Giữa dòng đời nhiều biến động, làm sao để phân biệt người quân tử chân thành với kẻ tiểu nhân giả dối? Thông qua những điển tích lịch sử xác thực của Khổng Tử, Gia Cát Lượng và Tăng Quốc Phiên, video giải mã các thước đo nhìn thấu nhân tâm và đạo lý tu dưỡng chính mình.
👁️ Ánh mắt và lời nói: Cửa ngõ phản chiếu thần khí chính trực hay tâm thuật bất chính qua điển tích của Tăng Quốc Phiên và Tử Sản. ⚖️ Thái độ với kẻ yếu và cơn thịnh nộ: Phép thử lòng nhân hậu của Phạm Trọng Yêm cùng bản lĩnh đại nhẫn của Nhan Hồi, Hàn Tín. 💰 Tiền tài và lợi lộc: Ranh giới giữa người quân tử trọng nghĩa với kẻ vì lợi quên đạo và bài học tán tài tụ nhân của Phạm Lãi. 🌾 Khi cơ hàn giữ nghĩa, lúc phú quý giữ khiêm: Khí tiết không vì 5 đấu gạo khom lưng của Đào Uyên Minh và tấm lòng khiêm hạ mở rộng cổng phủ của Quách Tử Nghi. 🕯️ Chữ Tín và chữ Hiếu: Hai trụ cột cốt lõi làm nên nhân cách và nguồn phúc đức bền vững qua câu chuyện Quý Trát treo kiếm và Hán Văn Đế hầu mẹ. 🪷 Biết người là trí, biết mình là minh: Ẩn dụ hai chiếc bát sứ chạm vào nhau và cảnh giới tối cao của thuật nhìn người là quay về tu sửa nội tâm.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Thưa quý vị, vào thời vãn thanh, một lần danh thần Tăng
Quốc Viên chuẩn bị tuyển chọn nhân sự cho quân doanh,
đã cho gọi ba người trẻ tuổi đến hầu chuyện,
khi cả ba người còn đang đứng chờ ở ngoài sân,
Tăng Quốc Viên chỉ lặng lẽ quan sát họ từ xa trong vài
phút rồi quay sang nói với học trò là Lý Hồng Trương rằng,
người đứng bên trái chỉ có thể giao việc nhỏ,
người đứng ở giữa có thể gánh vác đại sự,
còn người đứng bên phải tuyệt đối không thể trọng dụng.
Nhiều năm sau, lời nhận định ấy ứng nghiệm không sai một ly.
Ba người đứng ở giữa năm đó chính là Lưu Minh Truyền,
vị tuần phủ đầu tiên của Đài Loan.
Vì sao chỉ qua vài khoảnh khắc quan sát thần thái mà cổ
nhân đã nhìn thấu phẩm hạnh và hậu vận của một đời người?
Phải chăng đằng sau vẻ ngoài lịch thiệp luôn tồn
tại những dấu ấn nội tâm không thể ngụy trang,
ánh mắt và lời nói là tấm gương phản chiếu chính tà nội tâm?
Thưa quý vị, trong kho tàng trí huệ phương Đông, thuật nhìn người chưa
bao giờ dừng lại ở việc đánh giá đường nét đẹp xấu trên khuôn mặt,
mà luôn hướng thẳng vào phần thần khí và tâm thức ẩn sâu bên trong.
Người xưa thường nhắc nhở rằng,
biết người, biết mặt nhưng khó biết lòng.
Tuy nhiên, các bậc hiền triết cổ đại đều khẳng định rằng,
dù một người có khéo léo che đậy đến đâu, bản chất thiện ác của họ
vẫn luôn phát lộ qua hai ngõ trực diện nhất là ánh mắt và lời nói.
Trong cuốn sách chuyên bàn về thuật nhìn người mang tên Băng Giám, danh
thần Tăng Quốc Viên đã đúc kết câu khẩu quyết mở đầu rất nổi tiếng là
Tà chính khán nhãn tị, nghĩa là muốn biết tâm thuật một người là chính
trực hay là tà vậy, trước hết hãy nhìn vào đôi mắt và sống mũi của họ.
