Độc quyềnFED CÓ ĐANG THẮT CHẶT QUÁ MỨC?

Sổ Cái Vô Hình
311 người theo dõi
106 Lượt xem video·28 thg 10, 2026
1:25 I. NGÀNH KHAI KHOÁNG VƯỢT MẶT CÔNG NGHỆ VỀ LỢI NHUẬN NHƯNG ĐỊNH GIÁ VẪN RẺ
6:27 II. FED CÓ ĐANG THẮT CHẶT QUÁ MỨC?
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Hoàng Thái xin kính chào quý vị
Thưa quý vị, hệ thống tài chính toàn cầu
đang tiến đến một điểm uốn quan trọng
Một mặt thì cơn sốt trí tuệ nhân tạo đang đẩy mức độ
tập trung vốn hóa thị trường lên những ngưỡng cực đoan
Nhưng mặt khác, lãi suất trái phiếu kho
bạc Mỹ kỳ hạn dài tăng mạnh, vượt mốc 5,3%
làm gia tăng áp lực lên định giá tài sản
và chi phí vốn của toàn bộ nền kinh tế
Điều đáng lo ngại không nằm ở từng yếu
tố riêng lẻ mà ở sự hội tụ của cả hai
Trong khi dòng vốn tiếp tục đổ dồn vào một nhóm nhỏ cổ phiếu công nghệ
chi phí vốn ngày càng đắt đỏ lại đang bao
mòn sức chịu đựng của các doanh nghiệp
thị trường tài chính và hộ gia đình
Đặc biệt, khi một phần đáng kể hoạt động tiêu
dùng được hỗ trợ bởi giá trị tài sản đầu tư
sự suy giảm của thị trường chứng khoán có thể nhanh chóng chuyển hóa
thành sự suy yếu của nền kinh tế thực
Vì vậy, rủi ro suy thoái không chỉ phụ thuộc vào quyết định tiếp theo
của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
Vấn đề sâu xa hơn là liệu nền kinh tế đã bị thắt chặt
quá mức bởi chính cấu trúc tài chính của nó hay chưa
Để hiểu rõ nguy cơ này, chúng ta cần xem
xét hai diễn biến đang diễn ra song song
Đó là sự mất cân đối trong định giá tài sản và độ
trễ của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế thực
Và không để quý vị phải đợi lâu,
ngay sau đây sẽ là những nội dung chi tiết
Kính mời quý vị cùng theo dõi
Ngành khai khoáng vượt mặt công nghệ
về lợi nhuận nhưng định giá vẫn rẻ
Thưa quý vị, điểm bất thường đầu tiên của thị
trường chứng khoán hiện nay nằm ở sự tập trung quá
mức vào một câu chuyện duy nhất, trí tuệ nhân tạo.
AI đang trở thành tâm điểm của dòng vốn đầu tư,
nhưng mức độ tập trung này đã vượt xa những gì thường
thấy trong các chu kỳ tăng trưởng thông thường.
Chỉ có 41 cổ phiếu liên quan đến AI trong chỉ số S&P 500,
nhưng nhóm này chiếm tới 49% tổng vốn hóa của toàn bộ chỉ số.
Nói cách khác, chưa đến một phần 10 số doanh nghiệp trong
S&P 500 đang đại diện cho gần một nửa giá trị thị trường.
