#ChuyenLangXua#CauChuyenNhanQua#TruyenNhanQua 2 Câu Chuyện Nhân Quả kể về những con người nghèo khó nhưng giữ được lòng ngay giữa lúc bị xem thường, gặp nạn và thử thách. Một người nhờ chiếc áo mới mà từ tai họa hóa thành phúc duyên, một người nhờ lời hứa nhỏ bé mà làm sáng tỏ nghĩa tình trong gia đình.
Trong 2 Câu Chuyện Nhân Quả, người xem sẽ thấy rằng tiền bạc, địa vị hay áo gấm bên ngoài không quyết định phẩm giá thật của con người. Kẻ keo kiệt, vô tình rồi cũng phải cúi đầu; người lương thiện, biết giữ chữ tín và không hại người vô tội sẽ được trả lại công bằng.
2 Câu Chuyện Nhân Quả là lời nhắc sâu sắc rằng nhân quả đời thường không cần phép màu: gieo lòng tốt sẽ gặp phúc, gieo tham lam sẽ tự chuốc lấy hậu quả, còn biết sửa sai thì vẫn còn đường quay đầu.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This content consists of two separate stories centered on the triumph of intelligence and virtue over greed and malice. The first follows Lý Hữu Tài, who uses a fake gem to pit a corrupt official against a bandit leader. The second tells of Vương Sinh, a shop assistant who survives kidnapping through wit and eventually reforms his employer's character.
Ở huyện Cổ Hoàng, nhắc đến nhà họ Vương, ai cũng biết đó là một đại hộ giàu có.
Vương Tứ Hải mấy đời làm nghề buôn vải.
Trong nhà có kho hàng lớn, ruộng tốt, người làm đông, ngoài cổng lúc nào cũng có xe ngựa ra vào.
Nhưng giàu có chưa chắc đã yên ổn.
Ba năm gần đây, trên núi Hắc Hổ xuất hiện một toán thổ phỉ hung hán.
Kẻ đứng đầu tên là Tôn Hắc Hổ.
Người cao lớn, tính tình tàn bạo, quen lấy đao thay lý lẽ.
Hắn không cướp người nghèo, vì người nghèo chẳng có gì để cướp.
Hắn chỉ nhắm vào những nhà có của, nhất là Vương gia.
Ban đầu, bọn chúng chỉ chặn xe hàng ngoài đường núi.
Sau đó, chúng bắt đầu gửi thư đòi bạc.
Mỗi phong thư đều kèm một vết dao chém sâu trên thẻ gỗ, như lời cảnh cáo.
Không nộp bạc, máu sẽ đổ.
Vương Tứ Hải từng báo quan.
Quan huyện Chu Đức Thành cũng nhiều lần phái binh lên núi đánh dẹp.
Nhưng lần nào quan binh cũng trở về tay trắng.
Có khi vừa lên đến chân núi, đã bị mai phục.
Có khi chưa xuất quân, thì bọn thổ phỉ đã biết tin mà trốn sạch.
Dân trong huyện bàn tán sau lưng.
Lạ thật, quan phủ đánh mãi không được, vậy mà thổ phỉ lại ngày càng mạnh.
Kẻ cướp ở trên núi đáng sợ một phần.
Nhưng nếu trong nhà môn có người nhắm mắt làm ngờ, thì dân còn biết trông vào đâu.
Vương Tứ Hải nghe được, nhưng không dám nói.
Ông có tiền, có nhà, có ruộng.
Nhưng trước đau của thổ phỉ và quyền của quan phủ,
ông vẫn chỉ là một người dân đang run sợ.
Trong vương phủ, người lo lắng nhất là tiểu thư Vương Nguyệt Như.
Nàng không chỉ xinh đẹp, dịu dàng mà còn hiểu chuyện.
Mỗi lần cha nhận thư đòi bạc, nàng đều âm thầm kiểm tra sổ sách,
giảm chi tiêu trong nhà, khuyên người làm không được hoảng loạn.
Một chiều cuối thu, khi xương núi còn phủ trắng ngoài đồng,
một tên người làm hốt hoảng chạy vào đại sảnh.
Hai tay dâng lên một phong thư đen.
Vương Tứ Hải vừa nhìn đã biết là thư của Hắc Hổ Sơn.
