Bi kịch diệt vong của người gốc Hoa tại Indonesia

Đại Kỷ Nguyên - Bình luận
4K Người theo dõi
1.2K Lượt xem video·8 thg 9, 2026
Đêm 30 tháng 9 năm 1965, một cuộc chính biến đẫm máu đã vĩnh viễn thay đổi lịch sử Indonesia và đẩy hàng vạn người gốc Hoa vào bi kịch tột cùng. Đằng sau cuộc lật đổ chớp nhoáng đó là bàn tay can thiệp thâm độc của ĐCSTQ và quả báo nhãn tiền dành cho những kẻ cố tình thao túng chính trị. Sự thật về mưu đồ đoạt quyền và luật nhân quả tàn khốc cuối cùng cũng được đưa ra ánh sáng.
🌑 Đêm chính biến 30/9 và bước ngoặt quyền lực chớp nhoáng của Suharto
⚖️ Trò chơi thăng bằng tử thần của Sukarno giữa ba thế lực đối nghịch
🤝 Cuộc gặp gỡ bí mật tại Bắc Kinh và cái gật đầu từ ĐCSTQ
🩸 Cuộc thanh trừng đẫm máu và bi kịch tị nạn của người gốc Hoa
👁️ Chính sách đồng hóa và bài học sinh tử về sự im lặng chính trị
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tiếng gõ cửa rồn rập giữa đêm khuya, những tiếng quát háo và những phát đạn xé toạc màn đêm một ngạc của Jakarta.
Chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ đồng hồ, vật minh của một quốc gia hoàn toàn đảng lột.
Đêm 30 tháng 9 năm 1965 không chỉ là một cuộc chính biến đấm máu làm thay đổi lịch sử quốc gia vạn bào,
mà còn mở ra một cơn áp mộng dai rẳng, một vòng lặp nhân quả tàn khốc ráng xuống hàng triệu người gốc Hoa.
Những mưu đồ chính trị đan sen cùng sự can thiệp từ thế lực ngoại bang đã gieo mầm cho một thảm kịch mà đến tận ngày nay,
nhiều sự thật vẫn còn bị trôn vùi trong bóng tối.
Kỳm Hòa xin kính chào quý vị khán giả.
Hôm nay chúng ta cùng nói về một giai đoạn lịch sử đầy uẩn khúc tại Indonesia vào năm 1965.
Sự kiện ngày 30 tháng 9, hay còn gọi là phong trào 9-30, không chỉ là một cuộc tranh giành quyền lực chấp nhoáng,
mà còn là bức tranh phản chiếu sự can thiệp sâu sắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, dẫn đến bi kịch đấm máu cho hàng triệu người vô tội.
Đêm chính biến 30 tháng 9 và bước ngoặt quyền lực của tướng Suharto.
Đêm ngày 30 tháng 9 năm 1965, thủ đô Jakarta của Indonesia chìm trong một bầu không khí oi bức và ngột ngạt bất thường.
Vừa qua nửa đêm, những bóng đen bắt đầu chuyển động, từng chiếc xe quân sự âm thầm lăn bánh rời khỏi doanh trại.
Đèn xe được hạ xuống mức tối đa để tránh gây sự chú ý trong màn đêm dày quánh.
Bên trong xe, những quân nhân được trang bị vũ trang đầy đủ, gương mặt đằng đằng sát khí.
Họ tuân thủ manh lệnh một cách tuyệt đối, chia làm nhiều ngã khác nhau, tiến về các mục tiêu đã được định sẵn trên bản đồ.
Một mạng lưới tử thần đang lặng lẽ siếp chặt lấy các tướng lĩnh cấp cao của quân đội.
Đến ràng sáng ngày 1 tháng 10, khoảng 3 giờ sáng, sự tĩnh lặng bị xé nát, những cánh cửa của các dinh thư cấp cao đồng loạt bị đập phá.
Tiếng gó cửa chát chúa, tiếng thép sang lệnh bằng dòng điệu lạnh lùng và cả những loạt đạt oăn nghiệt vang lên, đánh thức cư dân xung quanh trong sự hoang mang tột độc.
