Lễ hội Gầu tào của người Mông ở Lào Cai

Di sản Văn hóa Lào Cai
51 người theo dõi
1 Lượt xem video·14 thg 11, 2024
Lễ hội Gầu Tàu là một trong những lễ hội truyền thống đặc trưng của người Mâu được tổ chức vào những ngày đầu tiên của tháng riêng hàng năm.
Lễ hội mang theo những ước nguyện khát vọng của cá nhân gia đình cộng đồng về một tương lai hạnh phúc tròn vẹn.
Đồng thời lễ hội còn thể hiện sự biết ơn của chủ đám đối với đứng thần linh cao cả đã có công giúp đỡ gia đình đạt được ước nguyện từ năm trước mà gia đình họ đã cầu khấn.
Có nhiều cách hiểu về lý do ra đời của lễ hội này, song có lẽ một lý do được coi là có cơ sở nhất.
Đó chính là sự xuất phát từ cuộc thiên di của người Mông sau thất bại đối với người Hán.
Chuyện kể rằng trước kia người Mông ở phương Bắc do tranh chấp đất đai với người Hán nên hai bên giao ước lấy mốc danh giới để phân chia.
Người Hán lấy bia đá trôn xuống đất làm mốc giới, người Mông thì quận túng cỏ danh lại đánh dấu danh giới của mình.
Một ngày nọ, vùng đất tranh chấp ấy xảy ra một trận hỏa hoạn, mọi thứ cây cỏ lớn nhỏ đều bị thiêu rụi.
Ngày đó chỉ còn trơn lại những cột bia đá đánh dấu mốc giới của người Hán.
Lấy lý do đó, người Hán đuổi người Mông ra khỏi vùng đất tranh chấp.
Người Mông phải lìa bỏ quê hương, tản mát khắp nơi.
Đến Vân Nam, thủ lĩnh người Mông dừng một cột tre mai cao mười mấy mét.
Treo lên đó một dài vảy lanh nguồm tràm đen thấm làm cờ.
Đó là tín hiệu hiệu triệu người Mông ở khắp nơi về.
Ngày nay, ít người biết đến tích xưa, nhưng trong bài hát Dương Cây Nêu vẫn còn in đậm dấu ân đó.
Người Hán ăn Tết, người Hán cúng vào bia đá. Người Mông ăn Tết, người Mông cúng vào cây nêu.
Đặc điểm cơ bản của lễ hội Gầu Tàu là cầu phúc và cầu mệnh.
Tổ chức ở quy mô gia đình mang tính chất là một lễ tạ ơn thần linh và được toàn thể cộng đồng hưởng ứng tham gia.
Để tổ chức lễ hội Gầu Tàu, gia chủ phải mời chủ lễ giúp chủ trì lễ hội.
Trước Tết khoảng một tuần, chủ lễ và những người giúp việc tiến hành chặt tre để dựng cây nêu.
Cây tre được chọn phải là cây thẳng, đều dóng, không sâu bệnh, không cụt ngọn, không ra hoa.
Ngọn cây phải hướng về phía mặt trẻ mọc. Cây phải cao khoảng từ 9 đến 12 mét.
Sau các nghi lễ, xin thần núi rừng được chặt và đưa tre về dựng cây nêu tại nơi tổ chức lễ hội.
Khi vắt tre, khốc đi trước, không vắt ngọn đi trước.
Dẫn đầu đoàn vắt tre là chủ lễ xòe ô tre đầu, hát bài vắt cây nêu.
Đoàn đi một mạch đến bãi hội không nghỉ dọc đường, đặc biệt là kiêng không để cho cây tre chạm đất khi chưa đến bãi hội.
Ông chủ lễ buộc lên ngọn cây nêu một giải vải lanh màu đen và một giải vải lanh màu đỏ, một bầu rượu, ba bung đua nếp và một túng ngô bắp.
Rồi mọi người cùng nhau dựng cây nêu sao cho ngọn phải quay về hướng mặt trẻ mọc.
