo ý nghĩa cho hiện thực.
+ Lời bình luận của Tô Hoài khẳng định vai trò của Nguyễn Tuân với tư cách là người biến một vùng không gian đời sống thành thế giới nghệ thuật và kí ức văn hoá.
- Xây dựng quan niệm về tầm vóc của nhà văn lớn:
+ Nhà văn lớn “đặt tên” cho hiện thực: Đặt tên không có nghĩa là gọi tên mà còn là phát hiện bản chất, tạo hình hài tinh thần, cấp ý nghĩa mới cho những gì quen thuộc hoặc chưa được biết đến.
+ Nhà văn lớn sáng tạo một cách nhìn mới khiến người đọc không còn nhìn con người, cảnh vật, thời đại như trước; nhà văn lớn định hình kí ức văn hoá.
+ Nhà văn lớn kiến tạo thế giới bằng ngôn ngữ: Tầm vóc nhà văn không nằm ở việc nhà văn sao chép được bao nhiêu hiện thực mà ở khả năng tạo nên một hình thức nghệ thuật không thể thay thế.
Chú ý: Không đánh giá mức tốt, xuất sắc các cách hiểu thoát khỏi lời bình luận của Tô Hoài, không chủ động tư duy như một số cách hiểu sau: nhà văn phải có tài năng; nhà văn lớn phải có nhân cách; nhà văn lớn phải có phong cách; nhà văn lớn phải có nhiều tác phẩm, phải được công chúng thừa nhận.
2.2. Bàn luận (2,5 điểm)
- Văn học có mối quan hệ gắn bó với đời sống nhưng hiện thực đời sống chỉ là nguồn gốc của sáng tạo.
- Nhà văn miêu tả, phản ánh đời sống không theo cơ chế sao chép mà với tư cách là nghệ sĩ sáng tạo, nhà văn luôn kiến tạo thế giới theo cách riêng của mình.
- Bằng trải nghiệm vốn sống, văn hoá riêng và lăng kính thẩm mỹ độc đáo, bằng năng lực ngôn từ, nhà văn lớn tạo hình cho con người, cảnh vật, chuyển hoá thế giới thực thành thế giới nghệ thuật trên nhiều phương diện:
+ Phát hiện – đặt tên và kéo thế giới ra khỏi vùng khuyết danh.
+ Cấp ý nghĩa mới cho sự vật, hiện tượng quen thuộc.
+ Tạo hình hài cho thế giới bằng chất liệu ngôn từ.
+ Định hình kí ức văn hoá, trí tưởng tượng văn hoá.
- Ý nghĩa của vấn đề:
+ Nới rộng chiều kích tồn tại, ý nghĩa của thế giới cảnh vật, con người.
+ Thay đổi cách nhìn nhận về thế giới, con người của cộng đồng, bồi đắp, làm phong phú thêm đời sống văn hoá, thẩm mỹ của nhân loại.
2.3. Chứng minh (5,0 điểm)
- Tổ chức dẫn chứng thể hiện tầm vóc của nhà văn lớn trên các phương diện:
+ Nhà văn lớn mở ra một cách nhìn mới về hiện thực đời sống.
+ Nhà văn lớn sáng tạo một thế giới hình tượng nghệ thuật độc đáo.
+ Nhà văn lớn định hình kí ức văn hoá.
+ Nhà văn lớn thông qua sáng tác làm thay đổi cách cộng đồng nhìn nhận về thế giới.
- Yêu cầu về lựa chọn và phân tích dẫn chứng:
+ Lựa chọn được tác giả, tác phẩm, tác giả tiêu biểu.
+ Làm rõ được cơ chế sáng tạo mà nhà văn đã chuyển hoá thế giới thực thành thế giới nghệ thuật trên tất cả các phương diện: nhìn hiện thực; thế giới nghệ thuật; hình tượng, không gian kí ức văn hoá.
+ Dẫn chứng được đặt trong lập luận, có khả năng so sánh, kết nối nhiều nền văn học.
2.4. Phản biện, mở rộng vấn đề (1,5 điểm)
- Sáng tạo, hay thiết lập cách nhìn mới về thế giới của nhà văn không đồng nhất với việc áp đặt cái nhìn chủ quan; mọi khả năng gọi tên chỉ thực sự thuyết phục khi xây dựng thành thế giới nghệ thuật sống động.
- Nhà văn lớn thuộc về thời đại vừa có khả năng vượt thời đại.
- Đôi khi tầm vóc lớn của nhà văn do chính người đọc, truyền thông, hoàn cảnh lịch sử hoặc cộng đồng độc giả quyết định.
- Bài học đối với hoạt động sáng tạo, tiếp nhận.
3. Yêu cầu về tổ chức văn bản và diễn đạt (1,0 điểm)
- Bố cục linh hoạt, chặt chẽ, chuyển ý tự nhiên.
- Diễn đạt chuẩn xác, giàu sắc thái học thuật và cảm thụ.
- Sử dụng thuật ngữ phù hợp, không mắc lỗi.
TỔNG ĐIỂM TOÀN CÂU: 12,0



Bình luận