Tại một trong những dinh thư đó, Trung tướng Ahmad Yani, vì tư lệnh lục quân quyền lực đang say giấc thì bất chợt bừng tỉnh, ông bước ra khỏi phòng ngủ để xem xét tình hình.
Nhưng chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, một viên đàn của quân đội nổi dậy đã xuyên qua cơ thể kiến ông gục ngã ngay trên vũng máu.
Ở những tư dinh khác, lực lượng vũ trang tiếp tục xông vào, bắt giữ hàng loạt nhân vật quan trọng, áp giải họ lên những chiếc xe bịt bùng rồi lao vút vào bóng tối, để lại những gia đình tan tóc và kinh hãi.
Sáng hôm đó, Trung táo Dung Tùng, người đứng đầu lực lượng nổi dậy, đã sử dụng đài phát thanh quốc gia để đưa ra một bản tuyên bố làm dúng động dư luận.
Ông ta khẳng định hành động của mình là nhằm đập tan một âm mưu phản quốc của cái gọi là hội đồng tướng lĩnh, đồng thời tuyên bố thành lập hội đồng cách mạng để tiếp quản tình hình.
Ông Tùng lập luận rằng đây là bước đi tiên hạ thủ vi cường, một hành động bất đắc dĩ nhưng bắt buộc phải thực hiện để bảo vệ Tổng thống Sukarno.
Hỏi một cuộc đảo chính do phe cánh hữu trong quân đội giàn xếp, dân chúng Jakarta nghe đài mà không khỏi hoang màng tột độ. Họ không biết ai mới thực sự là kẻ tạo phản.
Những vị tướng bị sát hại là kẻ phản quốc hay chính ông Tùng và đám binh lính của ông ta mới là mầm mống của sự nổi loạn.
Thế nhưng mưu sự tài nhân thành sự tài thiên, Trung tá ông Tùng đã tính toán mọi nước cờ bắt giữ những nhân vật cốt cá nhất nhưng lại bỏ sót một lỗ hồng trí mạng, trụ sở lực lượng dự bị chiến lược.
Tại đây, tiếu tướng Suatto, người đứng đầu lực lượng này, đang bình tĩnh quan sát mọi biến động. Suatto từng là cấp trên trực tiếp của ông Tùng, một con người luôn điểm tĩnh, ít nói và giấu mình cực kỳ kín kẽ.
Ngay khi nhận được báo cáo về việc các thành viên quan trọng của hội đồng tướng lĩnh bị bắt cóc, chưa rõ sống chết. Và đặc biệt là nguồn tin xác nhận tư lệnh lục quân Yanni đã gục ngã, Suatto lập tức đưa ra quyết định sắc bén.
Mặc dù chỉ mang quân hẳn tiếu tướng, nhưng vào thời điểm đó, ông lại là sĩ quan có cấp mực cao nhất còn sống sót và có khả năng điều động quân đội. Suatto lập tức tiếp quản quyền chỉ huy toàn bộ lục quân.
Ngay sau đó, quân của Suatto chuyển hướng tấn công, đánh thẳng vào căn cứ không quân Halim, đập tan xào huyệt quân lực lượng 930. Chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ đồng hồ, một cuộc chính biến có nguy cơ dung chuyển quốc gia đã bị rập tắt hoàn toàn.
Ông Tùng ngạ mạn nghĩ rằng mình đã làm chủ đại cục, nhưng cuối cùng lại rơi vào cái bẫy của chính sự cầu thảng.
Cần biết rằng vào thời điểm đó, PKI không phải là một thế lực nhỏ bé. Họ là Đảng Cộng sản lớn thứ tư trên toàn cầu, sở hữu hàng triệu đảng viên, những tổ chức quân chúng khổng lồ và có sự hậu thuẫn vững chắc từ Tổng thống Sukarno.
Đáng chú ý hơn cả, chính sau lưng PKI chính là cái bóng khổng lồ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thế lực đang khao khát xuất khẩu tư tưởng cách mạng ra toàn cõi Đông Nam Á.
Sự kiện 930 thất bại đã vô tình đẩy cộng đồng người gốc Hoa tại Indonesia chiếm khoảng 2,5-3% tổng dân số, rơi vào một vòng xoáy thủ hận khủng khiếp.
