ĐỀ THI OLYMPIC MÔN CHUYÊN 

DÀNH CHO HỌC SINH THCS LẦN I

Ngày thi: 31/3/2024

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 150 phút, không tính thời gian phát đề 

Câu 1 (2,0 điểm)

Đọc văn bản:

MỘT ĐỜI ÁO NÂU

Nguyễn Văn Song

Một đời mẹ mặc áo nâu

Bao nhiêu tấm cũng một màu đất đai

Rách lành kế những hôm mai

Áo như đời mẹ sờn phai mỗi ngày

Áo nâu bạc, áo nâu gầy

Áo như thửa ruộng chở đầy nắng mưa

Lằng nghe sợi vải ngày xưa

Thấy trong mặn chát đã thừa mồ hôi

Bao nhiêu nước mắt mẹ rơi

Áo nâu gói cả những lời xót xa

Mẹ như sông phía quê nhà

Dốc lòng đôi vạt phù sa lặng thầm

Mẹ đi về phía trăm năm

Con ngồi xếp những nâu trầm mà thương

Thôi đành nhờ cả khói sương

Áo nâu ơi, hãy theo đường mẹ đi 

(Báo Văn nghệ Hải Dương, số ra ngày 18/10/2020

Thực hiện các yêu cầu: 

a. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ sau: Mẹ như sông phía quê nhà/Dốc lòng đôi vạt phù sa lặng thầm

b. (1,0 điểm) Thông điệp có ý nghĩa nhất mà bài thơ mang đến cho anh/chị là gì? Vì sao?

Câu 2 (3,0 điểm)

Từ ý thơ trong bài thơ ở Câu 1, anh/chị hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ về cách để người con tri ân cha mẹ. 

Câu 3 (5,0 điểm)

Bàn về việc đọc văn học văn, nhà phê bình văn học Trần Đình Sử có viết: 

Nhưng dù dùng phương pháp nào, chung quy, đọc văn là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời, là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học. 

(Trích Đọc văn - cuộc chơi tìm ý nghĩa - Trần Đình Sử, Ngữ văn 8, Tập hai (Kết nối tri thức và cuộc sống), NXB Giáo dục Việt Nam, 2023, tr. 67)

Anh/chị hãy cảm nhận các đoạn trích sau để làm sáng tỏ nhận định trên:

Một đời mẹ mặc áo nâu

Bao nhiêu tấm cũng một màu đất đai

Rách lành kế những hôm mai

Áo như đời mẹ sờn phai mỗi ngày

Áo nâu bạc, áo nâu gầy

Áo như thửa ruộng chở đầy nắng mưa

Lằng nghe sợi vải ngày xưa

Thấy trong mặn chát đã thừa mồ hôi

(Trích Một đời áo nâu - Nguyễn Văn Song, Báo Văn nghệ Hải Dương, số ra ngày 18/10/2020)

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm 

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...

(Trích Bếp lửa - Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr.144-145)

……………..Hết……………

ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu 1. Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu (2,0 điểm)

a. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu thơ (1,0 điểm)

- Biện pháp tu từ so sánh: người mẹ được so sánh với dòng sông phía quê nhà, lặng thầm dốc lòng gieo hạt phù sa.

- Tác dụng:

 + Khắc họa hình ảnh người mẹ vừa thân thương, gần gũi vừa lớn lao, cao cả.

 + Thể hiện tình yêu và niềm cảm phục của người con đối với đức hi sinh thầm lặng của mẹ. 

 + Tạo cách diễn đạt giàu hình ảnh, hàm súc, gợi nhiều liên tưởng.

b. Thông điệp có ý nghĩa nhất mà bài thơ mang đến (1,0 điểm)

- Nêu thông điệp: Thí sinh lựa chọn thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân mình. Gợi ý: Thấu hiểu sự vất vả, đức hi sinh của mẹ; Nhắc nhở người con lòng biết ơn đối với cha mẹ; Hãy báo hiếu cha mẹ trước khi quá muộn…

- Lí giải: Nội dung thông điệp được lựa chọn giúp định hướng nhận thức và hành động của bản thân theo hướng tích cực như thế nào?

Câu 2. (3,0 điểm)

Từ ý thơ trong bài thơ ở Câu 1, hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ về cách để người con tri ân cha mẹ.

* Yêu cầu về kĩ năng: 

Thí sinh biết viết một bài văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí; vận dụng thành thạo các thao tác lập luận để làm sáng tỏ vấn đề; dẫn chứng phù hợp, thuyết phục; bố cục mạch lạc; diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

* Yêu cầu về kiến thức: 

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được các nội dung cơ bản sau:

2.1. Mở bài (0,25 điểm)

Nêu vấn đề nghị luận: cách để người con tri ân cha mẹ.

