TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HẠ LONG

ĐỀ THI OLYMPIC MÔN CHUYÊN DÀNH CHO HỌC SINH THCS LẦN II

Ngày thi: 30/3/2025

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 150 phút, không tính thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau: 

THỎ RAGU

Lưu Quang Minh (*) 

Tóm lược phần đầu: Bà bảy mươi tuổi, sống cùng con trai, con dâu và cháu nội nhưng thường xuyên trong cảnh cô đơn vì ai cũng bận rộn. Một hôm đi chợ, bà gặp chú bé với đôi mắt ươn ướt, ánh nhìn ảm đạm, nài nỉ bà mua một con thỏ gầy giơ xương, lông xác xơ, xù xì. Nghĩ thế nào, bà lại quyết định mua con thỏ mang về nhà. 

Con thỏ này không đẹp. Đã thế, nó còn có hề ra dáng thỏ đâu. Thỏ phải lông màu trắng, tai dài kia. Ai lại đen thui một đống, nhìn xa cứ tưởng chuột cống. Chẳng thế mà con dâu bà một phen hãi hùng, suýt chút đã giơ cây đập chết toi con vật lù đù, may bà ngăn kịp. Bà đã đinh ninh con dâu là người phản ứng mạnh nhất, quả thật. Bà cũng biết nó sẽ chất vấn bà đủ chuyện. Sao cũng được, bà nghe, dù gì đã trót đem về. 

- Mẹ định nấu thỏ ragu[1] à? 

Có thịt đâu mà làm. Bà gật cho chiếu lệ. Bà già nên lẩn thẩn mất rồi. Con dâu còn nói luyên thuyên thêm một lúc. Bà bảo với nó là bà sẽ nuôi. Sau cùng bà bỏ tạm thỏ đen vào hộp các-tông cạnh góc bếp, xem như cái chuồng. Từ hôm ấy mỗi sáng ngoài việc đi chợ mua đồ ăn cho cả nhà, bà không bao giờ quên mua thêm một củ cà rốt, lâu lâu nấu bữa có bắp cải, rau muống bà đều dành cho thỏ Ragu phần lặt bỏ đi. 

- Ăn no chóng lớn, Ragu ới Ragu à. 

Nghiễm nhiên tên nó là Ragu, một món ăn khoái khẩu. Mỗi buổi chiều hiu hắt bà ngồi đón gió, không còn đơn lẻ một mình. Thỏ Ragu gặm gặm củ cà rốt, lúi chúi dưới chân bà. Bà vuốt lên vuốt xuống. Lông thỏ mượt, lại không hề dính ve và nặng mùi như chó mèo. Thỏ không biết kêu. Chỉ biết nhìn, ngửi, chạy và nhai ngấu nghiến. Ai đó nói: “hiền như thỏ”, “nhát như thỏ đế”, đều đúng cả.

- Thỏ ơi, thỏ có thương bà không? 

Chẳng biết thốt nhiên vì sao bà lại thủ thỉ như thế. Bà thèm được ôm thằng cháu trai vào lòng, xoa đầu, nghe nó kể lể đủ chuyện trên trời dưới đất, làm nũng bà biết bao. Đã lâu lắm rồi. Bao lâu nhỉ. Bà lẫn rồi, không nhớ nữa. Cháu trai của bà ơi, ăn no chóng lớn nhé, cháu yêu. Nắng lay lắt, le lói từng mảng vàng ố bám lên bốn bức tường lạnh lẽo. Thằng bé ngày nào còn bi bô tập đi tập nói giờ đã lớn tướng rồi. Nó chẳng cần một bàn tay già nua chăm sóc. Ngoài kia bao nhiêu điều thú vị còn lôi cuốn, chờ đợi. Gió cứ thổi, nhẹ đưa, vi vu. Thỏ Ragu nằm bẹp xuống nền đất, tựa đầu vào chân bà. Bà thấy mắt hoen cay. Thằng bé bán thỏ không thấy xuất hiện nữa. Bà vẫn mong gặp lại. Thỏ của cháu lớn hơn rồi đấy, béo mập, tròn trĩnh ra. Bước chân bà dường như mau hơn, lẹ làng để kịp về. Tấm lưng còng đôi khi rệu rã. Thỏ lớn rất nhanh, chính bà cũng chẳng ngờ. Ragu ới, Ragu à. Ragu chạy nhanh lắm, nghe tiếng bà từ xa đã lỉnh đến ngay. Bà vốn nghĩ thỏ chẳng hề thông minh như chó mèo, chỉ biết ăn thôi.