Trong mắt nhiều người bản địa, họ vô tình bị gán ghét là chiếc cầu nối bí mật giữa PKI và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Một cơn bão máu đang trực trở ngập xuống, trò chơi cân bằng của Sukarno và bối cảnh suy thoái kinh tế.
Để hiểu rõ vì sao Indonesia lại đi đến bước đường cùng đấm máu của đêm 30 tháng 9, chúng ta cần lật lại những trang sử từ giai đoạn trước đó,
khi những mâu thuẫn chính trị và kinh tế bắt đầu tiếp tục như một ngọn núi lửa trực trở phun trào.
Lịch sử của quốc gia bạn Đảng là một tiến trình dài đầy biến động, chịu sự răng xé của nhiều thế lực khác nhau.
Từ đầu thế kỷ 17, công ty Đông Ấn Hà Lan đã xâm nhập và từng bước thâu tóm các thành bang nhỏ bé, tiếp lập ách cai trị kéo dài hàng thế kỷ trên khắp quần đảo.
Mãi đến sau đệ nhị thế chiến, dưới sự trung gian của Hoa Kỳ, người Hà Lan mới chịu rút lui.
Lúc này, Sukarno người được tôn xưng là quốc phụ đã làm nên lịch sử khi gột hơn 600 sắc tập và hàng vạn hòn đảo rời rạc lại thành một quốc gia thống nhất, Cộng hòa Indonesia.
Trong những năm đầu độc quốc, Tổng thống Sukarno từng mang nhiều kỳ vọng và nỗ lực thử nghiệm mô hình dân chủ nghị viện, theo kiểu phương Tây.
Nhưng thực tế luôn tàn nhẫn hơn lý tưởng. Sau hơn một thập niên vận hành, đến năm 1959, ông nhận ra sự thật phũ phàng.
Khắp các hội trưởng nghị sự, các đảng phái chính trị đấu đá không ngừng nghỉ.
Nội các được lập nên rồi liên tục sụp đổ chỉ trong thời gian ngắn. Quốc gia rơi vào tình trạng chia rẽ và yếu kém.
Sukarno quyết định bẻ lái, ông phế bỏ toàn bộ mô hình chính trị cũ, khôi phủ hiến pháp năm 1945 và thiết lập cái gọi là dân chủ trì đạo.
Đằng sau cái tên mỹ miều ấy thực chất là một hình thức độc tài uy quyền, gom mọi quyền lực về Tây Tổng thống.
Mục tiêu tối thượng của Sukarno là hướng Indonesia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa,
thông qua một hệ tư tưởng do chính ông sáng tạo bằng tên Chủ Nghĩa Mahae.
Chính sách của Sukarno vô tình tạo ra một cục diện chính trị vô cùng mong manh,
một thế chân vạc với ba thế lực thủ địch nhau sâu sắc.
Bên thứ nhất là lực lượng quân đội mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.
Kể từ khi lập quốc, do phải liên tục đối phó với các cuộc nổi loạn vũ trang ở các địa phương,
quân đội ngày càng nắm giữ quyền lực to lớn.
Những tướng lĩnh như Sukarno cũng từ trong các cuộc xung đột này mà bước lên hàng ngũ chỉ huy tối cao.
Bên thứ hai là các nhóm tôn giáo hồi giáo bản địa và giới chủ lưu,
những người nắm giữ sức mạnh to lớn, kiểm soát phần lớn các vùng nông thôn rộng lớn của Indonesia.
Và thế lực thứ ba đang trỗi rảy mạnh mẽ và hùng hãn nhất chính là Đặc Cộng sản Indonesia,
tức PKI, dưới sự rung túng của Sukarno.
PKI vướt lên thành một con quái vật chính trị thực sự,
sở hữu hàng trăm triệu đảng viên cùng các hệ thống công đoàn, công nội và đoàn thanh niên khổng lồ.
Cả quân đội và phe hồi giáo đều căm ghét PKI, đến tận xương tủy,
quân đội lo sợ PKI sẽ từ từ thức đoạt quyền lực và lập xa các lực lượng vũ trang riêng.
