Sài Gòn Xưa - Những Câu Chuyện Đi Qua Năm Tháng

Ngẫm Xưa Và Nay
4 Người theo dõi
139 Lượt xem video·21 thg 9, 2026
Sài Gòn hồi đó, mỗi năm tháng trôi qua là để lại một lớp chuyện đời, nghe tưởng nhẹ tênh mà nghĩ kỹ thì nặng trĩu trong lòng. Có chuyện vui, chuyện buồn, chuyện làm ăn, chuyện đổi dời… tất cả gom lại thành cái hồn vía của đất này.
https://www.youtube.com/watch?v=9eIj2YD3WR0
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIA nostalgic exploration of Saigon from the early 20th century to the 1970s, detailing its evolution from a colonial hub to a modern city. The content highlights the intersection of Eastern and Western influences, the shift in urban mobility, and the resilience of its people through economic changes and wartime tensions.
Comments are disabled for this video.
Trần năm 1969, đoạn đường Lê Lợi, khu trung tâm Sài Gòn, đã thấy rõ một thứ gian minh xe gắn máy lan rộng khắp đô thành.
Thổ trước, xe hơi còn là của hiếm, nhưng tới giai đoạn này, mấy loại Honda, Yamaha, Suzuki từ Nhật Bổn tràn vô trở thành phương tiện chánh của giới công chức, sinh viên, giới dân buôn bán nhỏ.
Thành thử, chuyện đậu xe bắt đầu thành ra một cái khó, phố xá dốn quy hoạch từ thời Tây, mặt đường đầu có nở thêm, mà xe thì ngày một nhiều.
Chánh quyền phải đặt ra lệ đậu xe, phân lệ cho đàng hoàng, vậy mà vẫn không suể, nên mới có cảnh xe xếp ken đặt, nhìn vô là hiểu nhiệm sinh hoạt với sức làm ăn của Sài Gòn đã tới hồi chen chút.
Cở đầu những năm 60, ngày góc đường tự do, Thái lập thành, chỗ Sài Gòn đê ba tô nổi danh, như một nơi lui tới của lớp người có máu tiêu xài theo kiểu Tây phương.
Cái tiệm này đâu phải chỉ để mua sắm không thôi, mà còn là chỗ người ta dạo mát, ngó nghiêng, coi thiên hạ ăn mặc ra sao cho hợp thời.
Dân Sài Gòn thổ đó đã quen với cái nếp shop bên nửa Tây nửa ta, bước vô mấy gian hàng mát rượi, có máy lạnh, cũng là một cái thú tiêu khiển chứ không riêng chi chuyển mua bán.
Thành thử, cái góc phố này riết rồi thành một điểm hẹn ngầm của giới thị dân ưa cái lối sống tân tiến.
Sài Gòn năm 68, trên đường Nguyễn Huệ, cái bảng photo copay treo chém chệ trước một tiệm nhỏ, coi vậy mà gợi ra một chuyện đáng nhớ.
Dân Sài Gòn thổ ấy quen dùng tiếng Tây trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là mấy nghề dính tới giấy tờ, gian thư.
Bởi vậy, thay vì nói theo lối Mỹ là photo copy, người ta dẫn giữ chữ photo copay như một thói quen còn sót lại từ hồi thuộc địa.
Mấy tiệm in ứng, sao chụp quanh khu trung tâm này thường phục vụ công chức, luật sư, học trò, nên cách dùng chữ cũng theo nếp hành chánh cũ.
Thành thử, chỉ cần đọc cái bản hiệu không thôi, cũng đủ thấy một lớp gian hóa chữ nghĩa còn động lại giữa lòng đô hội.
Năm 1965, tại khu Bến Thành, ngã 6 trước chợ Bến Thành, cái bùng binh này là một thứ cái bụng của Đô Thành.
Hễ xe cổ từ Trần Hưng Đạo, lê lợi, hàm nghi, phan bội châu mà muốn đi đâu nữa cũng phải ghé qua.