Địa điểm làm gầu tàu được gọi là hấu tàu, trông hấu tàu hay là địa điểm chơi.
Ở những nơi gần biên giới, người Mông còn gọi lễ hội này theo tiếng quan hỏa là xây sán có nghĩa là đặc núi.
Ngày chính hội thường bắt đầu từ khoảng từ mùng 2 đến mùng 4 tiết hoặc từ mùng 4 đến mùng 6 tiết, tùy theo tuổi của gia chủ.
Sau nghi lễ cúng bên cây nêu, ông chủ lễ tuyên bố mở màn đám hội.
Mọi người cùng nhau tham gia trình diễn và thưởng thức các trò chơi vùm múa khèn, múa vó.
Riêng những đôi trai gái thường xây xưa với màn hát hội chủ gầu tàu.
Đến ngày chính, toàn bộ đạo cụ hương tiền vàng mã được đem ra treo và đặt tại gốc cây nêu.
Việc tiến hành đầu tiên là trù hội làm lễ cúng khai hội, sau khi vái cây nêu là bài cúng có nội dung.
Hôm nay là ngày lành tháng thốt, chúng tôi đến để dựng cây nêu.
Ở giữa đồi này, chúng tôi dân tiền bạc cho thần cây nêu, bảo vệ cho chúng tôi có con trai, có con gái.
Có trai đông như đàn gà, có gái đông như đàn vịt, không có ốm đau, bệnh tật, mong ngài hãy nhận lấy.
Sau phần cúng của trù hội là nghi thức hát lý mở màn, được thực hiện bởi một người thạo hát.
Không phân biệt giới tính tuổi tắc, nhưng phải là người có gia đình, vợ chồng khỏe mạnh, con cái đề hề, kinh tế khống khá.
Người hát cầm ô đi quanh cây nêu, theo ngược triệu kim đồng hồ, vừa gắt lời hát.
Bấy lâu nay, người mong ta không được gặp nhau.
Năm nay, chúng ta cùng nhau lên núi, cùng cất lời hát.
Cây nêu dựng lên, gọi anh em về sự hội.
Lâu rồi, năm nay mới dựng được cây nêu trên ngọn đồi.
Vợ tôi diệt vải lanh, còn tôi chặt cây tre.
Dựng lên đồi này, cho có may mắn.
Bạn có con trai, con gái, hãy vào hát bên cây nêu.
Nếu không, tôi sẽ buồn trong lòng.
Phải như ai có trai, có gái mới giúp tôi được.
Người hát vừa dứt cầu, chủ hội mời rượu thay cho lời cảm ơn
và nhận lấy những ước muốn qua bài hát mà người hát đã bắt tặng.
Sau phần hát mở là các hình thức hát cầu phúc, cầu mệnh
của những người dự hội muốn dành cho gia chủ.
Một đặc điểm nổi bật trong lễ hội này là hình thức hát chù gầu tàu.
Đám chù gầu tàu thường do người con trai chưa vợ phát động
và được người con gái hưởng ứng.
Tín hiệu mời hát là người con trai sẽ ô che đầu
rồi dùng ngón tay của bàn tay kia khẽ chọc vào lưng người con gái
rồi cất lời mời người con gái ấy hát.
Nếu người con gái nhìn thấy người con trai và mỉm cười
tức là người con gái đồng ý.
Nếu người con gái bỏ đi có nghĩa là lời mời bị từ chối
hoặc người con trai tiến đến đưa ô vào tay
hoặc khoát lên vai người con gái.
Nếu người con gái nhận ô thì cuộc hát sẽ diễn ra ngay sau đó.
Nhưng nếu người con gái trả ô cho người con trai nghĩa là lời mời bị từ chối.
Trong đám hát hội chù gầu tàu
người mở lời bao giờ cũng phải nhắc đến cây nêu ở bãi hội gầu tàu.
Ý nghĩa của việc này dù họ đến với hội vì một lý do cá nhân nào đó
nhưng vẫn mang đến cho gia chủ tổ chức hội một sự may mắn.