2.2. Thân bài

a. Giải thích (0,25 điểm)

- cách để người con tri ân cha mẹ: là những biểu hiện, việc làm của người con nhằm thể hiện sự thấu hiểu, biết ơn và đền đáp công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.

b. Bàn luận, chứng minh (1,75 điểm)

- Cha mẹ cho con hình hài, cho con sự sống, dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con. Con cái cần biết cách tri ân cha mẹ.

- Cách để người con tri ân cha mẹ: 

+ Biết cách đặt mình vào vị trí của cha mẹ để thấu hiểu, bày tỏ sự đồng cảm, tôn trọng suy nghĩ, mong muốn của họ.

+ Biết cách bày tỏ lòng biết ơn với cha mẹ bằng lời nói, việc làm cụ thể (vâng lời, lắng nghe dạy bảo, yêu thương, quan tâm, động viên, chăm sóc, giúp đỡ, cung kính, cảm kích, phụng dưỡng…) trong cuộc sống hàng ngày.

+ Nỗ lực rèn luyện bản thân (sức khỏe, tri thức, đạo đức…) để cha mẹ an tâm và tự hào.

- Biết cách tri ân cha mẹ, trở thành người con hiếu thảo là cách mỗi người tự hoàn thiện bản thân, tạo dựng mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Nếu con cái không biết cách tri ân cha mẹ (dù có tấm lòng, tình cảm thật sự) sẽ tạo khoảng cách giữa cha mẹ và con cái, khiến cha mẹ buồn lòng và chính mình sẽ phải ăn năn, hối tiếc.

(Thí sinh cần có dẫn chứng phù hợp)

c. Mở rộng (0,25 điểm)

- Phê phán hiện tượng vô tâm, vô cảm, thậm chí bất hiếu của một số người làm con trong xã hội hiện nay.

- Biết cách tri ân cha mẹ không có nghĩa là răm rắp vâng lời ngay cả khi cha mẹ không đúng chuẩn mực, cần biết cách giúp cha mẹ nhận ra lẽ phải, rút ngắn khoảng cách giữa các thế hệ.

d. Rút ra bài học (0,25 điểm)

- Biết cách tri ân cha mẹ là phẩm chất và hành động cần có ở mỗi người.

-Biết cách tri ân cha mẹ tạo nét đẹp cần phát huy trong văn hóa người Việt.

2.3. Kết bài: (0,25 điểm)

Khẳng định vấn đề nghị luận. 

Câu 3. (5,0 điểm)

Bàn về việc đọc văn học văn, nhà phê bình văn học Trần Đình Sử có viết: 

Nhưng dù dùng phương pháp nào, chung quy, đọc văn là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời, là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học.

Cảm nhận hai đoạn trích để làm sáng tỏ nhận định trên:

Một đời mẹ mặc áo nâu … Thấy trong mặn chát đã thừa mồ hôi

(Trích Một đời áo nâu - Nguyễn Văn Song)

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa… - Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...

                                                                               (Trích Bếp lửa - Bằng Việt)

* Yêu cầu về kĩ năng: 

- Thí sinh có kĩ năng làm bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học và làm sáng tỏ qua hai đoạn trích trong Một đời áo nâu của Nguyễn Văn Song và Bếp lửacủa Bằng Việt.

- Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt, văn phong trong sáng; dùng từ, đặt câu chuẩn xác, không mắc lỗi chính tả.

* Yêu cầu về kiến thức: 

Trên cơ sở những hiểu biết về tác phẩm Một đời áo nâu của tác giả Nguyễn Văn Song và Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt để làm sáng tỏ ý kiến của nhà phê bình Trần Đình Sử. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

3.1. Mở bài: (0,25 điểm)

- Dẫn dắt, nêu ý kiến: Nhưng dù dùng phương pháp nào, chung quy, đọc văn là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời, là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học. 

- Hai đoạn trích trong Một đời áo nâu của Nguyễn Văn Song và Bếp lửa của Bằng Việt tiêu biểu cho nhận định trên (trích dẫn).

3.2.Thân bài:

a. Giải thích ý kiến của Trần Đình Sử: (0,5 điểm)

- Ý kiến khẳng định mục đích, yêu cầu của việc đọc văn: Đọc văn là hoạt động đọc, tìm hiểu, cảm thụ, khám phá tác phẩm văn học; qua đó, tìm hiểu, khám phá thế giới và cuộc sống con người - vốn luôn rộng lớn, phong phú hơn so với văn bản văn học; xác định ý nghĩa cuộc đời đối với mỗi con người.