Trong khi đó giới địa chủ và chức sát hồi giáo lại phấn lộ trước các cuộc cải cách rột đất,
đấu tố cướp đoạt tài sản bạo lực do PKI phát động tại các làng mạc.
Thay vì dập tắt mâu thuẫn, Sukarno lại tự mình đặt vào vị trí trung tâm,
đóng vai trò trong tài điều đình giữa ba phe.
Sáng ông ngọc gỡ quân đội, chiều ông lại vui vẻ đàm đạo với lãnh đạo PKI.
Ông tự tin một cách thái quá rằm, chỉ cần mình còn cầm lái,
thế cân bằng này sẽ không thể bị phá vỡ và không muốn bên nào dám manh động.
Nhưng luật nhân quả xưa nay không chịu một ai, kẻ chơi với lửa tắt có ngày chết cháy.
Sự mục nát về chính trị, tất yếu kéo theo sự sụp đổ thảm hại về nền kinh tế.
Vào đầu thấm niên 1960, thâm hụt ngân sách của chính phủ Indonesia tăng cao chưa từng thấy.
Cắp các cơ quan nhà nước, sự trì chê và tham nhũng lan tràn.
Thay vì cải tổ và thắt lưng buộc bục, chính quyền Sukarno lại chọn giải pháp thiện gận nhất,
im tiền vô tội vạ để lấp liếm các khoản nợ.
Hậu quả là lạm phát thi mã mùng bét, vượt ngưỡng 1.500% vào giữa thầm niên 1960.
Đồng rupiah mất giá thẳng hại, đến mức người dân chuyển tay nhau cầu nói mỉa mai chùa sót.
Lấy tiền rupiah làm giấy vệ sinh, còn chê quá cứng.
Tốc độ mất giá của đồng tiền nhanh đến mức người lao động hễ nhận được lương là phải chạy ngay ra chợ,
mua bất cứ vật dụng nào có thể cầm nắm được để bảo toàn tài sản,
tạo ra một khung cảnh bi đác cùng cực khắp đất nước.
Đối mặt với sự phấn nội ngày càng dân cao của dân chúng,
Hùng tìm cách cứu vãn nghề kinh tế mà lại chọn con đường quen thuộc của những kẻ độc tài,
tiêm liều thuốc thích thích dân tộc chủ nghĩa.
Ông khích động lòng thù hận, tạo ra cuộc xung đột bên ngoài để đánh lã tướng sư luận trong nước.
Năm 1962, thông qua các áp lực quân sự và ngoại giao,
ông thành công ép Hà Lan giao lại quyền kiểm soát đảo Tây Irian.
Thắng lợi này, đẩy uy tín cá nhân của ông lên đỉnh cao,
làm ông trở nên kiêu ngạc, tin rằng mình có sứ mệnh vĩ đại là lãnh đạo toàn bộ thế giới thứ ba.
Khi Malaysia được thành lập với sự hậu thuẫn của Anh Quốc vào năm 1963,
bao gồm Malaysia, Singapore, Sabah và Sarawak, Sukarno lập tức tuyên bố đối đầu.
Ông lập đơn rằng đây chỉ là chủ nghĩa thực dân Anh dưới lớp vỏ bọc mới,
rồi phát động các chiến dịch quân sự quấy rối biên giới.
Những hành động vô nghĩa này tiếp tục bào mòn ngân khố quốc gia vốn đã cạn kiệt,
đẩy Indonesia đến bởi vực phá sản toàn diện.
Một thùng thuốc súng khổng lồ đã được bơm đẩy, chỉ chờ một mồi lửa từ bên ngoài châm ngòi.
Bóng dáng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và cuộc gặp gỡ định mệnh tại Bắc Kinh.
Trong cơn say quyền lực và nỗ lực chống lại phương Tây bằng mọi giá,
Tổng thống Sukarno đã có một quyết định mang tính định mệnh, đưa Indonesia bước một chân vào vực thẳm.
Xích lại gần Đảng Cộng sản Trung Quốc, với tư duy muốn phá bỏ trật tự cũ,
ông lớn tiếng kêu gọi thành lập một trục Jakarta Bắc Kinh,
một liên minh với các lực lượng mới nổi dây nhằm đối trọng với sự thống trị của phương Tây.