Theo lý giải của tướng học cổ truyền, đôi mắt là nơi hội tụ
tinh anh của ngũ tạng và là cánh cửa trực tiếp của tâm hồn.
Lời nói có thể trau chuốt để đánh lừa người nghe
Nụ cười xã giao có thể tập luyện để che đậy sự lạnh lùng
Nhưng ánh nhìn thì không thể làm giả
Khi tâm địa một người ngay thẳng, khí huyết điều hòa
Ánh mắt của họ tự nhiên tĩnh tại, trong sáng và ấm áp
Ngược lại, khi trong lòng chất chứa lòng
tham sự đố kỵ hoặc âm mưu tính toán
Khí trong người bị loạn sẽ khiến ánh mắt trở nên chao đảo,
sắc lạnh hoặc láo liên không yên
Trở lại câu chuyện Tăng Quốc Viên tuyển chọn 3 người trẻ tuổi khi đi
cùng Lý Hồng Trương. Khi Lý Hồng Trương hỏi nguyên nhân phân định trung
gian chỉ qua một ánh nhìn, Tăng Quốc Viên giải thích rất rõ ràng.
Người đứng bên trái, khi ta nhìn anh ta một cái,
anh ta vừa chạm mắt đã vội vàng cúi đầu né tránh,
chứng tỏ nội tâm rụt rè, thiếu khí phách nên chỉ làm được việc nhỏ.
Người đứng ở giữa, khi ta nhìn sang, anh ta cũng đường hoàng,
điềm tĩnh nhìn thẳng lại ta, ánh mắt sáng mà không kiêu ngạo,
cho thấy tấm lòng ngay thẳng, có thể gánh vác việc lớn.
Còn người đứng bên phải,
lúc ta nhìn thẳng thì anh ta cúi gầm không dám đối diện,
nhưng khi ta vừa quay mặt đi thì anh ta lại lén lút liếc nhìn dò xét.
Đó là tướng của kẻ tâm thuật bất chính nên tuyệt đối không thể dùng.
Học giả Mạnh Tử thời Chiến Quốc cũng từng khẳng định rằng.
Nếu trong lòng ngay chính thì con người sáng sủa,
nếu trong lòng bất chính thì con người tối tâm, lờ đờ,
đi đôi với ánh mắt chính là lời nói và âm điệu phát ra từ khuôn miệng.
Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử nhiều lần cảnh tỉnh học trò rằng,
những kẻ nói năng khéo léo, cố tạo vẻ mặt tươi cười lấy
lòng người khác thì hiếm khi có được lòng nhân thực sự.
Sử sách thời Xuân Thu có ghi lại điển
tích về danh tiếng Tử Sản của nước Trịnh.
Một hôm, Tử Sản đi xe ngang qua một ngôi nhà và nghe thấy
một người phụ nữ khóc lóc về người chồng đã qua đời.
Tử sản lập tức dừng xe và sai thuộc hạ thẩm tra.
Kết quả bà ta cúi đầu thú nhận chính mình đã đầu độc chồng.
Khi các quan lại hỏi lý do, Tử Sản đáp rằng khi người thân qua đời,
tiếng khóc chân thật phải xuất phát từ nỗi đau thương.
Nhưng tiếng khóc của người phụ nữ ấy tuy lớn mà lại ẩn
chứa sự run rẩy của nỗi sợ hãi, chứ không hề có sự bi ai.
Chồng chết mà không đau buồn lại chỉ thấy sợ hãi,
ắt trong lòng đang có tật giật mình.