Để thấy mức độ cực đoan của con số này, hãy nhìn lại lịch sử
Tại đỉnh bong bóng .com năm 2000,
nhóm công nghệ từng chiếm khoảng 41% thị trường
Năm 1988, thị trường chứng khoán Nhật
Bản chiếm khoảng 44% vốn hóa toàn cầu
Trong khi đó, nhóm cổ phiếu Blue Chip Nikkei 225
50 đạt tỷ trọng khoảng 40% vào năm 1972
Mức tập trung 49% hiện nay vượt qua
ngưỡng tất cả những trường hợp kể trên
Theo chuỗi dữ liệu lịch sử được trích dẫn,
chỉ có cơn sốt cổ phiếu đơn sắc năm 1881
ghi nhận mức tập trung cao hơn lên tới 63%
Những con số này không tự động chứng minh rằng thị trường sắp sụp đổ
Tuy nhiên, chúng cho thấy một rủi ro rất rõ ràng
Khi phần lớn giá trị thị trường phụ thuộc vào
kỳ vọng dành cho một nhóm doanh nghiệp nhỏ
thì bất kỳ sự đảo chiều nào trong kỳ vọng đó cũng
có thể gây ra tác động lớn đến toàn bộ chỉ số
Và đây mới chỉ là mặt đầu tiên của vấn đề
Nếu chuyển từ vốn hóa thị trường sang hiệu quả hoạt động kinh doanh,
một nghịch lý khác sẽ xuất hiện
Ngành khai khoáng có tỷ suất biên lợi nhuận trung vị lên tới 31%
trong khi nhóm công nghệ và tài chính cùng đạt khoảng 17%
Điều này có nghĩa là xét theo chỉ tiêu được sử dụng trong báo cáo
Doanh nghiệp khai khoáng đang tạo ra tỷ suất
lợi nhuận trên doanh thu cao hơn đáng kể
so với hai nhóm ngành vốn được thị trường chú ý nhiều nhất
Một minh chứng đáng chú ý đến từ Newmont,
tập đoàn khai thác vàng lớn nhất
Trong quý được đề cập, doanh nghiệp tạo ra 2,8 tỷ USD dòng
tiền từ hoạt động kinh doanh và 1,9 tỷ USD dòng tiền tự do
Lũy kế 9 tháng đầu năm, dòng tiền tự do đạt 7,3 tỷ USD trong bối
cảnh giá vàng bình quân được báo cáo ở mức 4.317 USD mỗi ounce
Những con số này cho thấy sức mạnh của mô hình kinh doanh
có khả năng chuyển hóa doanh thu thành tiền mặt thực tế
Và trong môi trường lãi suất cao,
tiền mặt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Bởi lợi nhuận kế toán có thể chịu ảnh hưởng
của nhiều giả định và phương pháp ghi nhận,
nhưng mà dòng tiền tự do phản ánh trực
tiếp hơn khả năng doanh nghiệp tạo ra tiền
sau khi đáp ứng các nhu cầu đầu tư vốn cần thiết.
Đối với nhà đầu tư, đây là yếu tố có thể quyết định khả năng trả nợ,
phân phối cổ tức, mua lại cổ phiếu và duy trì hoạt
động khi điều kiện tài chính trở nên khó khăn.
Tuy nhiên, thị trường không phải lúc nào cũng định giá
doanh nghiệp chỉ dựa trên lượng tiền mặt mà họ tạo ra.