Ông mở thư ra, sắc mặt lập tức tái nhợt.
Trong thư viết rằng, ba ngày nữa, tôn Hắc Hổ sẽ xuống núi.
Lần này, hắn không chỉ cần bạc,
mà còn muốn bắt Vương Nguyệt Như lên núi làm áp trại phu nhân.
Nếu vương gia dám bảo quan, cả nhà sẽ không một ngày bình yên.
Vương Tứ Hải ngồi sụp xuống ghế.
Ông có thể mất bạc, mất hàng, mất ruộng,
nhưng không thể để con gái rơi vào tay giặc núi.
Vương Nguyệt Như đứng bên cạnh, mặt trắng bạch nhưng không khóc.
Nàng cầm lấy bức thư, nhìn từng chữ một rồi nói.
Cha, chúng muốn chúng ta sợ đến mức tự mình cúi đầu.
Nếu lúc này nhà ta rối loạn, chúng càng dễ ra tay.
Vương Tứ Hải nhìn con gái, vừa thương vừa đau.
Nguyệt Như, cha đã báo quan bao nhiêu lần rồi.
Quan huyện nói sẽ đánh dẹp,
nhưng cuối cùng kẻ chịu thiệt vẫn là nhà ta.
Cha thật sự không biết còn đường nào nữa.
Ngoài sân, gió thổi qua những dải lụa đang phơi,
khiến chúng run lên từng đợt.
Cả vương phủ rộng lớn, vỗng trở nên lạnh lẽo,
như một chiếc lồng lớn.
Đêm ấy, Vương Tứ Hải không ngủ.
Ông ngồi trước bàn thờ Tổ Tiên,
nhìn ngọn đèn dầu lay động.
Trong lòng, chỉ có một câu hỏi.
Có phải dầu có mà không có chỗ dựa?
Cuối cùng, cũng chỉ là miếng mồi trong mắt kẻ ác.
Nhưng ông không biết rằng,
ở một căn nhà nghèo cuối ngõ đông,
có một người cũng đang thức trắng vì chuyện này.
Người ấy tên là Lý Hữu Tài.
Lý Hữu Tài là một thư sinh nghèo trong huyện Cổ Hoàng.
Cha mẹ mất sớm,
nhà chỉ còn vài gian mái cũ và một giá sách ọp ẹp.
Hằng ngày, chàng chép thuê văn thư,
dạy trẻ con học chữ để kiếm cơm,
nhưng chưa bao giờ bỏ trí đọc sách.
Trong mắt người đời,
Lý Hữu Tài chỉ là một kẻ nghèo chữ nghĩa nhiều mà tiền bạc ít.
Nhưng Vương Nguyệt Như lại khác.
Nhiều lần nàng theo cha đi phát gạo cứu dân nghèo,
từng thấy Lý Hữu Tài lặng lẽ giúp người già viết đơn kiện,
giúp trẻ nhỏ học chữ mà không lấy tiền.
Một người không có quyền, không có của,
nhưng trong mắt luôn có sự ngay thẳng.
Điều ấy khiến nàng kính trọng.
Lý Hữu Tài cũng có tình ý với Vương Nguyệt Như,
nhưng vì thân phận nghèo hèn, chàng chưa từng dám mở lời.
Chàng hiểu giữa mình và Vương Phủ có một bức tường rất cao.
Nếu chỉ dựa vào lời yêu,
chẳng khác nào đem tay không gõ cửa nhà giàu.
Khi nghe tin tôn Hắc Hổ muốn bắt Vương Nguyệt Như,
Lý Hữu Tài lập tức đến Vương Phủ.
Người gác cổng ban đầu không cho vào.
Một thư sinh nghèo như chàng,
lúc này đến Vương Phủ thì giúp được gì?
Nhưng Vương Nguyệt Như nghe tin,
tự mình ra mời chàng vào.
Trong đại sảnh, Vương Tử Hải mệt mỏi ngồi trên ghế.
Chưa kịp hỏi, Lý Hữu Tài đã chắp tay nói.
Vương lão ra, nếu chỉ nộp bạc,
Hắc Hổ Sơn sẽ còn đòi nữa.
Nếu tiếp tục báo quan như trước,
tin tức rất có thể lại lọt ra ngoài.