Câu chuyện ấy chứng minh rằng dù
con người có cố gắng diễn kịch bằng ngôn từ, âm sắc phát ra
từ nội tâm vẫn luôn phản chiếu trung thực, thiện ác bên trong
Thái độ với kẻ yếu và cơn thịnh nộ
là thước đo lòng nhân và bản lĩnh
Thưa quý vị, nếu ánh mắt và lời nói giúp chúng
ta nhận diện thần khí ban đầu của một người
thì cách họ ứng xử trước những người yếu thế hơn
và cách họ kiểm soát bản thân trong cơn tức giận
lại là hai phép thử lột tả rõ nhất chiều sâu đạo đức
Khi đứng trước những người có quyền lực cao hơn hoặc
có khả năng mang lại lợi ích trực tiếp cho mình,
hầu như ai cũng biết tự khoác lên mình chiếc áo lịch sự và lễ phép, bản
chất chân thật của một con người hiện nguyên hình khi họ đối diện với
những người không có khả năng đáp trả hoặc đang ở vị thế thấp hơn họ.
Người xưa đúc kết một nguyên tắc quan sát nhân phẩm rất chuẩn xác,
muốn biết phẩm hạnh của một người, hãy nhìn cách họ đối đãi với kẻ yếu.
Muốn biết phí khách của một người,
hãy nhìn cách họ đối diện với kẻ mạnh
Kẻ tiểu nhân mang tâm lý nịnh trên đạp dưới
Khi gặp cấp trên hay người quyền quý thì khúm núm lấy lòng
Nhưng khi quay sang đối xử với người hầu,
phu xe hay tiểu thương nghèo khó
Thì lập tức hống hách, quát tháo và coi rẻ nhân phẩm người khác
Ngược lại, bậc quân tử chân chính luôn thấm
nhuần lời dạy của khổng tử trong sách luận ngữ
Điều gì mình không muốn người khác làm cho mình
thì tuyệt đối đừng đem áp đặt lên người khác
Vào thời nhà Tống, danh thần Phạm Trọng Yêm dù làm quan
đến chức phó tể tướng nhưng suốt đời sống thanh bạch
Dùng toàn bộ bổng lộc lập ra nghĩa trang họ Phạm để nuôi
giúp người nghèo, người già neo đơn và học trò túng thiếu
Khi một người nắm trong tay quyền lực mà vẫn
biết cúi đầu cảm ơn một người lao công,
biết nhường nhịn người già yếu và giữ thể diện cho người nghèo khổ,
đó chính là người có nội tâm trưởng thành và phúc đức sâu dày.
Bên cạnh thái độ với người yếu thế,
thời khắc thứ hai khiến mọi chiếc mặt nạ đạo đức rơi xuống,
chính là lúc con người rơi vào cơn thịnh nộ.
Khi bị chạm vào lòng tự ái,
bị hiểu lầm vô cớ hoặc gặp chuyện trái ý nghịch lòng, ngọn lửa sân
cơn giận bùng lên sẽ lập tức phơi bày toàn bộ phần gốc rễ bên trong.
Kẻ có tâm địa hẹp hòi khi nổi giận sẽ bất chấp đúng sai,
dùng những lời lẽ tàn nhẫn nhất để làm tổn thương người khác,
quên mất lời cảnh báo trong sách cổ.
Khi cơn thịnh nộ nổi lên,
trí tuệ lập tức tan biến và phúc đức cũng rời xa.
Ngược lại, người có tu dưỡng thâm sâu luôn biết dùng sự
tĩnh lặng để chế ngự sự xốc nổi. Trong sách Luận Ngữ,
Khổng Tử từng khen ngợi học trò Nhan Hồi ở phẩm chất, không chút cơn
giận lên người khác và không lặp lại một lỗi lầm đến lần thứ hai.
Tương tự, vào thời Hán Sở tranh hùng,
đại tướng quân Hàn Tín khi còn hàn vi ở đất Hoài Âm từng bị
một kẻ vô lại chặn đường giữa chợ, ép ông hoặc phải đâm chết
hắn hoặc phải cúi mình chui qua háng hắn trước mặt đám đông.