Sự ngâm cuồng của Sukarno lên đến đỉnh điểm khi ông đưa ra quyết định chấn động thế giới,
tuyên bố rút Indonesia khỏi Liên Hợp Quốc vào năm 1965.
Đứng sau những quyết định bốc đồng và niên rổ này,
không thể không kể đến những lời đường mật từ các đảng viên PKI vây quanh ông,
những người ngày đêm không ngừng thao túng tâm lý vì Tổng thống đã bước qua tuổi lục tuần.
Mối quan hệ giữa Sukarno và Đảng Cộng sản Trung Quốc nhanh chóng trở nên nồng ấm bất thường.
Tại Bắc Kinh, mau trái đông tỏ ra vô cùng tán thưởng và ủng hộ những hành động chống phương Tây của Sukarno,
coi Indonesia là một bàn đạp hoàn hảo để xuất khẩu khách mạng vô sản xuống khu vực Đông Nam Á.
Ở chiều ngược lại, Aidit, Tổng bí thư của PKI,
cũng liên tục thực hiện các chuyến thăm Bắc Kinh để thỉnh thị và học hỏi.
Đối với các tướng lĩnh lục quân Indonesia,
những người luôn mang tư tưởng chống công mãnh liệt, hình ảnh giao hảo khăng khít này giống như một hồi chuông báo tử.
Họ nhận thấy rõ ràng Tổng thống đang rẽ ngoặt sang cánh tà,
cố tình để mặc cho PKI bành chướng thế lực dưới sự trai trở về mặt chính trị từ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Mặc dù chưa chính thức nắm quyền điều hành đất nước,
PKI đã bắt đầu hành xử như một kẻ thống trị tại các vùng nông thôn hẻo lánh.
Sau chép y bản, mô hình từ Đảng Cộng sản Trung Quốc,
họ nhiệt tình áp dụng các cuộc cải cách ruộng đất, phát động bạo lực bẩn nông,
tổ chức các phiên tòa đấu tố và bức hại địa chủ.
Sự tàn nhẫn và bạo ngược này đã khiến các thế lực tôn giáo và người dân địa phương căng thẳng đến tột độ.
Trong khi đó, dưới lĩnh đảng cấp cao của quân đội,
đứng đầu là Trung tướng Yanni và Thiếu tướng Suharto,
vô cùng lo ngại rằng bước tiếp theo của PKI sẽ là thành lập các đội quân công nông vũ trang
lập nên các xô viết đỏ ngay trên đất nước Indonesia để lật đổ quân đội.
Quân đội bắt buộc phải cảnh giác cao độ.
Cuộc chơi cân bằng ba chân đầy nguy hiểm của Sukarno đang dần đi đến hồi kết bởi một yếu tố không thể tránh thỏi.
Thời gian.
Sức khỏe của vị Tổng thống 60 tuổi này ngày càng yếu.
Ai sẽ là người kế vị Sukarno?
Một câu hỏi sinh tử được đặt ra cho tất cả các phe phái.
Nếu quyền lực tối cao rơi vào tay đối thủ, toàn bộ phe phái còn lại sẽ bị tiêu diệt không thường tiếc.
Nhận thức được thời khắp quyết định đã điểm.
Vào tháng 8 năm 1965, chỉ một tháng trước khi chính biến nổ ra, Tổng bí thư PKI,
Aidit, đã vội vã dẫn đầu một phái đoạn bí mật bay thẳng sang Bắc Kinh.
Tài của gặp gỡ cấp cao diễn ra vào ngày 5 tháng 8.
Aidit đã ngồi cùng bàn với những nhân vật quyền lực nhất đảng độc sản Trung Quốc lúc bấy giờ,
bao gồm Mao Trạch Đông, Liu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai.
Theo phân tích của các chuyên gia lịch sử, Aidit đã trình bày chi tiết về tình trạng sức khỏe suy yếu của Sukarno.
Hắn ta đệ trình một kế hoạch tá bạo, phát động thành lập một hội đồng cách mạng để thâu tóm toàn bộ quyền lực,
đồng thời lôi kéo cả phe tả và phe yếu gia nhập nhằm tạo vò bọc hợp pháp.
