KỲ THI OLYMPIC TRUYỀN THỐNG 30/4
LẦN THỨ XXX - NĂM 2026
Môn: NGỮ VĂN - Khối: 10
Thời gian: 180 phút
Ngày thi: 04/4/2026
Đề thi gồm 01 trang, 02 câu
Lưu ý:
- Thí sinh làm MỖI câu trên MỘT tờ giấy làm bài riêng biệt và ghi rõ SỐ CÂU ở dòng đầu tiên của trang thứ nhất (kể cả câu không làm được, nếu có);
- Thí sinh KHÔNG được sử dụng tài liệu, Giám thị KHÔNG giải thích gì thêm.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)
Bình chú cuốn sách U mộng ảnh của Trương Trào (1650 - ?), dịch giả Huỳnh Ngọc Chiến viết:
“Hoa mà không bướm thì hoa lẻ loi, cô độc; núi không có suối thì núi câm lặng, vô hồn; đá không có rêu thì đá trơn trụi, vô duyên; nước không có rong rêu thì cá nào dám sống; cây cao không có dây leo thì chẳng khác cột cờ; con người không có một đam mê nào thì cuộc đời trở nên tẻ nhạt, và nhàm chán. Cho nên sống, thà lụy vì một đam mê nào đó, còn hơn là sống mà không có một đam mê nào.”(1)
Từ văn bản trên, kết hợp với hiểu biết xã hội của anh/chị, hãy bày tỏ quan điểm về ý kiến: “Cho nên sống, thà lụy vì một đam mê nào đó, còn hơn là sống mà không có một đam mê nào.”
Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)
Trong bài Góp thêm vài ý nghĩ về thơ, Hữu Thỉnh viết:
“Ta hay nói ‘nước chảy chỗ trũng’. Trong bài thơ cũng có những chỗ ‘trũng’. Đó là những câu thơ hay. Trong một bài thơ dở, vẫn có những câu thơ được. Trong một bài thơ hay, lại có những câu hay nhất. Những câu ấy nó như chỗ ‘trũng’ của một bài thơ. Nó như những cái ‘huyệt’ trong cơ thể con người. Câu thơ hay với tư cách là một tinh túy nó hàm chứa trong mình nó những quy luật, đặc tính căn bản nhất của thơ.”(2)
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn luận ý kiến trên.
----- HẾT -----
(1) Trương Trào, Rong chơi cùng U mộng ảnh, Huỳnh Ngọc Chiến dịch và bình chú, NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2020, tr. 93.
(2) Hữu Thỉnh, Tuyển tập, tập 3, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2025, tr. 154.

KỲ THI OLYMPIC TRUYỀN THỐNG 30/4
LẦN THỨ XXX - NĂM 2026
ĐÁP ÁN CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN - Khối: 10
Đáp án gồm 04 trang, 02 câu
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo chấm đúng như đáp án, thang điểm của ban tổ chức.
- Giám khảo cần linh hoạt trong đánh giá. Nếu thí sinh có cách trả lời khác đáp án nhưng đúng thì giám khảo vẫn chấm điểm theo thang điểm của Hướng dẫn chấm.
- Để đánh giá đúng năng lực của thí sinh, cần đảm bảo những tiêu chí:
| Hệ thống ý | Lập luận | Dẫn chứng | Hành văn |
| - Phong phú – Toàn diện – Độc đáo (cấp độ tăng dần) | - Mạch lạc – Chặt chẽ – Sắc sảo, có tư duy phản biện (cấp độ tăng dần) | - Phù hợp – Thời sự – Độc đáo (cấp độ tăng dần) | - Trong sáng, mạch lạc - Vốn từ ngữ phong phú, diễn đạt tinh tế, giàu cảm xúc - Có bản sắc cá nhân (cấp độ tăng dần) |
II. ĐÁP ÁN, THANG ĐIỂM
Câu 1 (8,00 điểm)
Đề bài:
Bình chú cuốn sách U mộng ảnh của Trương Trào (1650 - ?), dịch giả Huỳnh Ngọc Chiến viết: “Hoa mà không bướm thì hoa lẻ loi, cô độc; núi không có suối thì núi câm lặng, vô hồn; đá không có rêu thì đá trơn trụi, vô duyên; nước không có rong rêu thì cá nào dám sống; cây cao không có dây leo thì chẳng khác cột cờ, con người không có một đam mê nào thì cuộc đời trở nên tẻ nhạt, và nhàm chán. Cho nên sống, thà lụy vì một đam mê nào đó, còn hơn là sống mà không có một đam mê nào.”