Hàn Tín nhìn kỹ kẻ côn đồ ấy,
không hề nổi giận rút gươm mà lặng lẽ cúi xuống chui qua háng hắn
Các bậc thức giả đều hiểu rằng nếu Hàn Tín vì
một phút nóng giận nhất thời mà giết kẻ vô lại
thì ông đã phải đền mạng trong ngục tối
Làm sao có thể trở thành vị đại tướng
quân lập nên cơ nghiệp nhà Hán sau này
Lão Tử trong Đạo Đức Kinh từng viết
Thắng được người khác mới chỉ là người có sức mạnh
Nhưng thắng được chính mình mới thực sự là bậc trí cường
Tiền tài và lợi lộc là phép thử lòng liêm khiết và đạo nghĩa
Thưa quý vị, bước sang thước đo thứ 3
trong nghệ thuật nhìn người của cổ nhân
Chúng ta đối diện với một phép thử sắc
bén và thực tế nhất trong cõi nhân sinh
Đó là thái độ của con người trước tiền bạc và lợi ích thiết thân
Trong bộ sách Tướng Uyển bàn về 7 phép nhìn người
nổi tiếng của Thừa tướng Gia Cát Lượng thời Tam Quốc
Phép thử thứ 6 được viết rất ngắn gọn là
Đặt họ đứng trước lợi lộc lớn để quan sát sự liêm khiết
Tiền bạc tự thân nó không có thiện hay ác,
nhưng nó lại giống như một tấm gương phơi bày toàn bộ lòng tham,
sự ích kỷ hoặc đức tính trọng nghĩa khinh tài của người cầm nó.
Nhiều người khi bình thường giao tiếp trên bàn tiệc có thể thề
thốt sống chết có nhau, nhưng chỉ cần đụng chạm đến quyền lợi
kinh tế hoặc một khoản tiền lớn là lập tức trở mặt thành thù,
sẵn sàng dùng thủ đoạn lừa gạt cả bạn bè, người thân.
Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử đã vạch rõ ranh giới giữa
một quân tử và kẻ tiểu nhân qua một câu đúc kết ngắn gọn
Người quân tử hiểu rõ về điều nghĩa,
kẻ tiểu nhân chỉ hiểu rõ về điều lợi
Khổng Tử từng nói rất thực tế rằng, người quân tử cũng yêu quý tài sản,
nhưng bắt buộc phải lấy và sử dụng tài sản ấy thuận theo chính đạo
Còn trong sách Mạnh Tử cũng khẳng định, của cải phi nghĩa mà làm cho
ta giàu sang thì đối với ta cũng chỉ nhẹ như đám mây nổi trên bầu trời
Cổ nhân nhìn cách một người kiếm tiền và tiêu tiền để đoán định
không chỉ nhân phẩm mà cả hậu vận của cả gia tộc người đó.
Về cách kiếm tiền, có người tâm sáng luôn hiểu rằng tài sản
phải gắn liền với công sức chân chính và đạo đức nghề nghiệp.
Họ thà chịu thiệt về phần mình, chứ quyết không nhận một đồng
tiền bất nghĩa, không vì lợi nhuận trước mắt mà làm hàng giả,
lừa dối khách hàng hay đẩy người khác vào cảnh khốn cùng.
Theo quy luật nhân quả, mỗi đồng tiền kiếm được bằng sự
gian dối hay tàn nhẫn đều mang theo nghiệp lực nặng nề,
như lời cổ nhân từng gian dạy, của cải không đi đôi
với đạo đức thì sự giàu có ấy không bao giờ bền vững,
đạo mất thì tài sản cũng sớm lụi tàn.
Không chỉ nhìn ở cách kiếm tiền, cổ nhân còn quan sát rất kỹ
cách một người sử dụng đồng tiền khi họ đã có của ăn, của để.
Có những người kiếm được tiền rồi chỉ biết giữ chặt riêng cho mình,
sống trong sự đa nghi và lo mất mát từng ngày.
Lại có những người vừa mới phất lên đã vội vã dùng tiền
để phô trương thanh thế và khinh rẻ người nghèo khó,
bởi nội tâm của họ vốn trống rỗng.
Ngược lại, bậc trí giả thời xưa xem tiền tài như dòng nước chảy.