Thổ đó, người ta chưa quen đèn xanh đèn đỏ như về sau, nên chuyện lưu thông phần nhiều nhờ vô ý tứ.
Kẻ chạy xe, người đạp xích lô, xe lam che nhau mà tránh, coi bộ rối rắm mà thiệt ra vẫn có lớp lan riêng.
Chỗ này lại còn là đầu mối buôn bán lớn, hàng hóa từ chợ lớn đổ lên, dân tứ xứ tụ về, thành thử lúc nào cũng dộn nhịp như cái mạch máu không ngơi của Sài Gòn.
Chừng năm 67-68, ngày ngã 3 đường tự do giao giới Nguyễn Thiệp, khu này được coi như đất dàng của giới làm ăn giới tiêu khiển.
Mấy tiệm mang bản hiệu Tây, từ quán rượu, tiệm may cho tới hãng xe, che nhau mở cửa, phục vụ hãng khách có tiền, nhất là lính Mỹ giới dân ngoại quốc.
Nhưng phía sau cái vẻ dộn nhịp đó lại là một đường dây buôn bán coi vậy mà tinh duy, chủ tiệm phải biết đổi tiền, biết giao thiệp đủ thứ tiến, lại còn rành luật lệ quân quản từng lúc.
Thành thử, con phố này đâu phải chỉ là chỗ ăn chơi không thôi, mà còn là nơi thử cái tài lanh trí của dân Sài Gòn giữa buổi chiến cuộc còn gian mắt.
Cỡ năm 1962, khu công trường Mê Linh từ lúc trời còn chưa tỏ mặt đã có một lớp người âm thầm làm việc, ít ai để ý tới.
Nghề quét đường thổ đó đâu phải chuyện nhẹ, phần đông là dân nghèo từ mấy miệt gian lên, lãnh công nhật ít ỏi mà phải dậy từ sớm tinh mơ.
Công việc coi vậy chứ có kỷ luật đàng hoàng, mỗi người lo một đoạn, quét xong còn phải gom rác cho gọn, giữ cho lối đi sạch sẽ trước khi xe cổ bắt đầu đông.
Nhà chức trách hội ấy cũng coi trọng chuyện vệ sinh đô thị, bởi Sài Gòn vốn được kêu là hòn ngọc diễn đông,
nên mấy diệt tưởng nhỏ nhoi như vầy lại chính là cái nền giữ cho bộ mặt thành phố luôn tương tất.
Năm 1964, ở khu thảo Cầm Viên Sài Gòn, hệ tới dịp lễ lớn, hai ngày tưởng niệm là người ta tù lại đông như kiến.
Mấy cô thiếu nữ mặc áo dài trắng, tay cầm dòng hoa kết bằng cúc giới dạng thọ, đứng xếp hàng đợi tới lượt dân lên, coi vậy mà không phải chỉ là chuyện hình thức.
Thổ đó, lớp thanh niên học đường thường được dẫn động tham gia mấy buổi lễ công cộng,
vừa để bày tỏ lòng tưởng niệm, vừa như một cách rèn kỷ luật giới ý thức cộng đồng.
Người ngoài coi tưởng đơn giản, chớ phía sau là cả một nề nếp tổ chức chặt chẽ, từ nhà trường tới mấy hội đoàn.
Thành thử, mỗi dòng hoa trao đi, coi vậy mà là một phần của cái trực tự xã hội thổ ấy, chớ đâu phải chuyện riêng ai.
Năm 1965, khu ngã 6 Phù Đỗng là chỗ thiên hạ qua lại như mắt cửi, mà cũng là nơi mấy hãng ngoại quốc tranh nhau dành mắt người đi đường.
Trong đám đó, hãng kem đánh răng hai nốt chơi một nước quảng cáo thiệt táo bạo,
đem hình ông da đen cười hề hề in thiệt lớn, treo trình ịnh giữa phố, ai đi ngang cũng phải ngó.
