Sài Gòn Xưa Dấu Yêu: Ký Ức Đô Thành Qua Từng Góc Phố, Nếp Sống | Đô Thành Tạp Ký

Ngẫm Xưa Và Nay
4 Người theo dõi
107 Lượt xem video·4 thg 9, 2026
Video này không chỉ là những thước phim lịch sử, mà còn là nếp sống, là cái tình, là hơi thở của đô thành Sài Gòn từ thập niên 1950 đến 1974. Mời bà con và các bạn cùng ngồi lại, pha một ấm trà và nhâm nhi những ký ức tuyệt đẹp này.
https://www.youtube.com/watch?v=HHuP3o8yJP8&t=946s
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis panoramic view of Saigon from the 1940s to the 1970s captures a city in transition. It explores the intersection of traditional Vietnamese values and Western influences, detailing the evolution of urban commerce, fashion, and transportation, while contrasting the rhythms of ordinary civilian life with the heavy presence of foreign military and political instability.
Comments are disabled for this video.
Năm 1966, câu yêu xe là yêu xeo, treo giữa phố, nghe tưởng như lời tỏ tình mà thiệt ra nó trúng cái nếp sống mới của Sài Gòn.
Có chiếc xe thời ấy đâu phải chuyển đi đứng, nó còn là của để dành, là phương tiện làm ăn, là bộ mặt của chủ nhân.
Bởi vậy, người ta chăm xe như chăm con ngựa quý, chọn nhớt, chọn săn cũng thành một thứ tính nhiệm gửi gắm.
Tháng 6 năm 1963, ngã bà Phan Bội Châu, Lê Thánh Tôn, coi vậy mà là chỗ đo nhiệp làm ăn của Sài Gòn.
Xe hơi đậu sang sát trước tiệm vàng, hiệu thuốc, quán ăn, người ra vô không ngước, cho thấy đồng bạc vẫn quay như bánh xe ngoài đường.
Chỉ cần đứng nơi đây một lát cũng biết chợ Bến Thành còn sung sức, bởi phố xá hưng thịnh thì thiên hạ mới dám tiêu xài.
Họ mấy cô gái chuộng sơ mi trắng, dơi chân giấy ngang gối, người lớn có người lắc đầu, nói ăn mặt tân thời quá.
Mà kiểu phục sức ấy lại báo hiệu một nếp sống mới của nữ sinh thành thị, gọn gàng, dễ đi học, dễ chạy xe,
và cũng là cái ý muốn bước ra ngoài khuôn phép cũ.
Chuyện ăn mặt coi nhỏ dậy, chơ từ đó nếp nghỉ trong nhà cũng đổi khác.
Tháng 5 năm 1971 ở Bệnh viện Chợ Rảy, lễ tuyên hứa của các nữ điều dưỡng mang một ý nghĩa riêng.
Từ đây, người con gái áo trắng gánh bổn phận gìn giữ niềm tin cho bao gia đình đang ngóng tin người thân.
Cây nến cầm trong tay nhỏ dậy mà giống ngọn đèn trước hiên nhà, soi cho người đau còn thấy đường về, để người nhà còn giữ chút hy vọng.
Số năm Bến Bạch Đăng năm 1965, coi vậy mà là chỗ thiên hạ dòm vô, dẫn nước từng ngày.
Dình thủ tướng của tướng Nguyễn Khánh nằm dưới hàng cây rợt bóng, bề ngoài yên tĩnh như nhà quang lớn.
Nhưng bên trong là nơi quyền hành đổi ngôi từng cơn gió.
Đất Sài Gòn thổ ấy nghe tình chỉnh lý, đảo chánh riết rồi nên cái cổng đóng im cũng làm người ta đoán biết thời cuộc đang xoay.
Buổi sớm ở ngã ba Nguyễn Du Cường Để, đám nhỏ khăn gói đi học đông như bầy chim non rời tổ.
Chuyện đáng nói không phải bước chân con nít, mà là cái yên tâm của người lớn trong xóm.
Còn đi học chỉ dặn đôi câu rồi để tự men theo hàng cây mà tới lớp.
Một thành phố biết giữ cho trẻ nhỏ con đường đến trường, thành phố ấy còn giữ được nếp nhà.
Tòa nhà số 103 đường Hai Bà Trưng, sau lưng nhà hát thành phố.