Vào thời Xuân Thu, Đại thần Phạm Lãi sau khi giúp Việt
Vương Câu Tiễn phục quốc đã rời bỏ chốn quan trường,
đổi tên thành Đào Chu Công để đi buôn bán.
Nhờ tài kinh doanh lỗi lạc và chữ tín tuyệt đối,
Phạm Lãi trong vòng 19 năm đã ba lần gây dựng cơ nghiệp ngàn vàng.
Nhưng cả ba lần ông đều đem toàn bộ tài sản ấy phân phát hết cho bà
con nghèo túng và những người gặp hoạn nạn.
Người đời tôn vinh Phạm Lãi là bậc thần tài chân chính trong lịch sử,
vì ông hiểu thấu đạo lý biết đem của cải san sẻ giúp đời thì sẽ tụ được
lòng người và tích lũy được phúc đức vô lượng cho muôn đời sau, khi
cơ hàn giữ nghĩa và lúc phú quý giữ khiêm là hai cảnh giới khí tiết.
Thưa quý vị, đời người vốn dĩ luôn có những khúc quanh thăng trầm,
có lúc rơi xuống vực sâu cơ hàn túng thiếu,
lại có lúc bước lên đỉnh cao của vinh hoa phú quý.
Chính hai thái cực hoàn cảnh ấy là hai lò luyện đan khắc
nghiệt nhất để khảo nghiệm chân tâm của mỗi con người.
Vào thời Chiến Quốc, khi Ngụy Văn Hầu hỏi tể
tướng Lý Khắc về phương pháp chọn người hiền tài,
Lý Khắc đã dâng lên năm tiêu chuẩn quan sát kinh điển,
trong đó có hai vế đối ứng trực tiếp với hoàn cảnh sống.
Khi họ rơi vào hoàn cảnh khốn cùng,
hãy xem những việc họ quyết không chịu làm.
Khi họ bước lên viễn cảnh hiển đạt phú quý,
hãy xem những người họ tiến cử và cách họ cư xử.
Người xưa cũng thường nói ngắn gọn rằng,
nghèo khổ thử cái nghĩa, giàu sang thử cái khiêm. Trước hết,
hãy nhìn vào một người khi họ rơi vào cảnh nghèo khó, thất thế.
Khi biến cố ập đến, tài sản tiêu tan và danh vị không còn,
lớp vỏ phù hoa bị tước bỏ hoàn toàn.
Lúc ấy, chúng ta không chỉ nhìn rõ ai là người
bạn chân tình ở lại để chia sẻ bát cơm manh áo,
mà quan trọng hơn là nhìn cả thấy
chính khí tiết của người đang gặp nạn.
Có những người vừa rơi vào những cảnh túng
thiếu đã lập tức sinh lòng oán trách,
hoặc bất chấp liêm sỉ để nịnh bợ, lừa lọc,
bán rẻ bạn bè và lương tâm nhằm đổi lấy chút lợi nhỏ.
Trái lại, bậc quân tử chân chính thì giữ vững tiêu chuẩn mà sách
Mạnh Tử đã nêu cao, giàu sang không thể làm dâm loạn tâm ý,
nghèo hèn không thể làm lay chuyển tiết tháo,
uy vũ bạo quyền không thể làm khuất phục trí khí.
Trong chuyên mục Ấu học Quỳnh Lâm trên trang Tranh Kiến có ghi
lại câu chuyện nổi tiếng về danh sĩ Đào Uyên Minh thời Đông Tấn,
đến năm 41 tuổi, vì gánh nặng mưu sinh nên Đào Uyên
Minh nhận chức huyện lệnh nhỏ ở huyện Bành Trạch.
Một hôm, viên quan đốc bưu cấp trên vốn là kẻ khống khái đến
huyện Thị Xác và nhắn lời bắt Đào Uyên Minh phải ăn mặc chỉnh tề,
ra tận nơi khom lưng hành lễ bái kiến.
Đào Uyên Minh thở dài nói một câu lưu truyền thiên cổ,
bất vi ngũ đấu mễ chiết yêu, nghĩa là không vì năm đấu
gạo mà khom lưng quỳ gối, để phụng sự những kẻ tiểu nhân.