Lắng nghe kế hoạch này, Mao Trạch Đông không trực tiếp phi chuẩn hay bác bỏ bằng văn bản mà lại dùng thủ đoan quen thuộc,
kể về câu chuyện đàm phán Trung Khánh năm 1946 giữa ông và tưởng giới thạch, dẫn đến việc ký kết hiệp định song thập.
Ấn ý đằng sau câu chuyện lịch sử này là một lời khuyên thâm đọc, PKI phải chuẩn bị sẵn sàng cho các kịch bản,
vừa đàm phán hòa bình để che mắt thế gian, vừa phải nắm chắc vũ khí để tiến hành đấu tranh bạo lực, khi cần thiết.
Đối với một người như Aidit, thái độ không phản đối của giới đạng Đảng Cộng sản Trung Quốc chính là một cái gật đầu ngầm,
một tấm thẻ xanh cho phép hành động. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch,
tước đoạt quyền lực và để mặt cho PKI thực thi. Hành trang mang về từ Bắc Kinh đã tiếp thêm sự tự tin và sự liều lĩnh tột độ cho Aidit.
Chưa đầy hai tháng sau khi trở về Indonesia, Aidit đã bí mật hạ lệnh cho các đảng viên ngầm trong quân đội, kích hoạt sự kiện 390.
Người được chọn để cầm đầu mũi giáo như chúng ta đã biết chính là Trung tá Úng Tùng.
Dù không có thẻ đảng viên chính thức, Úng Tùng đã bị tư tưởng cánh tả của PKI thao túng hoàn toàn.
Mục tiêu thực sự của cuộc chính biến đến hôm đó không phải là lật đổ Tổng thống Sukarno,
người vốn dĩ đang là bạn tốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
mà là nhằm mượn danh nghĩa bảo vệ Tổng thống để tiêu diệt tận gốc phe cánh hữu trong quân đội.
Tàn sát các tướng lính chính là bước dọn đường hoàn hảo để PKI danh chính ngôn thuận bước lên vũ đại quyền lực.
Thế nhưng, mưu tín thông độc của Aidit đã vấp vào mòn đá tảng mang tên Suharto,
và sách làm đó đã đẩy tổ chức Cộng sản khổng lồ cùng hàng triệu sinh mạng gốc hoa vô tội
vào một lò mổ không lối thoát trong những ngày tháng đen tối tiếp theo.
Cuộc thanh trừng đấm máu và my kịch của cộng đồng người gốc hoa
Trở lại với diễn biến của sự kiện 930, tối ngày 1 tháng 10 năm 1965,
thiếu tướng Suharto về cơ bản đã dập tam cuộc chính biến do Trung tá Úng Tùng phát động.
Tuy nhiên, ban chấp ảnh trung ương PKI tại Jakarta vẫn chưa nắm được tình hình.
Bằng chứng là vào ngày 2 tháng 10, cơ quan ngôn luận của PKI vẫn đăng bài ủng hộ cuộc khởi nghĩa,
đồng thời tổ chức các đảng ở nhiều địa phương vẫn tiếp tục hưởng ứng.
Chính sự chậm trễ và mù quáng này đã trở thành bằng chứng thép để Suharto kết tội PKI.
Cùng ngày hôm đó, lực lượng của Suharto thác nhận sáu vị tướng lính lục quân đã bị sát thại dã man.
Ba ngày sau, một lễ cốt tan trang trọng được tổ chức, Suharto chính thức tuyên bố trên đài phát thanh.
Sự kiện 9-30 là một âm mưu đảng chính toàn quốc do PKI đạo diễn.
Tổng thống Sukarno lúc này chọn cách giữ im lặng, cố gắng cắt đứt mọi liên hệ với phe đảng chính để bảo toàn mạng sống.
Trong khi đó, Tổng Bí thư PKI Aidit phải vội vã bỏ trốn.
Quân đội giữ im lặng trong ba tuần, sau đó sử dụng toàn bộ hệ thống báo chí và đài phát thanh quốc gia để nhồi sọ công chúng,
liên tục lặp lại thông điệp, PKI âm mưu cướp chính quyền, tàn sát tướng lĩnh,
và đứng sau lưng chúng chính là cái bóng vô cùng nguy hiểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Một chiến dịch thanh trừng khốc liệt chưa từng có bắt đầu ráng xuống đất nước này.