Muốn cứu Vương ra,
phải khiến kẻ đáng ra phải đánh thổ phỉ tự mình nóng ruột mà ra tay.
Vương Tử Hải câu mày,
ý cậu là Chu huyện lệnh.
Lý Hữu Tài gật đầu.
Quan huyện Chu Đức Thành nhiều lần đánh dẹp thất bại,
nhưng lần nào thất bại cũng vừa vặn quá mức.
Dân chưa biết gì thì thổ phỉ đã biết.
Quan binh chưa tới thì Sơn Trại đã rút.
Nếu nói không có người báo tin, e rằng khó tin.
Vương Tử Hải hạ giọng.
Cậu nghi Chu Đức Thành cấu kết với Tôn Hắc Hổ.
Không dám nói chắc.
Nhưng có một điều chắc chắn.
Chu Đức Thành là người tham công, tham của.
Nếu đánh thổ phỉ chỉ để cứu dân,
hắn có thể chân trừ.
Nhưng nếu đánh thổ phỉ để cướp lại một món bảo vật đủ giúp hắn thăng quan,
hắn nhất định sẽ nhanh hơn bất kỳ ai.
Vương Nguyệt Như nhìn Lý Hữu Tài,
trong mắt lói lên sự hiểu ý.
Quynh muốn dùng lòng tham của hắn để trị hắn.
Lý Hữu Tài đáp.
Đúng.
Đạo của Tôn Hắc Hổ sắc,
nhưng lòng tham của Chu Đức Thành còn sắc hơn.
Chúng ta không cần mạnh hơn cả hai,
chỉ cần khiến hai cái tham ấy tự đâm vào nhau.
Vương Tử Hải ngồi thẳng dậy.
Lần đầu tiên sau nhiều ngày, ông nhìn thấy một con đường.
Nhưng lấy gì làm mồi?
Lý Hữu Tài đặt lên bàn một hộp gỗ nhỏ.
Bên trong là một viên trâu đỏ rực như máu chim,
dưới ánh đèn dầu ánh lên màu hồng trong trẹo.
Vương Tử Hải ngạc nhiên.
Đây là... là hồng trâu giả.
Một người thợ làm đồ ngọc ở chợ Tây,
từng thiếu tiền thuốc cho mẹ.
Tôi giúp ông ấy viết đơn xin giảm nợ.
Ông ấy biết ơn, làm giúp tôi vật này.
Nhìn bên ngoài rất giống bảo trâu quý hiếm,
nhưng thực chất chỉ là thủy tinh pha màu,
được mài rất tinh xảo.
Vương Nguyệt như cầm lên xem,
ánh mắt vừa kinh ngạc vừa lo lắng.
Chu Đức Thành sẽ tin sao?
Lý Hữu Tài nói.
Chỉ một viên trâu thì chưa đủ.
Phải có một câu chuyện khiến hắn muốn tin.
Người tham lam thường không tin sự thật,
nhưng lại rất dễ tin điều có lợi cho mình.
Chàng quay sang Vương Tử Hải.
Ngày mai, xin lão ra giả bệnh.
Nói rằng trong nhà có một viên nam hải hồng trâu do tổ tiên để lại,
vốn định giấu đến chết.
Nay vì lo tai họa ráng xuống vương ra,
nên muốn dâng lên quan phủ.
Nhờ quan huyện trình lên triều đình,
đổi lấy binh lực bảo vệ dân trong huyện.
Vương Tử Hải hiểu ra.
Chu Đức Thành nếu tin đây là bảo vật,
hắn sẽ muốn chiếm công.
Lý hữu tài gật đầu.
Nhưng tin này phải lọt đến tai hắc hổ Sơn,
để tôn hắc hổ cướp viên trâu trước.
Khi đó, Chu Đức Thành sẽ không còn ngồi yên được nữa.
Trong phòng im lặng hồi lâu,
Vương Nguyệt Như bỗng lên tiếng.
Việc để tin lọt ra ngoài, giao cho tá.
Vương Tử Hải vội nói.
Không được, quá nguy hiểm.
Nàng bình tĩnh đáp.
Con không ra khỏi phủ.
Nhưng trong phủ có người làm thường ra chợ mua thuốc,
mua lụa.