- Không phải đâu, Ragu nhỉ? 

Bà cho Ragu ăn bắp cải. Bà xé từng lá, đưa tận miệng Ragu. Hồi xưa bà cũng đút từng muỗng cơm cho thằng cháu, nó nhõng nhẽo, dụ khị mãi chả chịu nhai cho. Cháu ngoan, nhai đi bà dắt đi chơi. Ngoan nào, nuốt nào… Ragu ham ăn lắm. Xơi hết lá này lại đòi lá khác. Bà phải xé luôn tay. Ăn nhiều thế, béo lắm rồi đấy nhé. Chợt bà sững lại. Cái nồi nghi ngút khói. Bà sợ cái nồi nghi ngút khói. Bà nhấc Ragu lên, ôm vào lòng. Con dâu rất khó chịu. Nó đi ra đi vào.

- Mẹ ơi, làm thịt đi! 

Thỏ Ragu lớn tướng, cái thùng các-tông bây giờ tỏ ra vô cùng chật chội. Bà bế Ragu khỏi thùng, thấy đúng là nặng thật. Cháu bà ơi… Thằng cháu bà về, chui tót vào phòng như mọi bận. Bao lần bà tính gọi, nhưng lại thôi. Sao nó gần thế, mà cũng xa cách thế? Nắng úa. Bà ngồi đón gió. Ragu ơi, cháu có biết buồn không? Mấy cái lá vàng dứt cây lả tả đậu xuống sân. Thỏ vụt ra, ngửi ngửi. Nó có thói quen chạy lung tung, tìm hiểu, bươi hết chỗ này đến góc nọ. Mọi thứ chung quanh đối với nó chắc là lạ lẫm lắm. Lạ lẫm thật. Bà cũng thế, bà ngồi đây. Lạ lẫm. Mưa đầu mùa. Hạt li ti. Bà sợ Ragu dính nước, lùa vào nhà. Cháu bà ơi, để bà ru cháu ngủ. Bà ôm Ragu nhưng chỉ một chốc nó lại nhảy ra. Lanh cha lanh chanh, chẳng lúc nào chịu yên. Thằng cháu ngày xưa hiếu động, chuyên môn bị u đầu sứt trán, bà phải lấy dầu xoa cho cháu. Nó khóc oang oang: đau quá bà ơi, đau quá bà ơi.

Con dâu nhận trực điện thoại tư vấn ở nhà. Có người gọi đến, tổng đài sẽ tự động chuyển về số máy nhà. Tất nhiên nó chỉ làm thêm ban đêm. Bà nghe nó nói với người ta: “Hãy biết quan tâm, lo lắng. Không cần gì lớn lao, có khi chỉ một câu nói, hành động nhỏ nhặt…”. Bà lặng đi. Câu con dâu thường nói với bà là: 

- Mẹ cứ ăn cơm trước. 

Miệng móm mém nhai cơm, bà nhìn Ragu dưới đất gặm rau muống. Xơi hết cọng này đến cọng khác, ngon lành. Ăn nữa đi cháu, ăn với bà, ăn cho no vào. Mâm cơm lạnh tanh. Ragu bệnh, nằm im một chỗ. Bà giứ giứ cà rốt tận mõm, nó vẫn không thèm ăn. Ngày bé cháu trai bà bị sốt, mấy đêm bà không ngủ, thay khăn ướt liên tục chườm lên trán cháu. Mau mau khỏe nhé, cháu yêu. Thỏ bỏ ăn đã mấy bữa, bà lo quá. Bà gọi cho con trai, dù sao cũng là bác sĩ, chắc nó biết. Con trai bà bắt máy, nói: 

- Con bận lắm mẹ ơi, chỉ là con thỏ thôi mà!