Cái lối làm ăn này đâu phải tình cờ, mà là chiêu đánh thẳng vô trí nhớ dân Sài Gòn,
khiến người ta nhớ hoài cái mặt đó mà sanh quen, rồi quen riết thành tin.
Bởi vậy, nói chuyện buôn bán thổ ấy đâu chỉ là món hàng không thôi,
mà còn là cái nghệ thuật chiếm lấy lòng người giữa chốn đô hội phồn hoa.
Cỡ năm 1968, ở mấy con hẻm quanh khu bàn cờ, chợ Thái Bình,
người ta bắt đầu thấy phụ nữ Sài Gòn ư chuộng kiểu đồ mặc liền thân,
mây bằng giải bông ngoại nhập, hoa lá coi bộ sạc sở mà vẫn gọn gàng, tiện diệt đi đứng.
Thổ đó, ảnh hưởng Tây Phương lần lần len vô nếp ăn mặc,
nhưng người mình biết lựa cách biến cãi cho hợp dốc dáng Á Đông,
nên coi vừa kính đáo mà cũng vừa tân thời.
Mấy cô gái thành thị khi ra đường, thường mang thêm kiến mắt,
mang giày thấp, tạo nên cái dáng đi ung dung,
không cần phô trương mà vẫn nổi bật giữa chốn chợ búa đông đúc.
Thành thử, cái cách ăn mặc này,
coi vậy mà cho thấy một Sài Gòn biết tiếp nhận cái mới,
mà vẫn giữ được cái cốt cách riêng của mình.
Năm 1958, ở khu chợ lớn, mấy hội quán người hoa,
hẻ tới mua ví lớn la rộn ràng từ trong ra ngoài.
Trong chánh biện, bàn thờ bày biện đâu ra đó,
nhanh khói nghi ngút, mà cái chánh lại nằm ở công chuyện soạn lễ,
việc này đâu phải ai muốn làm sao cũng được.
Người coi việc phải rành lễ cúng, biết thứ tự dân đồ,
từ trái cây, trà rượu cho tới dàn bạc giấy,
cái nào trước, cái nào sau, sai một chút là coi như thất lễ giới bề trên.
Hỡ đó, mấy gia đình buôn bán lớn ở đường Triệu Quang Phục
hay Nguyễn Trãi thường góp tiền làm lễ chung,
vừa để cầu an, vừa giữ mối ban giao trong ban hội,
coi như chuyện tính ngưỡng mà cũng là phép tắt làm ăn vậy.
Cỡ năm 1969, đoạn đường Nguyễn Huệ lúc bấy giờ
đã lần lần lột xác thành một trục buôn bán sang trọng,
nơi mấy cơ sở mang tên Tây Phương chen dai sát cánh giới tiệm người hoa lâu đời.
Cái bản International House dựng cao đâu phải chỉ để làm kiển,
mà là dấu hiệu cho một lớp thương gia mới,
chuyên làm ăn giới khách ngoại quốc,
tiền bạc vô ra theo kiểu hiện đại, khác giới lối tiệm phố truyền thống.
Mấy hiệu kế bên như Vinh Quang, Tân Hoa Mỹ dẫn dữ nếp buôn bán Á Đông,
bản hiệu chữ háng chen chữ quốc ngữ,
coi vậy mà như muốn nói đất Sài Gòn này dốn dung nạp đủ lớp người.
Thành thử, chỉ một dãy phố thôi mà đã thấy rõ hai luồng sinh hoạt,
cụ giới mới cùng tồn tại, không bên nào lớn bên nào.
Cỡ năm 1966-67, ngay góc đường Thống Nhất, Hai Bà Trưng,
trước dãy cơ sở hành chánh của Bộ Nội Dụ,
đoạn này thường thấy bóng dáng mấy toán tuần tra, dưới xe quân dụng lui tới.
Đó là lúc Sài Gòn đang vào thời kỳ căng thẳng,
việc giữ an ninh nội đô được siết lại, nhất là quanh mấy công sở quan trọng.