Chỉ cần để họ vô tình nghe vài câu, tin sẽ tự lan.
Nếu hắc hổ Sơn luôn biết chuyện trong huyện,
vậy lần này ta sẽ cho chúng biết
đúng thứ ta muốn chúng biết.
Lý hữu tài nhìn nàng.
Trong lòng vừa khâm phục vừa xót xa.
Khóa ra nàng không chỉ là người cần được cứu.
Nàng cũng là người dám bước vào ván cờ
để tự cứu mình.
Vương Tử Hải nhìn hai người trẻ trước mặt.
Một người nhẹo nhưng sáng suốt.
Một người yếu thế nhưng can đảm.
Ông bỗng thấy mình không còn đơn độc.
Sau cùng ông chậm dãi nói
Nếu kế này thành, không chỉ cứu Vương ra
mà còn cứu dân huyện Cổ Hoàng khỏi hắc hổ Sơn.
Lý công tử ta bằng lòng nghe theo.
Lý hữu tài chắp tay.
Xin lão ra nhớ kĩ
Viên Châu là giả
nhưng lòng tham của bọn chúng là thật.
Chúng ta thắng hay thua
đều nằm ở chỗ có khiến lòng tham ấy lộ ra hay không.
Sáng hôm sau
cửa lớn Vương Phụ khép hở.
Người làm đi lại vội vàng
ai nấy mặt mày lo lắng.
Tin Vương Tứ Hải đột nhiên
đổ bệnh nhanh chóng lan ra khắp phố.
Đến trưa, Vương Phụ sai người
đến nhà môn mời quan huyện Chú Đức Thành.
Chú Đức Thành vốn đang ngồi trong thư phòng uống trà.
Nghe nói
Vương Tứ Hải bệnh nặng.
Hắn không vội lo cho dân mà trước tiên hỏi
Vương ra có nói vì sao mời bản quan không?
Sai dịch đáp.
Bẩm đại nhân.
Nghe nói Vương lão ra có chuyện liên quan đến bảo vật tổ truyền.
Muốn đích thân thưa với đại nhân.
Hai chữ bảo vật
khiến tay Chú Đức Thành khựng lại trên chén trà.
Hắn lập tức thay quan phục
dẫn vài tên sai dịch đến Vương Phụ.
Trên đường đi
hắn còn giả bộ thở dài.
Vương ra nhiều lần bị thổ phỉ quấy nhiễu.
Bản quan ngày đêm lo lắng.
Nay Vương lão ra bệnh nặng.
Bản quan sao có thể không đến thăm?
Người ngoài nghe thì tưởng hắn thương dân.
Nhưng trong lòng hắn
chỉ có hai chữ bảo vật
đang nóng lên như than đỏ.
Trong phòng bệnh, Vương Tứ Hải nằm trên giường
mặt được bôi chút phấn cho nhợt nhạt
hơi thở cố ý kéo dài yếu ớt.
Vương Nguyệt như đứng bên cạnh
mắt đỏ hoe, ráng vẻ như đã khóc suốt đêm.
Chú Đức Thành bước vào
lập tức làm ra vẻ xót xa.
Vương lão ra sao lại bệnh đến thế này?
Có việc gì cứ nói.
Bản quan nhất định làm chủ cho Vương ra.
Vương Tứ Hải
run run đưa tay ra hiệu.
Một người hầu lập tức bưng đến
chiếc hộp gỗ đàn hương cũ.
Hộp được quấn nhiều lớp vải vàng đã phai màu.
Bên trong còn đặt một quyển sổ
da phả cũ, vài dòng ghi chép
về món châu tổ chuyển.
Tất cả những thứ ấy đều do Lý Hữu Tài chuẩn bị.
Hắn hiểu, muốn lừa người tham
không thể chỉ đưa món mồi sáng bóng.
Phải dựng cho món mồi
một quá khứ đủ sâu, đủ cổ,
đủ khiến người ta không nỡ nghi ngờ.
Vương Tứ Hải mở hộp.
Viên hồng châu hiện ra dưới ánh sáng
ngoài cửa sổ, màu đỏ hồng trong suốt
ánh lên như giọt máu đông
giữa lớp lụa vàng.
Chú Đức Thành nhìn đến ngây người.