Ngày ngày hôm đó, sau hơn 80 ngày làm quan,
ông cởi trà ấn tím, về quê tự tay cày ruộng,
giữ trọn vẹn khí phách trong sạch của một bậc hiền sĩ
Nếu cảnh nghèo thử thách bản lĩnh giữ nghĩa, thì cảnh giàu sang
và quyền lực lại là ngọn gió lớn thử thách đức tính khiêm cung
Tấm gương sáng nhất trong lịch sử về đức tính giữ trọn sự khiêm cung
giữa tột đỉnh vinh hoa chính là danh tướng Quách Tử Nghi thời nhà Đường
Quách Tử Nghi có công dẹp loạn An Sử,
phụng sự bốn đời hoàng đế, được phong tước phần dương vương,
quyền khuynh thiên hạ suốt hơn 20 năm.
Thế nhưng, cổng vương phủ của Quách Tử Nghi
ở kinh thành Trường An lúc nào cũng mở toan.
từ quan nhỏ đến người hầu kẻ hạ đều có thể tự
do vào mà không hề có lính canh ngăn cấm.
Khi các con trai khuyên cha nên đóng cổng cao tường để giữ
uy nghiêm của bậc tể tướng, Quách Tử Nghi ôn tồn giải thích
rằng gia tộc họ Quách hưởng lộc triều đình đã quá lớn,
chỉ có mở rộng cửa, sống minh bạch, khiêm nhường và vô
tư trước thiên hạ mới giữ được bình an cho cả gia tộc.
Nhờ tấm lòng khiêm hạ và bao dung ấy, ngay cả kẻ ngạo mạn như
tiết độ sứ Điền Thừa Tự cũng phải quỳ lại từ xa. Và kẻ tiểu nhân
từng ghen ghét ông như Ngư Triều Ân cũng phải cúi đầu cảm phục.
Chữ tín với người và chữ hiếu với cha mẹ là gốc rễ phúc đức.
Thưa quý vị, đi sâu hơn vào tầng cốt lõi của nhân cách,
cổ nhân chỉ ra rằng dù một người có tài năng
xuất chúng hay giao tiếp khéo léo đến đâu,
nhưng nếu thiếu đi hai trụ cột là chữ tín trong
quan hệ xã hội và chữ hiếu trong đạo lý gia đình,
thì mọi thành tựu của họ chỉ như lâu đài xây trên cát.
Trong phép nhìn người thứ bảy của thừa tướng Gia
Cát Lượng cũng như trong lời dạy của Khổng Tử,
chữ tín luôn đặt ở vị trí sống còn.
Con người mà không có chữ tín thì không biết làm sao có thể
đứng vững được ở trên đời, giống như xe lớn không có chốt trục,
xe nhỏ không có đinh ngang thì làm sao có thể lăn bánh đi xa.
Chữ tín không nằm ở những lời hứa hẹn ngọt ngào lúc thuận lợi mà nằm ở
sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, đặc biệt là khi việc giữ lời hứa
ấy đòi hỏi bản thân phải chịu thiệt thòi hoặc không còn ai giám sát.
Trong Sử ký Tư Mã Thiên có ghi lại điển tích,
Quý Chát đeo kiếm làm rung động lòng người suốt hàng ngàn năm.
Công tử Quý Chát của nước Ngô khi đi sứ qua nước
Chu có ghé thăm Tử Quân. Quý Chát nhận thấy Tử Quân
rất yêu thích thanh bảo kiếm quý giá bên hông mình.
Nhưng vì đang mang trọng trách đi sứ các nước chư hầu nên ông chưa
thể tháo kiếm tặng ngay, chỉ thầm hứa trong lòng rằng sau khi hoàn
hoàn thành sứ mệnh trở về nhất định sẽ dâng tặng thanh kiếm ấy cho Tử Quân.
Không ngờ, khi Quý Chát đi sứ trở về thì tử quân đã qua đời.