Dừng cư khu này quen dần với cảnh xe nhà binh đậu chờ, lính tráng ra vô,
vậy mà nhiệp sinh hoạt thường ngày dẫn cứ tiếp diễn,
người đi làm, kẻ buôn bán không gì đó mà ngưng trệ.
Cái lạ là giữa cái không khí coi bộ nặng nề,
nếp sống đô hội dẫn giữ được cái dung hòa,
vừa nghiêm mà cũng vừa xòe xòa theo kiểu đất Sài Gòn.
Năm 1971, tại ngã tư Lê Lợi, Công Lý,
cái dãy phố buôn bán lập ngói đỏ này,
dốn là chỗ tụ của tiểu thương gốc hoa lẫn người mình,
mở tiệm tạp hóa, ăn uống, may mặt,
sang sát nhau dưới mấy hàng hiên thấp.
Từ sáng sớm, người ta đã bày hàng ra tận lề,
kẻ bán người mua chen chút,
làm cho cái không khí làm ăn coi bộ sông tụ dữ lắm.
Đặc biệt, khu này còn nổi tiếng nhờ mấy tiệm ăn bình dân,
giá cả phải chăng,
nên dân công chức giới học trò thường ghé lại ăn trưa.
Thành thử, cái gốc phố này,
coi vậy mà không hào nhán chi,
lại giữ được cái hồn buôn bán rất riêng của Sài Gòn thổ đó.
Năm 1969, đoạn đường Bà Hom,
thuộc dung Phú Lâm, chợ lớn,
hãy còn giữ cái dáng dấp nửa quê nửa tỉnh,
chứ chưa bị đô hội nuốt trọn như mấy khu nội thành.
Còn lộ đất pha đá, hai bên giường tược,
mương rạch, nhà cửa thư thất,
nền việt chuyên chợ lúa rơm,
nông sản từ mấy miệt hóc môn,
bình chánh đổ về dẫn theo lối cũ,
dùng xe bò, xe thô sơ mà đi.
Chỗ này dốn là đường thông thương dẫn vô khu chợ Phú Lâm,
nơi tiêu thụ hàng hóa cho cả một vùng ngoại ô rộng lớn.
Bởi vậy, coi bộ dáng vẽ dậy,
mà thiệt ra lại là cái mạch sống âm thầm nuôi dưỡng cái chợ lớn phía trong.
Năm 1925,
ngay góc đường Hồng Bàng, Châu Giang Liêm,
đất chợ lớn,
có cái nhà dây thép coi bộ bề thế,
mà lại là chỗ thiên hạ lùi tới rộn rịp nhất dùng.
Họ đó, muốn gửi tin về tỉnh hay đánh điện qua tận bên Tây bên Tàu,
dừng buôn bán phải lật đực chạy lại đây,
ghi từng chữ cho thầy ký đánh điện,
câu nào chữ nấy đều tính tiền ráo trọi.
Bởi vậy nên lời lẽ ai cũng gọn hơ,
mà ý tứ thì nặng như trì.
Có bữa, chỉ một bức điện không thôi,
mà định đoạt chuyện làm ăn cả tháng trời,
trễ một khắc là coi như hư nguyên mối hàng.
Thành thử, cái chỗ coi bộ lặng lẽ dậy,
mà không khí lúc nào cũng căng như dây đơn.
Năm 1965,
khu chợ cũ,
đoạn gần đường Hàm Nghi,
Tôn Thất Đạm,
có mấy tiệm sửa xe lề đường,
mà dân trong nghề quen miệng kêu là bác sĩ xe kiển.
Thổ đó, xe gắn máy mới du nhập,
ai mà có được một chiếc coi như có cuối dậy,
nên hệ xe trục trặc chút đỉnh
là đem ra đây chăm sóc liền.
Thợ thầy đâu cần bản hiệu chi cho sang,
chỉ cốt tay nghề cho dững,
nghe tiếng máy là đoán trúng bệnh,
sửa gọn gàng, khỏi thay dư món nào.
