HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN VÙNG DH&ĐB BẮC BỘ

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI

LẦN THỨ XVI, NĂM 2025

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11

Thời gian làm bài: 180 phút

Ngày thi: 21 tháng 4 năm 2025

(Đề thi gồm 02 câu, trong 02 trang)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Ở Tây Bắc có một bản nhỏ người Thái đen nằm cách chân đèo Chiềng Đông chừng dặm đường. Bản tên là Hua Tát.

Bản Hua Tát ở trong thung lũng hẹp và dài, ba bề bốn bên là núi cao bao bọc, cuối thung lũng có hồ nước nhỏ, nước gần như không bao giờ cạn. Xung quanh hồ, khi thu đến, hoa cúc dại nở vàng đến nhức mắt.

Từ thung lũng Hua Tát đi ra bên ngoài có nhiều lối. Lối đi chính rải đá, vừa một con trâu. Hai bên lối đi này đầy những cây mè loi[1], tre, vầu, bứa, muỗm và hàng trăm thứ cây dây leo không biết tên gọi là gì. Lối đi này đã in dấu chân nhiều người. Trong số đó, từng nghe có cả một vị hoàng đế.

Thung lũng Hua Tát ít nắng. Ở đây quanh năm cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc nên nhìn người và vật thì chỉ nhìn thấy những nét nhòa nhòa đại thể mà thôi. Đây là thứ không khí huyền thoại.

Ở Hua Tát, những chuyện cổ như những bông hoa dại, màu vàng nhạt, bé như khuy áo, điểm đâu đó quanh rào trong các ngõ nhỏ. Đàn ông ngậm hoa này trong miệng uống rượu không bao giờ say. Nó cũng giống như những viên đá cuội trắng có gân đỏ, mảnh như sợi chỉ nằm kín đáo nơi lòng suối. Phụ nữ thích những viên sỏi này. Họ nhặt nó về ủ trong áo lót đủ một trăm ngày. Khi làm đệm cho chồng, họ giấu viên sỏi đó vào trong. Có lời nguyền rằng người chồng nằm trên đệm ấy sẽ không bao giờ mơ tưởng đến những phụ nữ khác.

Hua Tát là một bản nhỏ cô đơn. Người dân ở đây sống giản dị, chất phác. Công việc nương rẫy nhọc nhằn vất vả. Cả việc săn bắt cũng thế. Tuy nhiên, người dân ở đây lại rất rộng lòng mến khách.

Đến Hua Tát, khách sẽ được mời ngồi bên bếp lửa, uống sừng rượu cần với xeo thịt rừng sấy khô. Nếu khách là một người công minh, chính trực, chủ nhà sẽ mời khách nghe một câu chuyện cổ. Có thể những chuyện cổ ấy nói nhiều đến nỗi đau khổ con người, nhưng chính hiểu rõ những đau khổ ấy mà ở trong ta nảy nở ra sự sáng suốt đạo đức, lòng cao thượng, tình người.

Những người sống trong chuyện cổ bây giờ đều không còn nữa. Ở Hua Tát, họ đều biến thành đất bụi và tro than cả[2]. Tuy vậy, linh hồn của họ vẫn bay thấp thoáng trên các khau cút[3]  nhà sàn.

Như những ngọn gió.

(Nguyễn Huy Thiệp, Những ngọn gió Hua Tát, in trong tập Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn học, Hà Nội, 2019, tr.12-13.)

Câu 1. (8,0 điểm). Trong văn bản, tác giả cho thấy người dân ở thung lũng Hua Tát có sự quý trọng đặc biệt dành cho người khách nào “công minh, chính trực”. Từ sự quý trọng đó, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: “Người công minh, chính trực”.

Câu 2. (12,0 điểm). Từ cảm nghĩ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp về những chuyện cổ ở thung lũng Hua Tát và trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận bàn về vẻ đẹp của truyện hiện đại.

------------------ HẾT ------------------

HƯỚNG DẪN CHẤM THI MÔN NGỮ VĂN - LỚP 11

Câu 1 (8.0 điểm): 

Trong văn bản, tác giả cho thấy người dân ở thung lũng Hua Tát có sự quý trọng đặc biệt dành cho người khách nào “công minh, chính trực”. Từ sự quý trọng đó, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: “Người công minh, chính trực”.