Để nhìn rõ hơn sự chênh lệch này,
hãy so sánh tỷ suất dòng tiền tự do trên vốn hóa thị trường
giữa ngành khai khoáng và ngành công nghệ
Theo phân tích, trong phần lớn 3 thập kỷ qua,
tranh lệch giữa 2 nhóm ngành thường nghiêng về công nghệ
Nhà đầu tư sẵn sàng trả mức định giá
cao hơn cho các doanh nghiệp công nghệ
một phần nhờ kỳ vọng tăng trưởng dài
hạn và môi trường thanh khoản dồi dào
sau nhiều năm nới lỏng định lượng
Nhưng xu hướng đó đang thay đổi
Tỷ lệ tranh lệch được cho là đã chuyển sang vùng
dương và đạt khoảng 3,6 điểm vào ngày 26 tháng 10
Nếu cách tính và phạm vi dữ liệu được sử dụng là nhất quán
Điều này hàm ý rằng cổ phiếu khai khoáng đang mang lại
tỷ suất dòng tiền tự do cao hơn cổ phiếu công nghệ
theo thước đo so sánh nói trên
Nói một cách đơn giản hơn, cùng một lượng vốn đầu tư
nhà đầu tư có thể mua được nhiều dòng tiền tự
do hơn từ một số doanh nghiệp khai khoáng
so với những doanh nghiệp về công nghệ đang được định giá ở mức cao
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa định
giá thấp và tài sản chắc chắn tăng giá
Ngành khai khoáng vẫn chịu rủi ro từ biến động giá hàng hóa,
chi phí khai thác, chất lượng mỏ và nhu cầu vốn đầu tư
Trong khi đó, doanh nghiệp công nghệ có thể xứng đáng với mức
định giá cao nếu tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai đủ mạnh
Vấn đề nằm ở chỗ, mức giá hiện tại đã
phản ánh bao nhiêu kỳ vọng tăng trưởng
và liệu những kỳ vọng đó có thể được hiện thực hóa hay không
Khi lãi suất trái phiếu tăng cao,
tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho dòng tiền tương lai cũng sẽ tăng lên
Những doanh nghiệp có phần lớn giá trị nằm
ở lợi nhuận kỳ vọng trong nhiều năm tới
thường trở nên nhạy cảm hơn với sự thay đổi của lãi suất
Và đây chính là điểm khiến nhóm cổ phiếu tăng trưởng định giá cao
dễ chịu áp lực khi điều kiện tài chính đảo chiều
Ngược lại, các doanh nghiệp tạo ra dòng tiền lớn ở hiện tại
có thể trở nên hấp dẫn hơn nếu mức định giá của họ vẫn còn hợp lý
Vì vậy, câu chuyện ở đây không đơn giản
là khai khoáng sẽ thay thế công nghệ
Điều quan trọng hơn là thị trường có thể đang bước vào giai đoạn
mà nhà đầu tư bắt đầu phân biệt rõ hơn
giữa kỳ vọng tăng trưởng và khả năng tạo ra tiền mặt thực tế
Và nếu quá trình định giá lại diễn ra trên diện rộng
mức độ tập trung hiện tại của thị trường chứng khoán
có thể trở thành một nguồn rủi ro đáng kể
Fed có đang thắt chặt quá mức
Nếu sự tập trung vào AI là rủi ro nằm bên trong thị trường tài sản
thì chính sách tiền tệ lại là yếu tố có
thể truyền cú sốc đó sang nền kinh tế thực
Và mối lo lớn nhất hiện nay là Fed có
thể đang đánh giá thấp mức độ thắt chặt
mà nền kinh tế đã phải gánh chịu
Có 3 yếu tố cần đặc biệt chú ý
Đầu tiên, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ
kỳ hạn 10 năm tăng lên những mức rất cao
Thứ hai, lớp đệm tiết kiệm của nhiều hộ gia đình đang suy yếu
Và thứ ba, chu kỳ chính sách tiền tệ trở nên phức tạp hơn
khi các đợt tăng lãi suất, cắt giảm và tái thắt chặt nối tiếp nhau
Khi 3 yếu tố này xuất hiện cùng một lúc,
thì tác động của chính sách tiền tệ
có thể lớn hơn nhiều so với những gì chỉ số lãi suất điều hành thể hiện