Có khi khách đứng kế bên,
vừa coi thợ làm vừa học lắm,
riết rồi cũng rành rẻ ít nhiều.
Thành thử, mấy chỗ này coi dậy,
mà thành ra cái trường dạy nghề không bảng,
truyền tay nhau từng ngón nghề sống còn.
Cỡ năm 1908,
khu chợ cá,
đất chợ lớn,
đoạn gần rạch lò gốn ăn thông ra bến Bình Đông,
là nơi tụ hội của dân làm mắm,
làm khô từ khắp lục tỉnh đổ về.
Cá từ miệt cần dụt,
cần đước theo ghe bầu chở lên,
còn cá biển thì theo đường nhà bè mà vô,
rồi dồn hết về đây trước khi tản đi các sạp lớn nhỏ.
Nghề này coi dậy chớ cực công,
phải lựa cá cho trúng mùa,
rồi ướp muối,
canh ngày canh nắng,
lỡ tay một chút là hư nguyên mẻ,
coi như mất trắng.
Bởi vậy dân trong nghề mới truyền nhau câu,
làm mắm là làm giới trời,
phải biết trong mây,
đòi gió mà tính chuyện lời lỗ.
Năm 1948,
đoạn đường Nguyễn Huệ,
ngay trước cửa thương xá Grand Margarine Chateau,
GMC,
chỗ lưu tới của lớp người có chút phong lưu,
lại sanh ra một cái lệ coi bộ cũng nên thơ,
đi đâu cũng kệ chiếc xe đạp làm bạn đường.
Thổ ấy,
xe hơi còn hiếm,
mà xe kéo thì đã lần lần lưu bóng,
thành thử xe đạp trở thành thứ phương tiện nửa tân nửa cựu,
vừa tiện lợi,
lại vừa giữ được cái dáng thanh nhã của dân thị thành.
Người đi làm,
kẻ đi dạo,
ghé ngang gởi xe rồi thông thả tảng bộ vô thương xá,
coi hàng hóa Âu Tây,
cũng là một cái thú học đòi gian minh mà không đến đổi xa xỉ.
Cái nếp ấy,
thiệt ra,
phản ánh một Sài Gòn đang chuyển mình,
lặng lẽ mà sâu sắc.
Cỡ năm 1969,
khu chợ Sài Gòn,
đoạn gần đường Lê Lợi,
mấy nghề buôn bán nhỏ gian lề đã thành ra nếp quen của người dân lao động.
Mấy người đàn bà ngồi ghế thấp,
tay chân lúc nào cũng bận rộn,
mà miệng dẫn tươi cười,
là người bán mặt cho phố,
sống nhờ dòng người qua lại hơn là kệ vô mấy cửa tiệm bề thế.
Thổ đó,
mấy sạp hàng lớn trong phố chưa chắc đã ôn hết khách,
bởi nhiều người còn ưa ghé mấy chỗ lê đường,
vừa tiện,
lại vừa có chút tinh.
Cái lối ngồi thấp,
bán sát đất như vậy,
coi vậy mà không phải là nghèo hèn chi,
mà là một cách xoay sở khôn khéo
theo nhiệp buôn bán đông đúc của Sài Gòn.
Năm 1970,
ngay bùng binh trước chợ Bến Thành,
đoạn tiếp dáp đại lộ Lê Lợi dưới đường Hàm Nghi
là chỗ tụ hội của đủ mặt bà con mưu xanh.
Chỗ này hồi đó đâu riêng chi chuyển mua bán,
mà còn là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất Sài Gòn.
Xe cổ từ chợ lớn,
khánh hội,
từng định dồn về đây rồi tỏa đi tứ phía.
Nhất là mấy chuyến xe buýt chạy liên quận,
ngày nào cũng chở không biết bao nhiêu lượt dân lao động đi làm,
học trò đi học.