Ừ, chỉ là một con thỏ. Bà chôn Ragu dưới gốc cây nhìn ra sân. Con dâu trách:

- Tại mẹ không nghe con, làm thịt luôn có phải hơn.

Bà không nói, dường như cũng chẳng nghe thấy lời con dâu. Ragu ơi, nhớ bà thì làm gió nhé. Những chiều, bà ngồi đón gió. Gió mát hơn, hiền hòa hơn, tựa như đám lông đen mượt mà. Lá rụng, lảo đảo, chao nghiêng dọc, chạm xuống thềm. Bà nhặt lên, từng chiếc, từng chiếc. Cháu về đấy phải không? Từ dạo ấy bà ăn chay. Bà mua bó rau muống, luộc hoặc xào. 

Cả đời bà thương cháu, thương con...

          (Dẫn theo Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 5+6 năm 2011, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 85, 86)

Chú thích: (*) Lưu Quang Minh sinh năm 1988, là nhà văn, nhạc sĩ, hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Một số tập truyện ngắn tiêu biểu: Gia tài tuổi 20 (2010), Những tâm hồn đồng điệu (2013), Câu lạc bộ cô đơn (2018), Cõi nhớ miền thương (2019)... 

Trả lời các câu hỏi:

Câu 1. (2,0 điểm) Em hiểu gì về nhân vật người bà qua những chi tiết khắc họa sự yêu thương, chăm sóc dành cho thỏ Ragu? 

Câu 2. (2,0 điểm) Từ cách ứng xử của con cháu với người bà trong truyện, em thấy mình cần làm gì để kết nối với các thành viên trong gia đình?

II. VIẾT (16,0 điểm)

Câu 1. (6,0 điểm)

Từ văn bản trong phần Đọc hiểu, hãy viết bài văn nghị luận chia sẻ suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự thấu hiểu, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình. 

Câu 2. (10,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận phân tích truyện ngắn Thỏ Ragu (Lưu Quang Minh). Từ đó, trình bày suy nghĩ của em về khả năng thức tỉnh của văn chương đối với con người. 

------------------- HẾT ------------------

ĐÁP ÁN, HƯỚNG DẪN CHẤM

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm) Em hiểu gì về nhân vật người bà qua những chi tiết khắc họa sự yêu thương, chăm sóc dành cho thỏ Ragu? 

- Những chi tiết khắc họa sự yêu thương, chăm sóc của bà: 

+ Khi đi chợ không bao giờ quên mua thêm đồ ăn cho Ragu.

+ Dành cho Ragu những cử chỉ âu yếm (vuốt ve, ôm vào lòng, thủ thỉ, tâm sự, ...).

+ Lo lắng gọi con trai khi Ragu bị ốm.

- Nhân vật người bà: 

  + Hiền hậu, giàu lòng yêu thương.

  + Khao khát được sẻ chia, thấu hiểu. 

  + Cô đơn, lạc lõng trong ngôi nhà của chính mình. 

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh nêu được mỗi ý về chi tiết khắc họa sự yêu thương, chăm sóc của bà với thỏ Ragu: 0,25 điểm

- Học sinh nêu được ý 1 về người bà: 0,25 điểm

- Học sinh nêu được ý 2,3 về người bà: mỗi ý 0,5 điểm

- Nếu học sinh gọi ra được những phẩm chất khác hợp lí về người bà vẫn cho điểm tương đương với các ý trên.

Câu 2. (2,0 điểm)

Từ cách ứng xử của con cháu với người bà trong truyện, em thấy mình cần làm những gì để kết nối với các thành viên trong gia đình?

- Cách ứng xử của con cháu với người bà: mỗi người đều mải mê với những bận rộn của riêng mình, thiếu sự quan tâm, chia sẻ (con trai: con bận lắm mẹ ơi; con dâu: mẹ cứ ăn cơm trước; cháu: chui tót vào phòng). 