Từ ngày dành cho sĩ quan Mỹ cư ngụ, thì cả góc phố đổi nết, xe cộ ra rào nhiều hơn,
lính tráng, nhân viên và người làm dịch vụ tụ lại như nước chảy về chỗ trủng.
Cái nhà ấy báo rằng Sài Gòn đã thành chỗ dừng của người Mỹ, làm đổi nhiệm buôn bán quanh mấy con đường nhỏ này.
Ở mấy sạp báo đầu đường Sài Gòn, người ta thường đứng lại coi hàng tít lớn trước khi móc túi mua một tờ.
Chuyện trong nước, giá gạo, xe buýt, gánh hát hay tin ngoài biển đều theo mặt báo mà lan đi khắp phố.
Tờ báo hồi đó giống như cái chợ chữ nghĩa, ai ghé qua cũng kiếm được một điều để bàn với nhau suốt buổi cà phê.
Năm 1970, tại trịnh lãm Kỷ Nông Công Thương, đám học trò đứng quanh mấy cuộn chỉ mà ngõ say mê.
Mấy xuất trị nhỏ nho đó lại nói chuyện lớn, xứ mình đang ráng gây dựng nghề dệt, mong có thêm hàng nội hóa.
Với tụi nhỏ, sự chỉ ấy giống như đường tơ dẫn tới một ngày người mình tự làm ra thứ mình cần.
Ai nấy mong sửa máy trong nước mở thêm quài.
Ngày 20 tháng 1 năm 1966, trên đại lộ Nguyễn Quệ, người ta chen nhau không phải chỉ để mua một chợ qua chừng Tết, mà để giữ lấy cái lễ sung dày của Sài Gòn.
Giữa đám đông, mấy chùm bông bóng bay lên như báo tin xuân đã sát cửa.
Chợ qua năm nào cũng vậy, bán bông bán lá ít thôi, bán nhiều hơn là cái không khí khiến ai đi ngang cũng thấy lòng rộn ràng.
Năm 1950, trước cửa rạp Đại Quang số 63-65 đường Tổng Đốc Phương,
cái đồng vui không nằm ở tấm bảng chiếu bóng mà ở chuyện người chợ lớn đã coi rạp hát như chỗ gặp gỡ.
Gánh trái cây, xe kéo, người làm ăn, kẻ đi dạo đều ghé qua, bởi coi hát bấy giờ cũng giống như đi chợ, nghe tin tức, gặp bà con rồi mới tính chuyện mua vé vào coi tuộn bóng.
Năm 1965, ngã tư Phú Nhuận đã thành cái cổ chai của cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn.
Từ đây, người đi gia đình, gọi dắp hay vô chợ lớn đều phải ngang qua,
nên tiệm buông, đại lý và gánh hàng cứ bám theo ngã tư mà mọc lên.
Cả ngày, xe đạp, xe gắn máy chen nhau như nước con rạch gặp con kinh lớn.
Báo hiệu, đất Phú Nhuận không còn là dùng ghen lặng lẽ nữa.
Đường Trần Quốc Toãn, năm 1971-1972, nhìn từ sân bộ chỉ huy quân đội Úc, cho thấy một Sài Gòn sống trong hai nhịp khác nhau.
Phía trong là xe nhà binh và hàng rào canh gác, phía ngoài vẫn là phố xá và nếp làm ăn thường nhật.
Thành phố bấy giờ như tấm chiếu chấp giá, múi nào cũng ràng buộc với nhau.
Người qua lại có thể chỉ cách nhau một hàng rào mà như hai thế giới.
Năm 1974, trên đường Nguyễn Cư Trinh, mấy ổ bánh mì xếp cao trên chiếc bàn gỗ nói lên cái tánh buôn bán của Sài Gòn.
Hàng quá phải nằm sát lề đường mới mong gặp khách.
Người đi làm, học trò, anh đạp xích lô ghé mua ổ bánh lót dạ, thành thử cái sạp nhỏ này nuôi được cả một gia đình.
Giữa bủi chợ, bánh mì giống như nồi cơm gạo trắng của Phú Thị.
Năm 1968, mấy gánh trái cây ngồi tràn ra lề đường như vầy mới thấy cái bụng dân Sài Gòn dai sức dữ.
Chợ búa khi thạnh khi suy, vậy mà nái chuối, rổ xoài, trái thơm vẫn được bày ra từ sớm.
Vì người bán sống nhờ từng đồng lẻ, người mua cũng cậy vô đó mà lo bữa ăn.