- Xuất phát từ đặc trưng của văn học và việc đọc văn: 

+ Văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh cuộc sống, nên thông qua văn bản văn học, người đọc văn có thể tìm hiểu, khám phá đời sống, thế giới và cuộc đời - vốn luôn lớn rộng, phong phú, đa dạng (như văn bản lớn hơn văn bản văn học).

+ Văn bản văn học khơi gợi suy ngẫm ở bạn đọc, tìm ý nghĩa cuộc đời, để thoả mãn nhu cầu nhận thức, giáo dục cũng như bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ cho bản thân.

b. Cảm nhận, phân tích hai đoạn trích để làm sáng tỏ nhận định

b1. Đoạn trích trong Một đời áo nâu của Nguyễn Văn Song

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (0,25 điểm)

- Bài thơ Một đời áo nâu của Nguyễn Văn Song

- Đoạn trích: Phần đầu tác phẩm, là lời của người con, khắc hoạ hình ảnh người mẹ một đời mặc áo nâu bình dị, vất vả, lam lũ trong tình cảm yêu thương xa xót của con sau ngày mẹ từ giã cõi đời.

* Cảm nhận, phân tích (1,0 điểm)

- Hình ảnh người mẹ một đời mặc áo nâu mộc mạc, bình dị: tấm áo mang màu đất đai, rách lành, sờn phai qua thời gian - giống như cuộc đời mẹ từng ngày trôi qua, hao khuyết dần theo năm tháng (hình ảnh gần gũi, quen thuộc mà gợi cảm; số từ tương phản mang ý nghĩa khẳng định; cách so sánh kết hợp tính từ, từ ngữ chỉ thời gian giàu xúc cảm…) 

- Trong cảm nhận của con, áo nâu và mẹ đã hoà làm một:

+ Hình ảnh ẩn dụ áo nâu vừa tả thực vừa gợi hình dung về người mẹ qua bao năm tháng dãi dầu, khó nhọc: Cách điệp hình ảnh áo nâu với tính từ miêu tả (bạc, gầy) và cách so sánh Áo như thửa ruộng … nói lên sự hoà quyện áo - mẹ: như thửa ruộng nhận hết mọi nắng mưa, để làm nên cánh đồng màu mỡ - mẹ cũng chịu đựng bao gian khó để có được những thành quả tốt đẹp nhất cho con -> Hình ảnh người mẹ vừa  khắc khổ, lam lũ vừa lớn lao.

+ Trong mỗi sợi vải áo nâu thấm bao giọt mồ hôi mặn chát của mẹ: ý thơ được biểu đạt vừa giản dị vừa độc đáo: từ ngữ chuyển đổi cảm giác (lắng nghe sợi vải, thấy trong mặn chát - thừa mồ hôi), từ cảm nhận bằng nhiều giác quan mà liên tưởng đầy xúc động (thừa mồ hôi), giọng thơ thương cảm xa xót … 

 Hình ảnh người mẹ gần gũi, đáng cảm phục trong tình cảm thương xót của người con.

b2. Đoạn trích trong bài Bếp lửa của Bằng Việt

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (0,25 điểm)

- Nhà thơ Bằng Việt, bài thơ Bếp lửa.

- Đoạn trích: phần cuối tác phẩm, tiếp nối dòng hồi tưởng kỉ niệm tuổi thơ bên bà và bếp lửa trong những năm tháng khó khăn gian khổ; là lời của người cháu nói lên suy ngẫm về bà và nỗi nhớ bà cùng bếp lửa khi đã đi xa. 

* Cảm nhận, phân tích (1,25 điểm)

-  Suy ngẫm về bà:

 + Cuộc đời nhiều gian khổ, khó nhọc: Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa (từ láy biểu cảm lận đận, đảo ngữ, lặp lại hình ảnh ẩn dụ nắng mưa quen thuộc mà gợi cảm - đã xuất hiện ở 3 câu đầu bài thơ …)

 + Cháu khắc sâu hình ảnh quen thuộc của bà gắn bó cùng bếp lửa: 

  . Bà luôn dậy sớm nhóm bếp lửa trong suốt mấy chục năm (số từ chỉ thời gian, từ tận chỉ sự tiếp nối dài lâu, từ vẫn chỉ trạng thái tồn tại bất biến không thay đổi) 

  . Việc nhóm bếp của bà để lại trong cháu bao ấn tượng sâu đậm: 

     /Bếp lửa ấm áp từ bàn tay chi chút, khéo léo của bà (ấp iu nồng đượm )

     /Tình yêu thương của bà trong những thứ bình dị, đơn sơ như khoai sắn ngọt bùi

     /Sự chia sẻ niềm vui khi nấu xôi gạo mới giản dị, mộc mạc

     /Đặc biệt, bà đã khơi dậy, đánh thức trong cháu bao tình cảm, cảm xúc thời thơ ấu, để cháu có tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương.