Hãy bắt đầu với lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm
Đây là một trong những mức lãi suất tham
chiếu quan trọng nhất của nền kinh tế Mỹ
có ảnh hưởng đến lãi suất vay thế chấp,
chi phí huy động vốn của doanh nghiệp
và mức định giá của nhiều loại tài sản tài chính
Khi lãi suất tăng, chi phí vay vốn dài hạn thường chịu áp lực đi lên
Đồng thời, mức sinh lời mà các nhà đầu tư yêu
cầu đối với tài sản rủi ro cũng sẽ tăng theo
Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Fed
chưa tiếp tục nâng lãi suất điều hành
thì điều kiện tài chính vẫn có thể tự
thắt chặt thông qua thị trường trái phiếu
Và đây là điểm mấu chốt
Nếu lãi suất dài hạn đã tăng đủ mạnh để gây sức ép lên tín dụng,
đầu tư và tiêu dùng
một đợt tăng lãi suất bổ sung có thể tạo ra tác động cộng hưởng
thay vì chỉ bổ sung một mức thắt chặt nhỏ
Fed đã tái tăng lãi suất vào tháng 9
trong khi thị trường vẫn phải cân nhắc khả
năng có thêm một đợt tăng vào cuối năm này
Tuy nhiên, các quyết định chính sách và xác suất thị trường
cần được đối chiếu với thông tin chính thức tại đúng thời điểm đánh giá
không nên xem dự báo của thị trường là cam kết chắc chắn của Fed
Điều quan trọng không phải là Fed sẽ tăng thêm bao nhiêu điểm cơ bản
Câu hỏi thực sự là tổng mức độ thắt chặt mà
nền kinh tế đang phải chịu đã lớn đến đâu
Bởi chính sách tiền tệ không tác động tức thì
các quyết định lãi suất cần thời gian
để truyền dẫn qua hệ thống ngân hàng
thị trường trái phiếu, thị trường nhà ở,
đầu tư doanh nghiệp và chi tiêu hộ gia đình
Vì vậy, khi tác động của các quyết định trước đó chưa bộc lộ đầy đủ
thì việc tiếp tục thắt chặt có thể khiến
nền kinh tế chịu áp lực mạnh hơn dự kiến
Một trong những lý do khiến Fed duy trì lập trường thận trọng
là các chỉ số hoạt động kinh tế vẫn
cho thấy sức chống chịu tương đối tốt
PMI sản xuất được nêu ở mức 54,5 điểm
Những chỉ số trên ngưỡng 50 thường cho
thấy hoạt động kinh tế đang mở rộng
Theo cách nhìn truyền thống,
hoạt động kinh tế mạnh có thể làm gia tăng nhu cầu,
gây sức ép lên năng lực sản xuất và đẩy giá cả lên cao.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tăng trưởng và
lạm phát không phải lúc nào cũng tuyến tính.
Hoạt động kinh tế có thể tăng mà không tạo ra một đợt lạm phát kéo dài,
đặc biệt khi nguồn cung được cải thiện, năng suất tăng lên hoặc nhu
cầu tăng chủ yếu ở những lĩnh vực có khả năng mở rộng công suất.
Khi xem xét mối quan hệ giữa các chỉ số
ISM và lạm phát ở những giai đoạn sau đó
Tương quan giữa hoạt động kinh tế và biến động giá cả yếu hơn nhiều
so với những gì thường được giả định
Giai đoạn đại dịch là một ngoại lệ rất đặc biệt
Khi các gói kích thích tài khoá hỗ trợ sức
mua trong lúc chuỗi cung ứng bị gián đoạn
Nhu cầu tăng mạnh đã va chạm với nguồn cung thiếu hụt
Và kết quả là giá cả tăng nhanh trên diện rộng
Nhưng không thể mặc nhiên áp dụng cơ chế
đó cho mọi giai đoạn tăng trưởng tiếp theo
Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng
Đó là nếu lạm phát hiện nay đến từ những
yếu tố mà lãi suất khó tác động trực tiếp
thì liệu việc thắt chặt tiền tệ có đang tạo ra
nhiều tổn thất hơn mức cần thiết hay không?