Hắn từng thấy nhiều ngọc quý,
nhưng viên này quả thật rất lạ.
Hơn nữa, trên sổ cũ còn ghi rằng
tổ tiên vương gia từng cứu
một thương nhân Nam Hải, được tặng
viên châu hiếm, nhiều đời cất giấu
không dám khoe giả.
Vương Tứ Hải ho khan vài tiếng rồi nói
Chú Đại Nhân,
vương gia ta gặp nạn đã lâu.
Nay hắc hổ Sơn lại muốn bắt con gái ta.
Ta biết thân già này chưa chắc qua khỏi
nếu đem viên hồng châu tổ
truyền giao cho Đại Nhân.
Nếu Đại Nhân có thể dâng lên triều đình
xin thêm binh lực đánh dẹp thổ phỉ
thì không chỉ cứu nhà họ Vương
mà còn cứu cả huyện Cổ Hoàng.
Chú Đức Thành nghe vậy
mắt sáng lên nhưng miệng vẫn giả vờ
khiêm nhường.
Bào vật tổ truyền sao bản quang dám nhận?
Vương Nguyệt như cuối đầu nói
Đại Nhân là quan phụ
mẫu của dân. Nếu Đại Nhân
không nhận, nhà họ Vương
thật sự không còn đường sống.
Câu ấy nói vừa đủ mềm
vừa đủ đầy lòng tham
của Chú Đức Thành lên cao.
Hắn bắt đầu tưởng tượng
nếu viên hồng châu này thật sự là bảo vật Nam Hải
dâng lên triều đình
công lao đánh dẹp thổ phỉ
lại cộng thêm công dân bảo châu
con đường thăng quan của Hắn chẳng phải mở rộng hay sao?
Hắn bước đến gần hơn
cầm viên châu lên soi dưới ánh sáng.
Viên châu giả được mài rất khéo
bên trong có những vẹt hồng tự nhiên
như xương máu
Người không phải thợ ngọc lâu năm
khó lòng nhận ra thật giả
mà Chú Đức Thành tuy tham của
lại không có mắt nghe.
Hắn nhìn một lúc rồi đặt viên châu xuống
cố giữ giọng bình tĩnh
Vương Lão gia yên tâm
chuyện Hắc Hổ Sơn bản quan nhất định không bỏ qua
Vương Tứ Hải yêu ớt nói
Vậy xin Đại Nhân tạm giữ viên châu
Chú Đức Thành vừa định đưa tay nhận
Vương Nguyệt Như bỗng khẽ ngăn lại
Cha!
Viên châu này là vật tổ chuyển
Trước khi dâng lên triều đình
có lẽ nên đặt trong từ đường 3 ngày
thắp hương báo với Tổ tiên
rồi mới giao cho Đại Nhân
Như vậy mới hợp lễ
Chú Đức Thành hơi xứng lại
Nhưng nghĩ kĩ 3 ngày cũng không lâu
Hơn nữa nếu ép lấy ngay sẽ lộ lòng tham
Hắn liền cười nói
Tiểu thư nói phải
Bảo vật truyền đời đương nhiên phải theo lễ
Hắn rời Vương Phủ
Nhưng lòng đã để lại trong chiếc hộp gỗ kia
Ngay chiều hôm ấy
Tin Vương ra có viên Nam Hải Hồng Châu lan ra khắp huyện
Người ngoài chỉ xem như chuyện lạ
Nhưng những kẻ làm tai mắt cho Hắc Hổ Sơn
thì lập tức đưa tin lên núi
Đêm xuống
Tôn Hắc Hổ ngồi trong Sơn trại
Nghe thuộc hạ bầm báo
Khi nghe đến viên Hồng Châu có thể dâng lên triều đình
đổi lấy công danh
Hắn đập mạnh chén rượu xuống bàn
Bảo vật như vậy mà để lão Vương dâng cho quán
Nực cười
3 ngày nữa cưới con gái hắn đã quá chậm
Đêm nay xuống núi cướp Châu trước
Trong bóng tối
Chiếc bẫy bắt đầu khép lại
Nếu quý vị thấy câu chuyện này cuốn hút
Hãy nhấn đăng ký kênh Chuyện Làng Xưa