Giữa cảnh xáo trộn, cái chợ nhỏ còn học, tức là nếp nhà chưa đứt.
Từ mái nhà trang trúc quanh đường Trương Minh Ký, có thể thấy phi trường tân sân nhất như một cái chợ trời khổng lồ hút người tứ xứ về lập nghiệp.
Chỉ dài năm, rụng vườn gian đô đã quá thành xóm nhà Tôn, nhà Gạch nối nhau sang sát.
Sự đổi thay ấy cho thấy Sài Gòn đang nở bung về phía Bắc, mỗi chuyến bay cất lên cũng kéo theo một lớp dân cư tìm kế sinh nhai.
Khoảng 1967-1969, trên đường Trương Minh Ký, ngôi thánh đường Tân Sa Châu còn quấn đầy vàng giáo, nhưng đã cho thấy sức lớn mạnh của một sứ đạo mới ở cửa ngõ Phú Nhuận.
Dân cư dồn về mỗi ngày, nhà nguyện cũ không còn đủ chỗ, nên việc dựng lên ngôi nhà chúa này cũng giống như cất thêm một mái che cho bà con đồng đạo.
Năm 1968, đường Tạ Thu Thâu là chỗ người Sài Gòn ghé tìm đồ ngoại, bánh ngọt và hàng bày biển sang trọng.
Tiệm Nguyễn Văn Đắc sáng đèn giữa dãy phố như một dấu hiệu cho thấy sinh hoạt buôn bán nơi này còn mạnh lắm.
Người đi ngang chỉ thấy xe cổ chen nhau, nhưng phía sau là một nếp làm ăn của giới thị dân, coi việc đi mua sắm cũng như một thú tiêu khiển cuối tuần.
Ở Tân Sân Nhất, dạo quảng 1967, cái đáng nhớ không phải nhà lầu hay doanh trại, mà là gián người chạy một mình trên bãi cỏ.
Giữa nơi máy bay lên xuống liên hồi, người ta vẫn giữ nếp tập tành thân thể như ở một sân dẫn động nhỏ.
Chuyện ấy cho thấy phi trường này không chỉ là chỗ chuyên chở binh lính, mà còn là một khoảng đời sống thường nhật có nhịp thở riêng của nó.
Năm 1967, ngày gốc tự do, lê lợi, thường xá Eden đứng như cái bàn công lớn nhìn xuống nhịp ăn chơi của Đô Thành.
Người ta hẹn nhau dưới mái hiên ấy vì từ đây chỉ dài bước là tới rạp hát, tiệm cà phê, sạp báo và những cửa hiệu sang trọng.
Eden không chỉ là một dãy phố bung bán, mà còn là cái mốc để đo hơi thở phùng hoa của Sài Gòn.
Tiệm Mỹ Lai ở số 48 mở từ năm 1936, coi vậy mà là chỗ giữ kỷ niệm của biết bao gia đình Sài Gòn.
Hồi ấy có được tấm chân dung treo trong nhà là chuyện trọng bởi mỗi lần bấm máy đều tốn công và tốn bạc.
Cửa hiệu sáng đèn mỗi ngày như cái hồn gìn giữ bóng dáng người ta, để mai sau con cháu còn nhớ mặt ông bà cha mẹ.
Tòa Đại sứ quán Anh quốc ở gốc thống nhất giới mặt đỉnh Chi đứng lặng mà nói lên một chuyện khác.
Sài Gòn đã thành nơi các cường quốc phải đặt cơ quan ngoại giao khang trang để giữ mối giao thiệp và quyền lợi của mình.
Từ cánh cửa ấy, bao nhiêu công điện, giấy tờ và cuộc gặp âm thầm đã nối thành sợi dây liên lạc giữa xứ mình với bên ngoài.
Năm 1969, đoạn lê lợi nhìn về phía chợ Bến Thành đã thành cái trục ăn thông giữa chợ búa và khu phố bung bán.
Xe cổ từ các ngã đổ về như nước con rạch gặp mùa triều lên.
Bù điện quận 1 nằm bên tay trái, không chỉ để giao thư tính mà còn nhắc rằng việc làm ăn thời nay đã chạy theo nhiệm liên lạc.
Ai chậm tin tức thì dễ lỡ một mối hàng.
Năm 1967, gốc Diễn Đông này nổi tiếng không phải vì bản quảng cáo cao nghẹo,
mà vì từ sáng tới khuya người tứ xứ đều tìm tới ăn uống, hẹn gặp và bàn chuyện làm ăn.