    /Tất cả những điều ấy, với cháu đã trở thành kì lạ, thiêng liêng, làm  trào dâng trong cháu niềm xúc động mãnh liệt khi nhớ lại. 

     (Phân tích các tín hiệu nghệ thuật: điệp từ nhóm gợi nhiều liên tưởng, từ ngữ gợi tả gợi cảm (từ láy, động từ - tính từ, từ cảm), hình ảnh quen thuộc, gần gũi (khoai sắn, nồi xôi gạo mới, đặc biệt lặp lại hình ảnh bếp lửa ấp iu nồng đượm (đã xuất hiện ở 3 câu đầu bài thơ),  ẩn dụ có ý nghĩa sâu xa, câu cảm thán…)     

- Nỗi nhớ bà và bếp lửa của người cháu:

+ Trở lại hiện tại: Câu thơ tự sự, điệp từ có và liệt kê hình ảnh gợi nên hiện tại cuộc sống của cháu khi xa bà: hiện đại hơn, đầy đủ hơn, nhiều niềm vui…   

+ Bày tỏ nỗi nhớ da diết với bà: Câu khẳng định dùng chuỗi từ ngữ nhấn mạnh cảm xúc không đổi thay nhưng vẫn chẳng lúc nào quên …, câu hỏi tu từ tha thiết, khắc khoải, dư ba…

Dòng hồi tưởng giàu cảm xúc và suy ngẫm sâu sắc của tác giả về người bà đáng kính, đáng trọng.

b3. Làm sáng tỏ ý kiến: (0,75 điểm)

- đọc văn là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời:

   Qua cảm nhận hai đoạn trích, người đọc thấy được thế giới, cuộc đời chân thực, sống động với những con người bình dị mà lớn lao, những tình cảm đẹp đẽ: 

 + Cuộc sống của nhân dân trong những tháng năm chiến đấu và xây dựng đất nước gặp nhiều khó khăn, gian khổ, song ấm áp tình người, tình đời. 

 + Những người mẹ, người bà sống một đời vất vả, lo toan, khó nhọc nhưng ngời lên sư nhẫn nại, tình yêu thương vô bờ bến, đức hi sinh thầm lặng...

 + Tình cảm xót thương chân thành, tha thiết của những người cháu, người con dành cho bà, cho mẹ, hoà trong tình cảm gia đình, quê hương, đất nước...

- đọc văn là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học : 

  Từ cảm nhận hai đoạn trích, người đọc có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc đời: 

 + Trân quí những điều tốt đẹp ở con người và những tình cảm tốt đẹp trong cuộc đời. 

 + Sống yêu thương, ân nghĩa, thuỷ chung để góp phần tạo dựng và nhân lên những tình cảm, những quan hệ  tốt đẹp cho cuộc sống, để đem hạnh phúc đến cho bản thân và mọi người.

c. Đánh giá, mở rộng (0,5 điểm)

- Hai đoạn trích cho thấy quan niệm đọc văn của nhà phê bình Trần Đình Sử hoàn toàn xác đáng. 

 - Nghệ sĩ cần phải gắn bó với cuộc đời, sáng tạo những tác phẩm có giá trị, giúp cho người đọc văn hiểu về thế giới, cuộc đời qua văn bản văn học. 

- Người đọc văn cũng cần khám phá, cảm nhận sâu sắc văn bản, để thông qua văn bản văn học mà nâng cao hiểu biết về thế giới, cuộc đời, và tìm thấy ý nghĩa cuộc đời đích thực qua văn bản văn học.

3.3. Kết bài (0,25 điểm)

- Khẳng định lại nhận định và vẻ đẹp của hai đoạn trích.

- Bày tỏ cảm nghĩ của bản thân.

* Lưu ý:

1. Cán bộ chấm thi cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, cán bộ chấm thi cần linh hoạt trong quá trình chấm, tránh đếm ý cho điểm; khuyến khích những bài viết sáng tạo, có cảm xúc.

2. Bài thi được chấm theo thang điểm 10, làm tròn đến hai chữ số thập phân.