Hãy xét đến 2 nhóm áp lực giá cả
Nhóm thứ nhất là áp lực đến từ nhu cầu đầu tư công nghệ
Chẳng hạn như sự thiếu hụt GPU, bộ nhớ và năng lực tính toán phục vụ AI
Trong những trường hợp này, chi phí có thể tăng
do nhu cầu đầu tư tập trung vượt quá khả năng cung ứng trong ngắn hạn
Nhóm thứ 2 là áp lực đến từ năng lượng và các đầu vào thiết yếu khác
Nếu giá xăng dầu và hydrogen tăng mạnh,
doanh nghiệp vận tải, sản xuất và cung cấp dịch vụ
sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn
Một phần chi phí đó có thể được chuyển sang người tiêu dùng
Trong khi đó, lãi suất cao không thể
trực tiếp làm tăng nguồn cung năng lượng
hoặc là nhanh chóng giải quyết tình trạng thiếu hụt linh kiện công nghệ
Công cụ tiền tệ chủ yếu tác động bằng cách làm giảm nhu cầu tổng thể
và thắt chặt điều kiện tín dụng
Đó là lý do cần phân biệt giữa lạm phát bắt nguồn
từ cầu và lạm phát bắt nguồn từ cú sốc cung
Nếu nguyên nhân chính là nhu cầu quá nóng,
lãi suất cao có thể giúp đưa nền kinh tế trở lại trạng thái cân bằng
Nhưng nếu áp lực giá cả chủ yếu đến
từ nguồn cung hoặc các cú sốc chi phí
thì việc thắt chặt quá mạnh có thể làm suy yếu tăng trưởng
mà không nhanh chóng giải quyết được nguyên nhân ban đầu
Và đó chính là rủi ro mà Fed phải cân nhắc
Một kịch lý khác đang xuất hiện trong các dữ liệu kinh tế
lợi nhuận của những doanh nghiệp lớn trong S&P 500 có thể tăng mạnh
trong khi hoạt động kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp khác chỉ duy trì ở mức vừa phải
Sự khác biệt này đặc biệt rõ ở nhóm doanh nghiệp công nghệ và AI
Những tập đoàn có lượng tiền mặt dồi dào,
bảng cân đối kế toán vững chắc
và khả năng tự tài trợ đầu tư thường ít
phụ thuộc vào tín dụng bên ngoài hơn
Ngay cả khi lãi suất tăng,
họ vẫn có thể tiếp tục đầu tư vào trung tâm dữ liệu
chip xử lý và hạ tầng AI bằng nguồn lực nội bộ
Ngược lại, những doanh nghiệp phụ thuộc vào vốn vay,
đặc biệt là các đơn vị phải liên tục huy động vốn
để duy trì tăng trưởng, sẽ nhạy cảm hơn nhiều với chi phí tài chính
Khi lãi suất tăng, chi phí tái cấp vốn cũng sẽ tăng theo
Nếu dòng tiền hoạt động không đủ mạnh,
doanh nghiệp có thể buộc phải cắt giảm đầu tư
thu hẹp quy mô hoặc trì hoãn các kế hoạch mở rộng
Điều đó sẽ tạo ra một nền kinh tế có 2 tốc độ
Một nhóm doanh nghiệp lớn vẫn duy trì lợi nhuận và đầu tư mạnh mẽ
Trong khi đó, các doanh nghiệp nhạy
cảm với lãi suất bắt đầu chịu sức ép
Nếu chỉ nhìn vào lợi nhuận của các tập đoàn
lớn hoặc mức tăng của chỉ số chứng khoán
nhà đầu tư có thể đánh giá quá cao sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế
Và nếu Fed cũng dựa quá nhiều vào các chỉ số tổng hợp này
thì nguy cơ thắt chặt quá mức có thể sẽ gia tăng
Lãi suất cao còn tạo ra một áp lực khác, thay đổi mức định giá tài sản
Khi lợi suất phi rủi ro tăng, nhà đầu tư có thêm lựa chọn
nhận mức sinh lời tương đối hấp dẫn từ trái phiếu.
Vì vậy, họ sẽ yêu cầu lợi suất cao hơn khi nắm giữ cổ phiếu
hoặc những tài sản có mức độ rủi ro lớn hơn.
Hệ quả là định giá cổ phiếu có thể giảm ngay
cả khi lợi nhuận doanh nghiệp chưa suy yếu đáng kể.
Đây là điều thị trường từng chứng kiến trong năm 2022
khi S&P 500 giảm mạnh trong bối cảnh lợi suất trái phiếu tăng nhanh
dù lợi nhuận doanh nghiệp không đồng loạt sụp đổ.