1. Dẫn dắt, nêu vấn đề (1.0 điểm)

(Gợi ý: Trong văn bản, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy sự quý trọng của người dân bản Hua Tát dành cho người “công minh, chính trực”. Vậy người công minh, chính trực là người như thế nào? Tại sao họ nhận được sự quý trọng của người đời?) 

2. Giải thích (1.0 điểm)

+ Công minh: sáng suốt, quý trọng sự công bằng, không thiên vị ai.

+ Chính trực: ngay thẳng, trung thực, không vì lợi ích cá nhân mà làm điều sai trái.

→ Người công minh, chính trực là người lương thiện, có các phẩm chất tốt đẹp, được mọi người quý trọng.

3. Bàn luận (5.0 điểm):

3.1. Biểu hiện của người công minh, chính trực (1.5 điểm)

- Trung thực và thẳng thắn, sáng suốt và công bằng, khách quan, vô tư trong nhận định, đánh giá, xử lý các mối quan hệ xã hội, công việc.

- Bình thản trước danh lợi, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, không để danh lợi cám dỗ dẫn đến cư xử thiên vị, bất công.

3.2. Giá trị của người công minh, chính trực (2.5 điểm)

- Nhân cách cao thượng (tự trọng, không bị khuất phục trước lợi ích vật chất hay quyền lực.)

- Được mọi người tín nhiệm, tin cậy, quý trọng.

- Góp phần xây dựng xã hội công bằng, lành mạnh, tử tế (ngăn chặn sự bất công, giúp xã hội phát triển lành mạnh.)

3.3. Mở rộng (1.0 điểm)

- Công minh, chính trực là bổn phận của người lương thiện, không cần khoe khoang hoặc tán tụng.

- Trong xã hội hiện nay, người công chính có thể bị hiểu lầm, ganh ghét, chịu bất công, thiệt thòi, cần được thấu hiểu, quý trọng, bảo vệ.

4. Liên hệ, bài học (1.0 điểm)

- Kiên trì rèn luyện nhân cách và ý chí để trở thành người công minh, chính trực.

- Biết yêu mến, quý trọng và bảo vệ người công minh, chính trực.

Câu 2 (12.0 điểm): 

Từ cảm nghĩ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp về những chuyện cổ ở thung lũng Hua Tát và trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận bàn về vẻ đẹp của truyện hiện đại.

1. Dẫn dắt, nêu vấn đề (1.0 điểm): 

(Gợi ý: với Nguyễn Huy Thiệp, những chuyện cổ ở thung lũng Hua Tát có hình thức giản dị, kín đáo, chứa đựng giá trị nhân sinh sâu sắc. Cảm nghĩ đó của Nguyễn Huy Thiệp gợi sự liên hệ, kết nối, giúp nhận thức về vẻ đẹp của truyện hiện đại.) 

2. Giải thích (1.0 điểm)

- Chuyện cổ: là thể loại truyện kể dân gian, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, thường phản ánh ước mơ, khát vọng và đạo lý giản dị của nhân dân, giúp giáo dục nhân cách cho thế hệ sau.

- Truyện hiện đại: gồm truyện ngắn, tiểu thuyết xuất hiện trong thời hiện đại, thường phản ánh hiện thực đời sống, tâm tư tình cảm và các vấn đề xã hội hiện đại, phức tạp.

3. Bàn luận (8.0 điểm)

3.1. Cảm nghĩ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp về những chuyện cổ ở thung lũng Hua Tát (2.0 điểm)

- Chuyện cổ mang vẻ đẹp giản dị, kín đáo; có tác dụng, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống con người:

+ Nguyễn Huy Thiệp ví chuyện cổ như những bông hoa dại, giản dị, màu vàng nhạt, bé như khuy áo, điểm xuyết quanh rào trong các ngõ nhỏ. → chuyện cổ mang vẻ đẹp gần gũi, mộc mạc, tự nhiên, thầm lặng, không phô trương; có giá trị như một loại thảo dược làm người ta tỉnh táo, sáng suốt.