Từ văn bản trên, kết hợp với hiểu biết xã hội của bản thân, hãy bày tỏ quan điểm của anh/chị về ý kiến: “Cho nên sống, thà lụy vì một đam mê nào đó, còn hơn là sống mà không có một đam mê nào.”
1. Giải thích: (1,0 điểm)
- Diễn giải văn bản: Văn bản sử dụng các hình ảnh cho thấy mối liên hệ không thể tách rời giữa “hoa” - “bướm”, “núi” - “suối”, “đá” - “rêu”, “nước” - “rong rêu”, “cây” - “dây leo”, “con người” - “đam mê” để chỉ ra hệ quả của một cuộc sống không có đam mê (“lẻ loi”, “cô độc”, “câm lặng, vô hồn”, “trơn trụi, vô duyên”, “thiếu vắng sự sống”, “tẻ nhạt, và nhàm chán”). Từ đó, khẳng định “đam mê” là yếu tố đặc biệt trong đời sống tinh thần của con người.
- Giải thích từ ngữ:
+ Đam mê: trạng thái khao khát mãnh liệt, thường là bền bỉ, dành cho một mục tiêu nhất định.
+ Lụy: thái độ nhẫn nhục, chấp nhận vất vả, tổn hại, thất bại, thậm chí hi sinh cho điều mình đam mê, theo đuổi.
→ Cấu trúc “...thà... còn hơn là...” nhấn mạnh: đam mê có thể khiến con người phải trả giá nhưng sẽ mang đến một cuộc sống đúng nghĩa, có giá trị hơn là sống mà không theo đuổi đam mê.
2. Bàn luận: (5.0 điểm)
Học sinh có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần với ý kiến trên. Sau đây là phần triển khai của một hướng (đồng tình)
- Việc “lụy” vì đam mê đôi khi khiến con người đau khổ, nhưng luôn mang đến cho họ cảm giác thực được sống: có cảm hứng sống, có thế giới tinh thần phong phú, có cuộc sống giàu màu sắc,... Trong khi đó, nếu thiếu đam mê, con người sẽ chỉ còn một tâm hồn cằn cỗi, một cuộc sống tẻ nhạt.
- Việc “lụy” vì đam mê có thể đẩy con người vào tình thế gian nan, nhưng cũng là động lực phát triển bản thân, vượt qua giới hạn, từ đó giúp ta phát huy tiềm năng của mình và phát hiện vẻ đẹp mới mẻ của đời sống. Trong khi đó, nếu thiếu đam mê, ta sẽ dễ rơi vào cảm giác quẩn quanh, cũ mòn, lặp lại chính mình.
- Việc “lụy” vì đam mê có thể khiến cá nhân thiệt thòi, nhưng nếu mang đến lợi ích cho cộng đồng thì đam mê đó xứng đáng để theo đuổi. Trong khi đó, nếu thiếu đam mê, con người khó có thể đóng góp hết mình cho xã hội.
3. Liên hệ, mở rộng: (1,0 điểm)
- Bất cứ ai cũng có quyền “lụy” vì đam mê. Nhưng không phải đam mê nào cũng đáng để ta hi sinh vì nó. Nếu chọn đam mê không phù hợp thì sẽ gây hại cho bản thân và cộng đồng.
- Việc “lụy” vì đam mê cần được lý trí kiểm soát và định hướng, bởi “lụy” không có nghĩa là buông xuôi theo cảm xúc mà là theo đuổi với ý thức tỉnh táo.
- Việc “lụy” vì đam mê cần hài hòa với lối sống trách nhiệm, sống đẹp cho mình, gia đình và cho xã hội.