Dù trước đó ông chưa từng mở miệng nói ra lời hứa với tử quân và
người nhận cũng đã khuất núi. Quý Chát vẫn đến bên mộ của tử quân,
tháo thanh bảo kiếm quý, treo lên cành cây trước mộ rồi mới rời đi.
Khi người tùy tùng hỏi rằng tử quân đã mất rồi thì trao kiếm cho ai?
Quý Chát khẳng khái đáp: Lúc ban đầu trong lòng ta đã hứa tặng thanh kiếm này
cho ngài ấy. Lẽ nào chỉ vì ngài ấy đã qua đời mà ta lại phản
bội lại lời hứa trong chính lương tâm của mình hay sao?
Mì Gõ Để không
bởi cha mẹ là cội nguồn sinh thành, là những người đã chịu muôn
vàn nhọc nhằn để nuôi dưỡng ta từ lúc còn nhỏ dại.
Nếu đối với đấng sinh thành có ơn nghĩa sâu nặng như
trời biển mà một người còn có thể lạnh nhạt, cáu gắt,
tính toán thiệt hơn hoặc bỏ mặc lúc tuổi già sức yếu thì thử hỏi ngoài
xã hội có thể thật lòng trung thủy và biết ơn bất kỳ ai khác hay không.
một người bất hiếu với cha mẹ thì gốc tâm đã khô cạn.
Dù ngoài đường họ có nói lời đạo nghĩa hay hào phóng với người
ngoài đến mấy thì đó cũng chỉ là sự giả tạo nhằm mưu cầu danh lợi.
Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử nhấn mạnh rằng chữ hiếu chân
thật không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cơm ăn áo mặc,
mà cốt lõi nằm ở tấm lòng tôn kính và sự hiện diện ấm áp.
Trong lịch sử, Hán Văn Đế Lưu Hằng dù là bậc hoàng đế đứng đầu
thiên hạ, nhưng suốt ba năm mẹ ông là bạc thái hậu lâm bệnh nặng,
ông vẫn đích thân túc trực bên giường bệnh.
Mỗi thang thuốc sắc xong,
ông đều tự mình nếm từ trước để xem độ nóng lạnh rồi mới dâng lên mẹ.
Chính cái gốc tri ân ấy là nguồn mạch nuôi dưỡng phúc khí, giúp người
hiếu thuận đi đến đâu cũng được trời đất che chở và quý nhân giúp đỡ,
biết người là trí, biết mình là minh và đỉnh cao của thuật tu tâm.
Thưa quý vị, sau khi đi qua toàn bộ các thước đo từ ánh mắt,
lời nói, thái độ với kẻ yếu, cách kiềm chế cơn giận, cách đối diện
với đồng tiền, khí tiết lúc nghèo khó cũng như khi giàu sang,
cho đến chữ tín và chữ hiếu, chúng ta gần bước tới tầng nghĩa
sâu sắc nhất mà các bậc thánh hiền phương Đông muốn gửi gắm.
Đó là câu hỏi cốt lõi. Chúng ta học thuật nhìn người để làm gì?
Rất nhiều người lầm tưởng rằng học cách nhìn thấu lòng người
để trở nên tinh ranh hơn, để luôn sống trong tâm thế đề phòng,
soi mói lỗi lầm của người khác hoặc dùng mưu kế thao túng lòng người.
Thế nhưng các bậc đại trí trong lịch sử lại chỉ ra một
con đường hoàn toàn ngược lại. Trong Đạo Đức Kinh,
Lão Tử đã đúc kết một câu chân ngôn vô cùng thâm thúy.
Chi nhân giả trí, tự chi giả minh, nghĩa là biết người là người có trí,
nhưng biết rõ chính mình mới là bậc sáng suốt.
Cùng chung tư tưởng ấy, bậc kỳ tài ẩn thế Quỷ Cốc Tử cũng từng
khẳng định rằng sự hiểu biết phải bắt đầu từ chính bản thân mình.