Một tiệm đông khách kéo theo tiệm khác, riết rồi cả dãy phố thành chỗ lui tới của dân Sài Gòn,
giống như nồi nước lèo, cứ thêm xương, thêm củi thì càng ngọt, càng níu chân người ta.
Khoảng năm 1945, nơi này không chỉ là nhà thương sanh nở của Sài Gòn,
mà còn là chỗ người ta gửi gắm niềm mong mỏi nói giỏi.
Mỗi tiếng trẻ khóc cất lên dưới mái ngói ấy như báo thêm một gia đình vừa có tương lai.
Thành phố càng đông đúc, giai trò của tự vũ càng lớn.
Bởi một đô thành muốn bền lâu, trước hết phải biết gìn giữ sự sống từ buổi đầu đời.
Trong những năm 1960, hễ rạp nào treo tên Mai Lệ Quyền với Hùng Cường,
thì thiên hạ kéo tới đông như đi coi hát bội Ngài Día.
Người ta mê không chỉ vì tiếng ca, mà vì hai người đem lên sân khấu một lối trình diễn rộn ràng,
nam nữ đối đáp ăn ý, khiến nhạc kích động từ chỗ lạ tai trở thành món tinh thần của lớp thanh niên thành thị,
nhất là ở Sài Gòn chợ lớn.
Tuổi thơ của con nít xứ mình nhiều khi chỉ cần khoảng hiên trước nhà và mấy bạn chân trần là thành cá một cõi riêng.
Mấy đứa nhỏ bày trò đá chạm chân với nhau, cười giang giữa buổi xế, quên hết chuyện cơm áo của người lớn.
Cái quý của tuổi nhỏ không nằm ở độ chơi mắc tiền,
mà ở chỗ hễ có bạn bên cạnh thì nền gạch cũng quá ra một sân chơi rộng thơn.
Tượng đài Đức Thánh Trần đứng ở bến Bạch Đằng, không phải chỉ để ngó sông Sài Gòn.
Cánh tai chỉ ra mặt nước như nhắc người đi tàu, kẽ xuống bến,
rằng đất này nhờ giữ được đường sông mà nên cơ nghiệp.
Giữa lúc đô thành mỗi ngày một đông nhà cao,
bóng tượng vẫn giống cây cụt mốt tinh thần, nhắc chuyện giữ nước bằng ý chí trước khi nói tới gương giáo.
Năm 1962, khi chiếc USNS Core lặn lẽ vô bến Sài Gòn,
điều đáng ngó không phải thân tàu đồ sộ, mà là mấy chiếc trực thăng nằm trên bon.
Từ đó, người trong nghề đã hiểu, cuộc cờ xứ mình bắt đầu đổi nước.
Những cánh quạt ấy giống hợp tiếng gút gõ ngoại hiên lúc khuya.
Nghe nhỏ thôi mà báo trước một cuộc thay đổi sẽ len vô từng tỉnh,
từng quận, rồi tới đời sống đô thành.
Ở Sài Gòn, mấy cô gái trẻ chuộng kiểu giấy xuông may gọn,
điểm chút qua văn nhỏ, dì mặt lên coi nhẹ nhàng mà vẫn tươm tất.
Cái thích ấy cũng nói lên nếp sống thị thành đang đổi khác.
Con gái đi học, đi làm, tự chọn y phục hợp với nhịp sống mau lẹ,
không còn câu nệ chuyện ăn giận cầu kỳ.
Chiếc giấy giảng dị mà mang theo cả hơi thở thanh tân của phố xá.
Khoảng năm 1867, kinh lớn còn mở thẳng ra sông,
ghe tàu đậu ken đặt trước chợ cũ.
Cái kinh này không chỉ để thoát nước, mà là con đường làm ăn của cả xứ.
Hàng hóa từ miệt trong theo nước mà ra, rồi từ bến lại tỏa đi khắp phố phường.
Mai sau có lắp đi thành đại lộ Nguyễn Huệ,
thì cái nết buôn bán của đất này cũng đã gây từ dòng nước ấy mà nên.
Năm 1962, nơi gốc tự do Lê Thánh Tôn,
hai cô mặc áo dài, đội nón lá thông thả đi dưới hàng cây,
mang theo cả gián quê giữa chốn đô hội.