4. Bài học nhận thức và hành động: (1,0 điểm)
- Cần nhận thức được việc “lụy” vì đam mê là cần thiết;
- Cần dũng cảm đi đến tận cùng của đam mê (có lộ trình cụ thể; kiên trì, nỗ lực; phát triển kĩ năng, kiến thức; xây dựng mối quan hệ xã hội;…); không nên sợ vướng “lụy” vì đam mê mà nên sợ sự trống rỗng nội tâm, sự hờ hững với cuộc đời khi sống mà thiếu vắng đam mê.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)
Đề bài: Trong bài Góp thêm vài ý nghĩ về thơ, Hữu Thỉnh viết: “Ta hay nói ‘nước chảy chỗ trũng’. Trong bài thơ cũng có những chỗ ‘trũng’. Đó là những câu thơ hay. Trong một bài thơ dở, vẫn có những câu thơ được. Trong một bài thơ hay, lại có những câu hay nhất. Những câu ấy nó như chỗ ‘trũng’ của một bài thơ. Nó như những cái ‘huyệt’ trong cơ thể con người. Câu thơ hay với tư cách là một tinh túy nó hàm chứa trong mình nó những quy luật, đặc tính căn bản nhất của thơ.”
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn luận ý kiến trên.
1. Giải thích (2,0 điểm):
- “Nước chảy chỗ trũng”: trong tự nhiên, nước luôn tìm về nơi thấp → gợi đặc điểm của câu thơ hay là lắng đọng cảm xúc, có chiều sâu tư tưởng.
- “Huyệt”: điểm đặc biệt trong cơ thể, có khả năng tác động mạnh → nhấn mạnh sức tác động thẩm mĩ của câu thơ hay đối với người đọc.
- “Tinh túy”: phần tinh chất được chưng cất → câu thơ hay là nơi kết tinh cao độ tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật của bài thơ (hàm chứa trong mình nó những quy luật, đặc tính căn bản nhất của thơ).
→ Ý kiến khẳng định: câu thơ hay là câu thơ có chiều sâu tư tưởng, lắng đọng cảm xúc, kết tinh nghệ thuật và có khả năng tác động mạnh mẽ đến người đọc.
2. Bàn luận (8,0 điểm):
- Câu thơ hay là “tinh túy” vì kết tinh tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật thơ ca:
+ Thơ ca chủ yếu biểu hiện thế giới nội tâm con người. Câu thơ hay tuy dung lượng nhỏ nhưng có khả năng truyền tải sâu sắc cảm xúc, là nơi dồn nén và bộc phát mạnh mẽ nhất tình cảm của thi sĩ, đồng thời chứa đựng giá trị tư tưởng lớn.
+ Tư tưởng, tình cảm trong thơ được thể hiện qua hình thức nghệ thuật. Câu thơ hay là nơi kết tinh các yếu tố nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, nhạc tính…), giữ vai trò tiêu biểu cho đặc sắc của toàn bài, được các câu thơ khác nâng đỡ và làm nổi bật.
- Câu thơ hay “hàm chứa những quy luật, đặc tính căn bản của thơ”:
+ Mang tính trữ tình: nơi tập trung cảm xúc mãnh liệt.
+ Mang tính nhạc và họa: có nhịp điệu, âm thanh và hình ảnh giàu sức gợi.
+ Mang tính hàm súc: ngôn từ cô đọng nhưng gợi nhiều liên tưởng sâu xa.
- Câu thơ hay còn có tác động thẩm mĩ mạnh mẽ đến người đọc:
+ Tạo ấn tượng sâu sắc, chạm đến cảm xúc, lay động tâm hồn.
+ Có khả năng mở rộng nhận thức, làm phong phú đời sống tinh thần.
+ Có thể sống độc lập trong trí nhớ người đọc, vượt khỏi phạm vi bài thơ.
(Thí sinh cần phân tích một số câu thơ hay để làm sáng tỏ các luận điểm, thể hiện năng lực cảm thụ văn học.)
3. Mở rộng, đánh giá (2,0 điểm):
- Không phải câu nào trong bài thơ cũng là “tinh túy”; bài thơ là một chỉnh thể thống nhất.
- Câu thơ hay cần được đặt trong toàn bài để phát huy giá trị.
- Để có câu thơ hay, người viết phải kết tinh cảm xúc, trí tuệ và tài năng.
- Việc nhận diện câu thơ hay phụ thuộc vào năng lực đọc và cảm thụ; người đọc cần có tiêu chuẩn thẩm mĩ rõ ràng để “chạm đúng huyệt” của thơ.



Bình luận