Bài học ở đây rất rõ ràng.
Một nền kinh tế có lợi nhuận doanh nghiệp tương đối vững chắc
không đồng nghĩa với việc thị trường chứng
khoán được miễn nhiễm trước lãi suất cao
Và khi định giá tài sản giảm,
tác động có thể lan từ thị trường tài chính sang hoạt động tiêu dùng
Đây là mắt xích tiếp theo, đồng thời cũng là một trong
những điểm dễ tổn thương nhất của nền kinh tế Mỹ
Trong nhiều năm, thị trường chứng khoán tăng trưởng đã
tạo ra một nguồn tài sản lớn cho các hộ gia đình Mỹ
Khi giá cổ phiếu và các tài sản tài chính tăng lên,
người nắm giữ tài sản có thể cảm thấy giàu có hơn
sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và ít có nhu cầu tiết kiệm bổ sung
Nhưng điều đáng lo ngại là hoạt động tiêu dùng ngày
càng có thể phụ thuộc vào giá trị danh mục đầu tư
thay vì chỉ dựa trên tăng trưởng tiền lương và thu nhập thường xuyên
Theo số liệu được dẫn từ JP Morgan Chase Institute trong bản thảo
tỷ trọng chi tiêu được tài trợ bởi dòng tiền
chuyển từ tài khoản đầu tư sang tài khoản vãng lai
đã tăng từ 2,3% năm 2015 lên 3,5% vào tháng 4 năm 2019
rồi đạt 6,8% vào tháng 4 năm 2020
Nếu các số liệu này được xác nhận
chúng cho thấy tài sản đầu tư đang đóng vai trò ngày càng lớn
trong việc hỗ trợ chi tiêu của hộ gia đình
Hãy hình dung điều đó theo cách đơn giản nhất
Cứ mỗi 100 USD được chi tiêu
gần 7 USD có thể đến từ việc chuyển từ tài khoản đầu tư
sang tài khoản thanh toán
thay vì hoàn toàn đến từ thu nhập thường xuyên
Đối với nhóm hộ gia đình có thu nhập cao
mức độ phụ thuộc này còn lớn hơn
Đây là điểm quan trọng
Bởi các hộ gia đình giàu có thường nắm giữ phần lớn tài sản tài
chính và cũng có vai trò đáng kể trong tổng chi tiêu tiêu dùng.
Nhóm 10% người có thu nhập cao nhất chi phối khoảng
một nửa tổng chi tiêu của toàn bộ nền kinh tế Mỹ.
Khi thị trường tài sản tăng, nhóm này có thể tiếp tục chi tiêu mạnh mẽ,
nhưng nếu giá cổ phiếu giảm sâu thì hiệu ứng tài sản sẽ đảo chiều.