Chù gầu tàu không chỉ dành cho các đối tượng thanh niên nam nữ
mà còn cho nhiều đối tượng khác nhau khi đến với hội.
Những câu hát luôn thể hiện sự cầu mong gia chủ đạt được ước nguyện của mình
đồng thời cũng thể hiện những ước mong khát vọng của bản thân khi đến tham dự hội.
Những lời ca khúc hát tâm tình trong chù gầu tàu
đã phần nào tôi đậm lên giá trị văn hóa tinh thần trong sinh hoạt cộng đồng của hội gầu tàu.
Sau nghị thức cúng lễ ban đầu song song với quá trình hát chù gầu tàu
và các hình thức hát chơi khác là một loạt những hoạt động về trò chơi
các trò chơi và các điệu múa như đẩy gậy, kéo co, bịt mắt bắt dê,
múa vó, múa côn, múa gậy, múa xinh tiền, múa khèn, múa kiếm.
Ngoài tính chất giải trí, nó còn mang một ý nguyện của người chơi
đem đến cho chủ hội mọi sự khỏe mạnh, vui tươi, bình an, cầu gì được nấy.
Hội cứ thế tiếp diễn liên tục trong 3 ngày.
Chiều ngày thứ 3, ông chủ hội tuyên bố hạ cây nêu, kết thúc hội.
Ông chủ hội cầm ô che đầu, dẫn đầu đoàn người phụ giúp
ở bái hội đi vòng quanh cây nêu ngược chiều Kim Đồng Hồ,
vừa đi vừa hát bài Khâu Dìn Xê.
Khi hạ cây nêu, người ta phải cho cây ngả xuống theo hướng mặt trời mọc,
không được để cho cây chạm đất mà phải đặt thẳng lên 2 vai thanh niên
để giao việc vác cây nêu về.
Khi vác về, họ cũng tân thủ nguyên tắc vác cho gốc đi trước, ngọn đi sau
và phải vác liền một mạch không được nhỉ.
Vì họ quan niệm, cây nêu sau khi hạ xuống khỏi đồi gầu tàu
sẽ không được chạm đất khi chưa về đến nhà.
Nếu bị chạm đất, tính chất thiêng của nó sẽ bị mất đi.
Nghị thức đón cây nêu diễn ra tại cửa nhà gia chủ.
Chủ lễ đứng ngoài cửa tay cầm chai rượu treo trên cây nêu
và một mẹt thóc lấy từ 3 vùng ngúa treo trên cây nêu
tượng trưng cho việc mang phúc lọc về cho gia đình.
Chủ nhà mời chủ lễ uống rượu rồi trao cho chủ lễ một vùng giấy đỏ,
trong đó có một chút tiền để tạ ơn.
Chủ lễ treo lại cho gia chủ giải vải lanh.
Hai thanh niên mang đoàn gốc tre vào giao cho gia chủ.
Đoàn gốc tre sau đó sẽ được chủ nhà dùng làm rắt giường ngủ.
Giải vải lanh được dùng để may một bộ trang phục trẻ em
vắt trên đầu giường của đôi vợ chồng gia chủ
hoặc cho người ốm lành áo.
Làm gối thì bệnh tình mới mong khỏi.
Lễ hội gầu tàu là lễ hội lớn nhất trong cộng đồng
của người Mông chiến gia vào dịp đầu năm.
Việc tổ chức lễ mang hại nghĩa lớn là cầu tự và cầu bình an.
Lễ mang ý nghĩa của một nghi thức truyền thống có từ xa xưa,
hàm chứa yếu tố tâm linh và mang đầm giá trị nhân văn sâu sắc.
Lễ hội gầu tàu là cuộc sang lưu tình cảm,
thể hiện cốt cách của người Mông.
Đây là giá trị văn hóa phi vật thể,
điển hình trong tổng thể các giá trị văn hóa của người Mông,
đáng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể
trước cộng đồng các dân tộc anh em.