Thành thử,
đứng ngay chỗ này,
chỉ cần ngó một lát là thấy được cả cái nhịp sống đô thành,
nhộn nhịp mà vẫn gọn gàng,
có lớp lang của Sài Gòn thổ ấy.
Năm 1966,
dọc theo đường Tôn Thất Thiệp,
đoạn gần góc Nguyễn Huệ,
lần lần hình thành một thứ chợ đặc biệt
mà dân Sài Gòn quen kêu là chợ trời.
Hàng hóa nơi đây phần nhiều là đồ quân tiếp dụ,
máy móc, radio, đồng hồ,
trôi nổi từ mấy kho quân nhu
hoặc theo đường buôn bán không chính thức mà ra.
Mấy sạp tạm bợi dựng sát lề,
người bán kẻ mua coi vậy mà hiểu ý nhau,
ít khi nói lớn,
trả giá thì lanh lẹ như đã quen từ trước.
Cái chỗ này,
coi bộ âm thầm dậy,
mà lại phản ánh một mặt khác của đô thành.
Khi kinh tế thời chiến len lõi vô đời sống thường dân,
sanh ra một thứ thị trường riêng,
linh động, kín đáo,
mà cũng lắm phần rủi ro.
Năm 1965,
ngay góc đường tự do Ngô Đất Kế,
giữa trung tâm quận nhất,
có một khoảng không gian mang đậm dấu ấn
sinh hoạt của giới ngoại kiều,
giới khách giãn lai.
Khu này, gần mấy khách sạn lớn giới tiệm buôn tay,
vốn là chỗ tụ của dân làm thương mại,
thông ngôn, ký giả,
lại thêm nhiều hãng du lịch giới giang phòng dịch vụ đặt trụ sở.
Từ sau Hiệp định Geneva 1954,
Sài Gòn lần lần trở thành đầu mối giao thông quốc tế,
nên mấy con đường như tự do mang một sắc thái riêng,
vừa là phố buôn bán,
vừa là chỗ giao tiếp giữa đông giới Tây.
Thành thử, chỉ riêng một góc này thôi,
cũng đủ thấy cái thế đứng của đô thành
trong dòng chảy thương mại giới ngoại giao thỏa đó.
Cỡ thập niên 1920,
tại cầu Trà Già bắc qua rạch Bến Nghé,
nối dung chợ lớn giới Sài Gòn,
có một công trình giao thông
mang nhiều ý nghĩa về đường làm ăn buôn bán.
Cây cầu này nằm ngay trục đường huyết mạch,
dẫn hàng hóa từ mấy lo gạo,
kho chứa bên chợ lớn đổ về bến tàu Sài Gòn,
nên ngày đêm ghe thuyền dưới nước,
xe kéo trên bờ qua lại không dứt.
Đặc biệt, lối đi bộ hai bên cầu
được làm riêng rẻ,
phân chi rõ ràng giới xe cổ,
coi vậy mà là cách tổ chức
giao thông khá tân tiến thời bấy giờ.
Nhờ vậy, khu này thành ra một mắc xích quan trọng
trong đường dẫn chuyển lú gạo Nam Kỳ
ra thị trường quốc tế.
Năm 1967,
khu bến xe chợ lớn,
đoạn gần đường Tổng đốc Phương
là một đầu mối giao thương
náo nhiệt bậc nhất Sài Gòn, gia đình.
Hở đó, hàng hóa
từ lục tỉnh đổ về,
nào lú gạo, trái cây,
rồi từ đây tảng đi khắp đô thành.
Mấy chuyến xe đò không phải chỉ chở khách không thôi,
mà còn kim luôn diệt chở sản dực
nhà quê lên phố,
thành thử bến xe riết rồi giống như cái chợ tạm,
kẻ mua người bán chen dai thích cánh.
Cái cảnh làm ăn ấy
coi vậy mà cho thấy một nếp buôn bán
linh động, dân buôn nhỏ lẻ
cũng có đất mà xoay sở,
không cần phải qua tay độc quyền hay ràng buộc chi
cho gác gao.