Vốn dĩ, PKI đã gây thủ chốt oán quá nhiều.
Các cuộc cải cách dụng đất, đấu tố địa chủ và bức hại tôn giáo trước đây đã khiến người dân bản địa phấn nộ tột cùng.
Khi quân đội bật đèn xanh, các thế lực chống cộng ở địa phương lập tức đứng lên hưởng ứng.
Một cơn bão máu quét qua khắp các vùng đông thôn.
Chỉ trong vài tháng, hàng chục vạn người đã biến mất không giấu vết.
Tổng bế thừa Adid bị bắt và bí mật sử tử vào tháng 11 năm 1965.
Trung tá Úng Tùng cũng không thoát khỏi ác nghiệp, bị kết án tử hình vào năm 1967.
Trong vòng xoáy thu hất đó, cộng đồng người gốc Hoa tại Indonesia vô tình trở thành những tấm bia đỡ đạc.
Họ bị xã hội chủ lưu mặc định coi là những kẻ có khuyến hướng ủng hộ PKI và đảo xoáy Trung Quốc.
Khi làn sóng thanh trừng lan rộng, một cuộc di tản quy mô lớn của người gốc Hoa đã diễn ra.
Nhiều gia đình phải bỏ lại toàn bộ nhà cửa, tài sản ở các vùng đông thôn như Talimantan,
chạy chối chết về các thành phố lớn như Jakarta để tìm kiếm sự bảo vệ từ chính quyền Trung ương.
Những người không may mắn đành về tren trúc trong các trại tị nạn tồi tàn,
thiếu thốn thuốc men, lương thực và nước sạch.
Rất nhiều người già và trẻ em đã bỏ mạng tại đây.
Phản ứng của Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ càng đổ thêm dầu vào lưỡng.
Họ yêu cầu chính phủ Indonesia phải bảo vệ công dân Trung Quốc,
đồng thời lên tiếng phản đối mạnh mẽ các cuộc tấn công nhằm vào ngoại giao đoàn.
Tuy nhiên trong mắt Suharto và The Hieu,
sự cứng rắn này chỉ càng chứng minh Đảng Cộng sản Trung Quốc thực sự là kẻ giật dây,
đang cố gắng biến cộng đồng người Hoa thành nơi trú ẩn cho phiến quân.
Các cuộc biểu tình chống Hoa dâng cao, Đại dư quán bị đập phá
và quan hệ ngoại giao giữa hai nước rơi xuống vực thẳm.
Mặc dù số lượng người gốc Hoa thiệt mạng không lên đến con số hàng triệu
như một số nguồn tin phóng đại,
nhưng thảm kịch này vẫn cướp đi sinh mạng của hàng ngàn đến hàng vạn người,
để lại một viết thương vĩnh viễn không thể chữa lành trong lịch sử.
Kỵ nguyên Suharto và bài học về sự đồng hóa bắt buộc.
Sau khi nắm chắc quân đội và tiêu diệt hoàn toàn phe đối lập,
Suharto không vội vàng phế chốt Sukarno.
Thay vào đó, ông tỉa dần dần vây cánh của Tổng thống,
ước đoạt từng phần quyền lực cho đến khi Sukarno chỉ còn một cái bóng mùa nhìn.
Đến năm 1967, Suharto chính thức lật đổ Sukarno trở thành Tổng thống Indonesia.
Cùng năm đó, quan hệ ngoại giao với Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức bị cắt đứt.
Sukarno đùa với lửa và cuối cùng tự thiêu dụi chính mình.
Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa,
đây là một thất bại thảm hại mang tầm vóc lịch sử.
Đảng Cộng sản lớn thứ tư thế giới đã bị xóa sổ hoàn toàn.
Tuy nhiên, Suharto tiếp quản một đất nước đang đứng trên bờ vực phá sản.
Nếu chỉ biết dùng súng đạn mà không khôi phục kinh tế,
quyền lực của ông cũng sẽ sớm tan thành mây khói.