Danh mục đầu tư mất giá, tâm lý tiêu dùng suy yếu,
các hộ gia đình có thể trì hoãn mua sắm lớn,
giảm chi tiêu dịch vụ hoặc tăng tỷ lệ tiết
kiệm để củng cố bảng cân đối tài chính
Và khi những người có mức chi tiêu lớn nhất bắt đầu thắt chặt ngân sách
tác động có thể lan sang doanh thu doanh nghiệp,
tuyển dụng và tăng trưởng kinh tế
Đó là cơ chế khiến một cú sốc trên thị trường chứng khoán
có khả năng chuyển hóa thành một cú sốc đối với nền kinh tế thực
Rủi ro này càng đáng chú ý khi tỷ lệ tiết kiệm cá nhân suy giảm
Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân của Mỹ trong tháng 8 giảm xuống 4,1%
Khi tỷ lệ tiết kiệm thấp,
các hộ gia đình có ít dư địa hơn để duy trì mức chi tiêu
nếu thu nhập hoặc giá trị tài sản suy giảm
Những hộ gia đình có tài sản lớn có thể vẫn
đủ khả năng chống chịu trong một thời gian
Tuy nhiên, nếu chi tiêu của họ phụ thuộc vào việc bán tài sản
sự suy giảm kéo dài của thị trường có thể
buộc họ phải điều chỉnh hành vi tiêu dùng
Đối với các hộ gia đình thu nhập thấp hơn,
vấn đề còn khó khăn hơn nhiều
Nếu phần lớn thu nhập đã được sử dụng cho nhà ở, thực phẩm, năng lượng
và các nhu cầu thiết yếu khác, khả năng tiết kiệm thêm sẽ rất hạn chế
Điều đó khiến nền kinh tế trở nên nhạy cảm với cả hai cú sốc
đó là chi phí sinh hoạt tăng và tài sản đầu tư giảm giá
Và khi lớp đệm tiết kiệm không còn dày như trước
khả năng hấp thụ cú sốc của nền kinh tế cũng suy yếu
Một đợt giảm giá cổ phiếu vì thế không
chỉ làm giảm giá trị tài sản trên giấy
nó còn có thể khiến người tiêu dùng giảm chi tiêu thực tế
qua đó ảnh hưởng đến doanh thu của doanh
nghiệp và tạo áp lực lên thị trường lao động
Điều này đặc biệt đáng quan tâm trong bối cảnh chính sách
tiền tệ vẫn đang tìm cách đưa lạm phát trở lại mục tiêu
Nếu phép tiếp tục nâng lãi suất trong khi thị trường tài sản suy yếu
nền kinh tế có thể phải đối mặt với một vòng xoáy tiêu cực
Giá tài sản giảm, tiêu dùng giảm,
doanh thu doanh nghiệp suy yếu và nhu cầu lao động chậm lại
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây là một kịch bản rủi ro,
không phải là kết quả chắc chắn
Tác động thực tế sẽ phụ thuộc vào quy mô của cú giảm giá,
tình hình việc làm, tăng trưởng thu nhập
và khả năng hỗ trợ của chính sách kinh tế
Vậy Fed còn bao nhiêu thời gian trước khi những
tác động của việc thắt chặt tiền tệ bộc lộ đầy đủ?
Lịch sử cung cấp một số manh mối,
dù không thể đưa ra một thời điểm chính xác cho chu kỳ tiếp theo
Chúng ta hãy nhìn lại giai đoạn cuối những năm 1990
Sau những thay đổi trong chính sách tiền tệ giữa thập niên 1990,
Fed tiếp tục tăng lãi suất từ năm 1999 đến năm 2000
Sau đó, nền kinh tế Mỹ bước vào suy thoái vào tháng 3 năm 2001
Khoảng thời gian giữa đợt tái thắt chặt và suy thoái
cho thấy chính sách tiền tệ có thể mất nhiều
tháng mới phát huy đầy đủ những tác động
Tuy nhiên, không nên xem giai đoạn này là một
khuôn mẫu có thể áp dụng nguyên vẹn cho hiện tại
Bởi vì mỗi chu kỳ có cấu trúc nợ, điều kiện tín dụng,
chính sách tài khoá và động lực tăng trưởng khác nhau
Điều đáng lưu ý hơn là độ trễ của chính sách tiền tệ
thì lãi suất tăng, các khoản vay mới thường chịu tác động trước
Sau đó, khi doanh nghiệp và hộ gia đình phải tái cấp vốn,
khoản vay lãi suất thả nổi được điều chỉnh
hoặc các hợp đồng tín dụng mới được ký kết,
chi phí tài chính cao hơn mới dần lan rộng.
Đồng thời, các quyết định đầu tư thường không bị hủy bỏ ngay lập tức.
Doanh nghiệp có thể tiếp tục thực hiện những dự án đã cam kết,
trong khi các kế hoạch mới chỉ bị điều chỉnh
sau khi triển vọng lợi nhuận thay đổi.