- Những việc cần làm để kết nối với các thành viên trong gia đình: 

Thí sinh đưa ra được những việc cần làm để kết nối với các thành viên trong gia đình (Ví dụ: sắp xếp thời gian, công việc một cách hợp lí để dành thời gian bên gia đình; lắng nghe, chia sẻ tâm tư, tình cảm với người thân; cùng chia sẻ trách nhiệm với ông bà, cha mẹ...).

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh chỉ nêu được cách cứng xử của con cháu với người bà: 0,25 điểm

- Học sinh chỉ nêu được dẫn chứng về cách ứng xử của con cháu: 0,25 điểm

- Học sinh nêu mỗi ý về việc làm để kết nối với các thành viên trong gia: 0,5 điểm (chỉ cho điểm tối đa khi học sinh nêu được ý nghĩa của mỗi việc làm)

II. VIẾT (16,0 điểm)

Câu 1. (6,0 điểm) Từ văn bản trong phần Đọc hiểu, hãy viết bài văn nghị luận chia sẻ suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự thấu hiểu, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình. 

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm)

Thí sinh viết đúng yêu cầu của kiểu bài văn nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)

Ý nghĩa của sự thấu hiểu, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

Gợi ý :

* Giải thích: (0,5 điểm)

thấu hiểu, sẻ chia là hiểu rõ tâm tư, tình cảm, lời nói, hành động; cùng san sẻ niềm vui, nỗi buồn, trách nhiệm với mọi việc... giữa các thành viên trong gia đình. 

* Bàn luận: (1,5 điểm)

Khẳng định ý nghĩa của sự thấu hiểu, sẻ chia giữa các thành viên trong gia đình:

- Tạo nền tảng hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho mỗi người (yêu thương, thấu hiểu, bao dung,...)

- Giúp các thành viên trong gia đình có thêm niềm vui, niềm tin, vơi bớt nỗi buồn, tạo điểm tựa và động lực để vượt qua khó khăn, đạt được thành công...

- Tăng sự gắn kết và tình cảm gia đình, từ đó tạo nên cộng đồng xã hội nhân văn, tốt đẹp.

* Mở rộng: (0,5 điểm)

- HS phê phán hiện tượng, cách ứng xử thiếu sự thấu hiểu, sẻ chia. 

- HS rút ra bài học cho bản thân. 

Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

- Đảm bảo cấu trúc 3 phần (0,5 điểm)

mở bài xác định đúng vấn đề nghị luận; thân bài triển khai vấn đề nghị luận; kết bài khẳng định vấn đề.

 - Xây dựng hệ thống luận điểm: (0,5 điểm)

 + Xác định và nêu được hệ thống luận điểm rõ ràng; sắp xếp hệ thống luận điểm hợp lý.

 + Luận điểm đúng đắn, đầy đủ để làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: (1,0 điểm)

+ Lí lẽ xác đáng, thuyết phục

+ Bằng chứng tiêu biểu, phù hợp

+ Kết hợp giữa lí lẽ và bằng chứng chặt chẽ để làm sáng tỏ luận điểm, luận đề

+ Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

đ. Diễn đạt (0,5 điểm)

Đảm bảo chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

e. Sáng tạo (0,5 điểm)

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2. (10,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận phân tích truyện ngắn Thỏ Ragu (Lưu Quang Minh). Từ đó, trình bày suy nghĩ của em về khả năng thức tỉnh của văn chương đối với con người. 

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm)

Thí sinh viết đúng yêu cầu của kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm truyện, từ đó trình bày suy nghĩ về một vấn đề lí luận văn học.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0,25 điểm)

- Phân tích truyện ngắn Thỏ Ragu của tác giả Lưu Quang Minh.

- Khả năng thức tỉnh của văn chương đối với con người.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

Một số gợi ý:

c1. Phân tích truyện ngắn Thỏ Ragu (Lưu Quang Minh) (4,0 điểm)

c1.1. Chủ đề: 

* Nêu chủ đề: Sự quan tâm, yêu thương, kết nối, chia sẻ giữa các thành viên, thế hệ trong gia đình. 

* Phân tích biểu hiện: 

- Thái độ, cách ứng xử của các thành viên gia đình trong cuộc sống hàng ngày: mọi người đều bận rộn với công việc và những thú vui riêng, bà tự làm mọi việc của mình, không ai quan tâm, trò chuyện, chia sẻ với nhân vật người bà.