Cỡ năm 1966,
đoạn đường Lê Thánh Tôn, quận nhất Sài Gòn
chánh quyền đô thành cho đào sới
để đặt lại hệ thống ống nước mới
hầu thay mấy tuyến ống cũ kỹ
còn sót lại từ thời Tây.
Việc này nằm trong chương trình chỉnh trang đô thị,
nhất là khu trung tâm hành chánh
đến gần dinh độc lập với mấy cơ sở ngoại giao.
Thổ đó,
Sài Gòn phát triển mau,
dân cư đông đúc, nhu cầu nước mấy ngày
một tăng nên chuyện đào đường,
đặt ống coi vậy mà làm gấp rút lắm.
Dân hai bên phố tuy có phần bất tiện
nhưng cũng ráng chịu
vì ai cũng hiểu là để có nước sạch
mà xài lâu dài.
Công việc thường làm ban ngày,
có bữa kéo dài tới xế chiều,
vậy mà nhiệp sống đô thành
vẫn cứ tiếp diễn bên lề công trường,
không có ngưng lại.
Năm chừng 1962-65,
ngay đầu đại lộ hàm nghi
ăn ra Bến Bạch Đằng,
chỗ tổng nhà quang thuế đặt trụ sở
là một trong những cử ngõ giao thương
rộn riệp bật nhất Sài Gòn.
Tại đây, mọi thứ hàng hóa
từ tàu bề dưới sông Sài Gòn
đều phải qua tay kiểm soát,
đóng thuế rồi mới được phép tỏa đi khắp lục tỉnh.
Cái chế độ quang thuế thổ đó
còn theo quy củ Pháp để lại
giấy tờ, nghiêm trì, sổ sách làm rất nghiêm
nên ai buôn bán, lớn nhỏ chi
cũng phải rành luật mà theo.
Bởi vậy, khu này đâu riêng chi
là bến sông, mà còn là chỗ đo
nhịp làm ăn của cả đô thành.
Coi tàu bề ra vô đông hay thưa
là biết thời cuộc ra sao liền.
Cỡ năm 1967,
nơi một ngã tư dùng ghen Sài Gòn,
chừng khu khánh hội hay qua
phía chợ lớn, đã thấy rõ
các cảnh giao thông đủ thứ chen nhau mà đi.
Luật lệ tuy có đèn tín hiệu,
nhưng mỗi loại xe một kiểu chạy,
từ xe lam 3 bánh, xích lô đạp
cho tới mấy chiếc Honda 2 thì
cứ vậy mà luôn lách,
coi rối rắm mà vẫn trôi chạy
theo một thứ lệ ngầm không ai nói ra.
Thổ đó, dân từ các tỉnh
đổ về lập nghiệp ngày một đông,
đường xá dùng ghen chưa kịp mở mang cho xứng
nên ngã tư nào cũng thành chỗ
giao thoa đủ lớp người, đủ nếp sống.
Cái trật tự coi vậy mà không hẳn
nằm ở bản luật, mà nằm
trong thói quen nhường nhịn với các sự
rành đường của dân Sài Gòn hồi đó.
Thôi thì chuyện xưa kể tới đây cũng vừa đủ,
ai nghe thấm được chút nào thì quý chút đó.
Đời người như khó sống,
chuyện cũ tưởng mất mà thiệt ra
còn lẫn quẩn đâu đó,
chỉ chờ người chịu khó lần mò mà nhặt lại.
Nếu bạn thấy mấy mẫu chuyện tôi
góp nhặt có chút gì đáng nhớ
thì nhớ bấm theo dõi kênh Không Giới Hạn
để mai mốt còn gặp lại nhau,
còn nghe tiếp mấy chuyện xưa chưa kịp kể hết.
Còn giờ, xin kiến chào,
hẹn bữa khác mình lai ra
và mai tiếp mấy lớp bụi thời gian còn sót lại.