Chỉ khi một người thực sự hiểu rõ và làm trong sạch tâm mình
thì mới có đủ năng lực để nhận biết đúng đắn về người khác.
Trên trang Chánh Kiến có một bài viết rất sâu sắc giải thích đạo
lý này thông qua hình ảnh ẩn dụ về hai chiếc bát sứ chạm vào nhau.
Khi chúng ta cầm hai chiếc bát sứ gõ nhẹ vào nhau,
nếu cả hai chiếc bát đều là sứ thượng hạng, lành lặn không vết
nứt thì âm thanh phát ra sẽ vô cùng trong trèo, ngân vang.
Nhưng nếu chỉ cần một trong hai chiếc bát bị
nứt ngầm bên trong hoặc làm từ đất tạp chất.
Thì dù chiếc bát kia có hoàn hảo đến đâu,
âm thanh va chạm phát ra vẫn sẽ đục và chói tai.
Trong các mối quan hệ giữa người với người cũng giống hệt như vậy.
Mỗi chúng ta là một chiếc bát và người mà chúng ta
đang giao tiếp đánh giá chính là chiếc bát còn lại.
Nếu bản thân chiếc bát tâm hồn của chúng ta đang có vết
nứt của lòng tham, sự ích kỷ, sự nóng nảy hay lòng đố kỵ,
thì khi va chạm với bất kỳ ai, chúng ta cũng sẽ chỉ nghe thấy
những âm thanh chói tai và nhìn đâu cũng thấy sự giả dối, xấu xa.
Do đó, muốn có được con mắt nhìn người tinh tường và chuẩn xác,
điều kiện đầu tiên tiên quyết là phải hướng vào bên trong
để tự tu sửa bản thân mình trở thành một chiếc bát tốt.
Hơn nữa, cổ nhân dạy rằng cảnh giới cao nhất của người học
thuật quan nhân chính là nhìn thấu nhưng không cần vạch trần,
hiểu rõ nhưng vẫn giữ trọn lòng từ bi và thiện lương.
Khi nhận ra một người có ánh mắt bất chính, lời nói giả dối,
vì lợi quên nghĩa hoặc thiếu lòng hiếu tín,
chúng ta chỉ cần lặng lẽ giữ khoảng cách an toàn, không giao phó việc
lớn và không để bản thân bị cuốn vào vòng xoáy nghiệp lực của họ.
Như Khổng Tử từng dạy các học trò
Khi nhìn thấy người hiền đức
Hãy nghĩ cách học tập để sánh bằng họ
Khi nhìn thấy kẻ bất thiện
Hãy quay về tự xét lại xem trong lòng mình
Có những thói xấu tương tự như vậy hay không
Thưa quý vị
Cổ nhân có câu
Tướng do tâm sinh
Cảnh tùy tâm chuyển
Nhà nào tích chứa điều thiện
Thì ắt sẽ có phúc lành dư giả truyền lại cho đời sau
Toàn bộ các phép nhìn người của bậc tiền nhân suy cho cùng không
chỉ là tấm khiên trí tuệ giúp chúng ta phân biệt trung gian,
tránh xa họa nạn giữa dòng đời phức tạp,
mà còn là bản chỉ dẫn để mỗi người tự gột rửa nội tâm của chính mình.
Khi một người giữ được ánh mắt ngay thẳng, lời nói thiện lành,
biết thương xót kẻ yếu, làm chủ được cơn giận, dùng tiền đúng đạo,
nghèo không mất nghĩa, giàu không quên khiêm,
giữ chọn chữ tím với đời và chữ hiếu với cha mẹ, thì người đó
chính đã tự tỏa ra một trường năng lượng chính trực và ấm áp.
Lúc ấy, những kẻ tiểu nhân gian dối sẽ tự khắc phải rời xa, còn những
bậc hiền lương và phúc báo chân chính sẽ tự nhiên hội tụ về bên cạnh.
Mang lại sự bình an vững chãi nhất cho cuộc đời
Cảm ơn quý vị đã dành thời gian quan tâm theo dõi
Thùy Miên xin kính chào và hẹn gặp lại