- Qua thái độ, cách ứng xử khi bà nuôi thỏ: 

+ Nhân vật người Bà chăm sóc chú thỏ: bà chăm sóc thương thỏ như người thân (đút cho ăn, vuốt ve, ôm vào lòng, thủ thỉ, tâm sự, ...) 

→ Cô đơn, khao khát yêu thương.

+ Các thành viên tron gia đình: 

. Con dâu: phản ứng mạnh nhất (suýt giơ cây đập chết con thỏ, hỏi và giục mẹ nấu món Ragu, trách mẹ không làm thịt con thỏ trước khi Ragu chết, ...)

. Cháu: không biết, không quan tâm đến việc bà nuôi thỏ.

. Con trai: từ chối khi mẹ gọi điện về việc thỏ Ragu ốm (Con bận lắm mẹ ơi, chỉ là con thỏ thôi mà!)

→ Tất cả con, cháu đều dửng dưng, vô tình, không hiểu, không đồng cảm với việc làm và cảm xúc của bà.

c1.2. Nghệ thuật: học sinh lựa chọn, phân tích một số yếu tố nghệ thuật đặc sắc 

Gợi ý: 

- Ngôi kể: ngôi kể thứ ba tạo tính khách quan cho câu chuyện.

- Cốt truyện, tình huống: sự việc gần gũi, đơn giản, quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày góp phần làm hiện lên rõ nét đặc điểm nhân vật và góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm.

- Cách xây dựng nhân vật: được khắc họa chân thực, rõ nét qua các chi tiết giản dị.

- Ngôn ngữ: giản dị, giàu cảm xúc.

...

* Liên hệ, so sánh, kết nối

Thí sinh liên hệ mở rộng với các văn bản khác; với cuộc sống và bản thân để thấy được những giá trị đặc sắc của tác phẩm, ý nghĩa sâu sắc của vấn đề.

c2. Khả năng thức tỉnh của văn chương đối với con người (1,5 điểm)

* Giải thích: Khả năng thức tỉnh của văn chương là ý nghĩa, vai trò của tác phẩm trong việc giúp người đọc nhận ra những điều mới mẻ, sâu sắc, đúng đắn, ý nghĩa....

* Bày tỏ suy nghĩ cá nhân:

- Truyện ngắn Thỏ Ragu thức tỉnh người đọc: thực trạng đáng buồn trong nhiều gia đình hiện nay, cách ứng xử với những người thân trong gia đình;...

- Khả năng thức tỉnh người đọc của văn chương:

+ Cơ sở khả năng thức tỉnh: mỗi tác phẩm là kết quả của quá trình nhận thức, chiêm nghiệm, vỡ lẽ sâu sắc của nhà văn về cuộc sống, con người. 

+ Ý nghĩa của khả năng thức tỉnh: tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm, lối sống,... của người đọc.

(Khuyến khích học sinh làm sáng tỏ qua một số tác phẩm khác)

 d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: 

 - Đảm bảo cấu trúc 3 phần: (0,5 điểm)

mở bài xác định đúng vấn đề nghị luận; thân bài triển khai vấn đề nghị luận; kết bài khẳng định vấn đề.

 - Xây dựng hệ thống luận điểm: (1,0 điểm)

 + Xác định và nêu được hệ thống luận điểm rõ ràng; sắp xếp hệ thống luận điểm hợp lý.

+ Luận điểm đúng đắn, đầy đủ để làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: (1,5 điểm)

+ Lí lẽ xác đáng, thuyết phục

+ Bằng chứng tiêu biểu, phù hợp

+ Kết hợp giữa lí lẽ và bằng chứng chặt chẽ để làm sáng tỏ luận điểm, luận đề

+ Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

đ. Diễn đạt (0,5 điểm)

Đảm bảo chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

e. Sáng tạo (0,5 điểm)

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

[1] Ragu (ragout): là một phương pháp nấu ăn có nguồn gốc ẩm thực từ Pháp và Ý.