Vì thế, nền kinh tế vẫn có thể thể hiện sức chống
chịu trong giai đoạn đầu của chu kỳ thắt chặt,
Ngay cả khi các điều kiện tài chính đang dần trở nên bất lợi
Đến khi những tác động tích lũy xuất hiện trong tiêu dùng,
đầu tư và tín dụng
Ngân hàng trung ương có thể sẽ thực
hiện phần lớn quá trình tăng lãi suất
Đây chính là lý do các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc
Không chỉ tình trạng hiện tại của nền kinh tế
Mà còn cả những tác động chưa bộc lộ của các quyết định trước đó
Nếu lãi suất dài hạn đã ở mức cao, chi phí vay vốn đã tăng
Và thị trường tài sản đang chịu sức ép
Thì việc tiếp tục thắt chặt có thể làm gia tăng rủi ro suy giảm kinh tế
Ngược lại, nếu lạm phát cơ bản vẫn dai
dẳng và kỳ vọng lạm phát bất ổn định
Việc nới lỏng quá sớm cũng có thể khiến áp lực giá cả quay trở lại
Bài toán của Fed vì vậy không đơn giản
là lựa chọn giữa tăng và giảm lãi suất
Đó là bài toán cân bằng giữa rủi ro lạm
phát kéo dài và rủi ro thắt chặt quá mức
Một trong những lập luận thường được đưa ra để trấn an thị trường
là lợi suất trái phiếu khoảng 5% không phải mức
quá cao nếu xét trong một số giai đoạn lịch sử
Nhưng lập luận này cần được đặt trong bối cảnh cụ thể
Một nền kinh tế có mức nợ thấp,
chi phí tài chính hợp lý và bảng cân đối kế toán lành mạnh
có thể chịu đựng lãi suất cao tốt hơn
một nền kinh tế đã tích lũy lượng nợ lớn
trong thời gian dài với chi phí vốn thấp
Điều quan trọng không chỉ là lãi suất danh nghĩa đang ở mức nào
mà còn là lãi suất đó cao đến đâu so với tốc độ tăng trưởng danh nghĩa
khả năng tạo ra dòng tiền và mức độ đòn bẩy của người đi vay
Sau nhiều năm lãi suất thấp,
doanh nghiệp và hộ gia đình có thể đã điều chỉnh hành vi tài chính
theo giả định rằng chi phí vốn sẽ duy trì ở mức dễ chịu
Khi mặt bằng lãi suất thay đổi, những giả định đó sẽ không còn phù hợp
Các khoản nợ đến hạn phải được tái cấp vốn với chi phí cao hơn
Những dự án chỉ khả thi khi vốn rẻ có thể không còn hấp dẫn
Những tài sản từng được định giá dựa trên
mức chiết khấu thấp phải được đánh giá lại
Đó là lý do một mức lợi suất có vẻ bình thường xét theo lịch sử
vẫn có thể gây ra sức ép lớn trong một nền kinh tế có mức nợ cao
Và nếu sự điều chỉnh này diễn ra đồng thời trên thị trường trái phiếu,
cổ phiếu và tín dụng
thì tác động có thể vượt xa phạm vi của riêng một thị trường
Quý vị vừa theo dõi bản tin Sổ Cái Vô Hình
nơi dữ liệu được soi chiếu biến thành trí thức
và trí thức trở thành lợi thế dẫn lối cho
những ai biết nhìn xa hơn những con số
Hãy chia sẻ trong phần bình luận chủ đề
Hoặc là câu chuyện mà bạn muốn chúng tôi khám phá trong các số tới
Vì chính góc nhìn của bạn sẽ tạo nên giá trị của kênh
Nếu bản tin ngày hôm nay mang đến cho bạn
một góc nhìn mới về thế giới tài chính
Thì đừng quên nhấn like, share và subscribe
Để không bỏ lỡ những điều đang chuyển động bên dưới những
con số tưởng chừng lặng im
Sổ cái vô hình, nơi những con số biết nói
Và chúng tôi khiến chúng phải nói lên sự thật