Rút kinh nghiệm từ sai lầm của người tiền nghiệp,
Suharto lập tức bãi bỏ các chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Ông trọng dùng các học giả thân phương Tây,
thiết lập các kỷ luật tài khoá,
ngừng in tiền và nối lại các quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế.
Nhờ lập trường chống cộng kiền quyết,
chính quyền mới nhận được nguồn viện trợ khổng lồ từ phương Tây.
Đến năm 1969, lam phát từ mức 1.000.
Đến năm 1969, lam phát từ mức 1.500%.
Cú hích từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973
càng làm ngân khối quốc gia thêm dư giả,
giúp nền kinh tế tăng trưởng trung bình gần 8% mỗi năm,
biến Indonesia thành một ngôi sao sáng của châu Á.
Về phần cộng đồng người gốc Hoa,
dù cơn ác mộng chém giết đã tạm ngừng,
nhưng họ bước vào một kỷ nguyên kìm kẹt mới.
Suharto luôn giữ sự đề phòng sâu sắc,
ám ảnh rằng ĐCSQ sẽ tiếp tục sử dụng người Hoa để thâm nhập.
Chính quyền một mặt tận dụng nguồn vốn và tư duy kinh doanh nhẹn bén của người Hoa
để vực dậy nền kinh tế,
mặt khác lại áp đặt những quy định đồng hóa vô cùng khắc nghiệt.
Người Hoa bị buộc phải đổi sang tên họ bản địa,
bị cấm tổ chức các lễ hội văn hóa
và bị hạn chế tối đa không gian chính trị.
Nhiều người cho rằng sự đề phòng của Suharto là hoang tưởng
bởi người Hoa trước năm 1965
chỉ biết làm ăn, không mảng chính trị.
Nhưng sự thật lịch sử lại phức tạp hơn thế.
Trước cuộc chính biến, các tổ chức của người Hoa hoạt động rất mạnh mẽ.
Điển hình là Hội Hiệp Thương Quốc tịch Indonesia,
gọi tắt là Ba Perky.
Đây là tổ chức quần chúng người Hoa lớn nhất,
điều hành hàng trăm trường học và trường đại học.
Vấn đề nằm ở chỗ,
Ba Perky có quan hệ mật thiết với Sukarno và PKI.
Dưới vỏ bọc gìn giữ văn hóa truyền thống,
nhiều phân tử cánh tả đã biến các trường học này
thành cơ sở truyền bá tư tưởng của Đảng sản Trung Quốc.
Chính sự thiên tả của Ba Perky
đã khiến toàn bộ cộng đồng người Hoa bị mang tiếng xấu.
Trong mắt phe hữu,
Ba Perky không khác gì một con ngựa thành tròi do Bắc Kinh cải cắm.
Khi Suharto lên nắm quyền,
Ba Perky lập tức bị giải tán.
Bài học đắt giá được rút ra ở đây là
việc một cộng đồng thiểu số chỉ im lặng làm ăn,
bỏ mạng sân chơi chính trị cho một nhóm nhỏ cực đoàn
đại diện tương nói của mình là một lựa chọn vô cùng nguy hiểm.
Sự im lặng không mang lại bình yên,
mà đôi khi nó chính là liều thuốc độc
đẩy cả một cộng đồng vào chỗ chết
khi thời cuộc đổi thai.
Thưa quý vị,
lịch sử luôn có những quy luật nhân quả không thể chối cãi.
Việc lợi dụng bạo lực,
thao túng chính trị và gieo rắc thù hận
sớm muộn cũng sẽ bị phản phê.
Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn xuất khẩu bách mạng,
kết quả là hàng triệu đảng viên PKI
và những người gốc hoa vô tội về trả một cái giá quá đắt.
Bằng máu,
những miêu đổ đen tối giấu sau bước giảm chính trị
cuối cùng cũng bị thời gian phơi bẩy ra ánh sáng.
Quý vị nghĩ sao về bài học lịch sử đẫm máu này
và sự can thiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc
và chính trường nước khác?
Hãy để lại bình luận bên dưới video.
Cảm ơn quý vị đã dành thời gian theo dõi.
Xin kính chào và hẹn gặp lại.