+ Nguyễn Huy Thiệp ví những câu chuyện cổ như viên đá cuội trắng có gân đỏ, mảnh như sợi chỉ, nằm kín đáo nơi lòng suối → chuyện cổ mang vẻ đẹp kín đáo, một khi được trân trọng, thấu hiểu thì có tác dụng, ý nghĩa sâu sắc: giữ gìn đạo lý, tình yêu thương, sự chung thủy. 

- Nghe chuyện cổ – đặc ân dành cho người công minh, chính trực (chuyện cổ không phải ai cũng xứng đáng để nghe và có thể thấu hiểu; chỉ những người sống ngay thẳng, công minh mới thấu cảm được nội dung và ý nghĩa nhân sinh mà chuyện cổ truyền tải.)

- Chuyện cổ - nguồn gốc của sự sáng suốt, đạo đức, lòng cao thượng, tình người (nội dung chuyện cổ không trốn tránh hiện thực đau khổ, giúp con người đối diện với nỗi đau, từ đó nảy nở sự sáng suốt đạo đức, lòng cao thượng và lòng nhân ái.)

3.2. Vẻ đẹp của truyện hiện đại (6.0 điểm)

- Truyện hiện đại giữ gìn và tiếp nối các giá trị nhân văn truyền thống trong những câu chuyện cổ:

+ Phản ánh những điều bình dị và gần gũi trong đời sống thường nhật (Tình cảm gia đình, tình làng nghĩa xóm, lòng nhân ái, sự hy sinh thầm lặng, hạnh phúc đến từ những điều nhỏ bé, giản dị…) 

+ Phản ánh chân thực nỗi khổ đau, sự bất công và số phận mong manh, phi lí của con người.

+ Khám phá đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng, khơi gợi ý thức đạo đức, giúp con người hiểu mình và hiểu người.

- Truyện hiện đại mang những vẻ đẹp riêng so với những câu chuyện cổ:

+ Phản ánh hiện thực đương thời, khám phá những vấn đề khuất tối, phức tạp, gai góc của cuộc sống và con người thời hiện đại.

+ Khơi gợi sự đồng cảm, thức tỉnh lương tri và tình cảm nhân văn (giúp người đọc nhìn lại bản thân, thấu hiểu các vấn về luân lý éo le, phức tạp, gợi mở suy ngẫm, thay đổi nhận thức, giúp người đọc tìm ra ý nghĩa cuộc sống.)

+ Truyện hiện đại có những hình thức nghệ thuật rất đa dạng, phong phú, phức tạp, hấp dẫn, linh hoạt (cốt truyện đa tuyến, phi tuyến tính; kết cấu phân mảnh, nhân vật đa diện, người kể chuyện đa dạng; di động điểm nhìn trần thuật, lời kể chuyện biến hóa …) phù hợp với việc khám phá thế giới hiện đại phức tạp đang không ngừng biến chuyển, đổi thay.

4. Liên hệ, mở rộng (2.0 điểm)

- Một tác phẩm văn học thực sự có giá trị là tác phẩm chạm đến trái tim người đọc, để lại ý nghĩa, giá trị sâu sắc, vượt thời gian.

- Tác giả truyện hiện đại không nên chỉ chú trọng cách tân về hình thức, viết về các trải nghiệm quá riêng tư mà cần quan tâm hơn nữa đến giá trị, ý nghĩa nhân sinh: giúp độc giả biết trân trọng những điều bình dị, hướng con người đến sự công bằng, chính trực, tử tế…

- Muốn hiểu truyện hiện đại, độc giả cần hiểu biết về tác giả, bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử; kiên nhẫn trước sự phức tạp của kết cấu, chấp nhận tính liên văn bản, tính đa nghĩa và sự khó diễn giải của tác phẩm…

[1] Một thứ nứa nhỏ.

[2] Người Thái đen có tục chôn cất người chết hoặc hỏa táng.

[3] Biểu tượng trên nóc nhà sàn.