Sài Gòn lúc ấy càng ngày càng Tây Hóa,
nhưng chiếc nón và tà áo vẫn như sợi chỉ buộc người xa xứ nhớ gốc rễ mình.
Giữa phố sang, cái nết ăn mặc ấy nhắc rằng
đất này có đổi thay bao nhiêu cũng chưa quên căng cội.
Đoạn xa cảng xa lộ nằm giữa cầu Phan Thanh Giảng và ngã tư hàng xanh này
giống như cái cổ chai của cửa ngõ phía đông Sài Gòn.
Xe nhà binh, xe chở hàng, xe từ Biên Hòa, Thủ Đức đổ về
đều phải ngang qua đây, nên chỉ nhìn chiếc xe đậu chờ
cũng đủ biết hơi thở làm ăn của Đô Thành đang mạnh hay yếu.
Còn đường này nuôi nhịp buôn bán nhiều hơn người ta tưởng.
Năm 1967, qua ngã tư hàng xanh, chiếc xe ngựa chất đầy thúng mủng
coi như cả một kho nghề của Xứ Miệt Dương đang lăng vào Sài Gòn.
Mỗi cái rổ, cái nia treo lủng lẳng là dấu hiệu
của những người sống nhờ nghề Đan Lát đem công sức từ ngoài ô
đổi lấy đồng bạc chợ phố.
Con ngựa kéo nặng nhọc ấy cũng kéo theo mối dây giao thương giữa quê và tỉnh.
Ở Sài Gòn, chiếc vélo Solex không chỉ là phương tiện đi chợ hay đi sở
mà còn là món trang sức của nhiều cô gái.
Tà áo dài ngồi trên yên xe nhỏ, bàn tay giữ tay lái nhẹ tinh
khiến đường phố cũng như chậm lại đôi chút.
Người ta chuộng Solex vì nó kính đáo, ít phô trương
giống hệt cái nết thanh nhã của con gái Sài Gòn.
Duyên dáng mà không cần làm điệu.
Giữa đường phố Sài Gòn, xích lô máy và xích lô đạp cùng lăng bánh
coi vậy mà kể hết một thời chuyển mình của nghề chở khách.
Chiếc máy nổ khỏe, đi xa, kiếm khách mau
nhưng xích lô đạp vẫn còn chỗ đứng vì len lõi hẻm nhỏ
chở người quen, chở cả tình nghĩa phố phường.
Hai thứ xe song song ấy giống như cái cũ dưới cái mới đang ngồi chung một chiếu.
Năm 1969, tòa nhà của Khối diện trợ quân sự thế giới tự do
ở Sài Gòn với hàng cờ nhiều nước cắm trước sân
cho thấy cuộc binh bị lúc đó không còn là chuyện riêng của một xứ.
Mỗi lá cờ là một lời cam kết đem theo cố dấn,
dật dụng, thuốc men và cả ảnh hưởng chánh trị.
Giữa thành phố, nơi này giống như một đầu mối.
Từ đó quyết định lan đi miền nam.
Năm 1969, đứng trước bùng binh bồn càng nhìn về tòa đô chánh
mới thấy cái uy của cơ quan cai quản Đô Thành.
Từ nơi này, chuyện mở con đường, đặt ngọn đèn, sửa miệng cống
hay trồng một hàng cây đều tỏa đi khắp Sài Gòn.
Bồn càng ở phía trước chẳng khác nào cái sân chung.
Ngày nào xe cổ cũng dòng quanh như nước chảy không ngừng suốt buổi.
Năm 1955 ở Sài Gòn, tà áo dài bay theo dòng bánh xe
nghe nhẹ như gió sông mà lại nói nhiều chuyện.
Xe đạp khi ấy chưa phải giật tầm thường,
nhưng con gái thành thị đã lấy nó làm đôi chân để đi học, đi làm, thăm bà con.
Tà áo phất sau lưng như báo hiệu một nếp sóng mới.
Đàn bà vẫn giữ dẻ nền nả mà đã bước ra đường bằng sự tự chủ của mình.
Chuyện xưa coi vậy mà chưa hệ cũ.
Mỗi góc phố, mỗi con đường, mỗi nếp sinh hoạt
đều để lại một dấu riêng của Sài Gòn năm tháng ấy.
Nếu còn thương nhớ những chuyện cũ người xưa,
xin mời theo dõi Không Giới Hạn trong những câu chuyện kế tiếp.