Để tiếp tục nghe những câu chuyện nhân quả sâu sắc
Và thấm tình người
Đêm ấy
Vương Phủ tưởng như yên tĩnh
Nhưng bên trong mọi thứ đã được sắp đặt
Lý Hữu Tài biết Tôn Hắc Hổ sẽ không chờ đủ 3 ngày
Kẻ tham cướp nghe thấy bảo vật
Càng chờ càng sợ người khác lấy mất
Vì vậy
Từ đầu giờ tuất
Trang đã bảo Vương ra âm thầm đưa người già, trẻ nhỏ
Và những người làm yếu sức
Sang nhà họ hàng gần đó tránh nạn
Trong phủ chỉ còn vài gia nhân khỏe mạnh
Cố tình thắp đèn như thường lệ
Vương Nguyệt Như cũng không ở trong khuê phòng
Mà cùng cha ở căn phòng bí mật
Phía sau từ đường
Nàng là người đề nghị ở lại
Vì nàng hiểu nếu cả phủ trống rỗng
Thổ phỉ sẽ sinh nghi
Nửa đêm, chó trong phủ sụa vàng
Một nhóm người áo đen trèo tường vào
Tôn Hắc Hổ đích thân dẫn đầu
Hắn không đến vì một cô gái trước
Mà đến vì viên hồng trâu
Bọn thổ phỉ sông thẳng vào từ đường
Chiếc hộp gỗ đàn hương
Đặt trên bàn thờ tổ tiên
Đúng như tin tức chúng nghe được
Tôn Hắc Hổ mở hộp
Thấy viên trâu đỏ hồng nằm bên trong
Lập tức cười lớn
Đồ tốt thế này, lão Vương mà cũng giữ được mấy đời sao
Từ nay nó thuộc về Hắc Hổ Sơn
Hắn lấy viên trâu
Lại cướp thêm ít bạc
Rồi rút đi rất nhanh
Lý Hữu Tài đứng trong bóng tối sau bức tường
Nghe tiếng vó ngựa xa dần, không hề đuổi theo
Gia nhân lo lắng hỏi
Lý công tử
Cứ để chúng đem đi thật sao
Lý Hữu Tài đáp
Không đem đi, chú Đức Thành sao chịu xuất bĩnh
Sáng hôm sau
Vương Tứ Hải lập tức đến nhà môn kêu àng
Ông quỳ trước công đường
Nói viên hồng trâu chuẩn bị dân triều
Đã bị Hắc Hổ Sơn cướp mất
Chú Đức Thành nghe xong
Sắc mặt thay đổi rõ rệt
Nếu chỉ là bạc của vương gia bị cướp
Hắn còn có thể làm bộ điều trả
Nhưng lần này là viên hồng trâu
Hắn đã tận mắt nhìn thấy
Trong lòng hắn, món bảo vật ấy
Đã sớm được xem như bậc thang thăng quan
Của chính mình
Nay bị Tôn Hắc Hổ cướp mất
Chẳng khác nào có người giật miếng thịt khỏi miệng Hổ
Nhưng trước mặt dân chúng
Hắn vẫn giả vờ uy nghiêm
Thổ phỉ to gan
Dám cướp bảo vật liên quan đến Triều Đình
Bản quan nhất định truy xét đến cùng
Sau khi lui vào hậu đường
Chú Đức Thành lập tức viết một phong thư mật
Sai người thân tín
Đem lên Hắc Hổ Sơn
Trong thư, hắn không dùng giọng quang với giặc
Mà dùng giọng chia phần với đồng bọn
Hắn bảo Tôn Hắc Hổ
Giao viên hồng trâu lại cho hắn
Đổi lại, hắn sẽ tiếp tục làm ngơ một thời gian
Để Hắc Hổ Sơn yên ổn
Tôn Hắc Hổ nhận thư
Đọc xong thì cười khảy
Láo chú này tưởng mình là ai
Bảo vật vào tay ta rồi
Còn muốn lấy lại
Nhưng Tôn Hắc Hổ cũng không ngu đến mức công khai trở mặt ngay
Hắn sai người tìm một viên đá đỏ kém chất lượng
Đặt vào hộp
Gửi lại cho chú Đức Thành
Nói rằng đó chính là viên trâu đã cướp được
Khi hộp được đưa về nhà môn
Chú Đức Thành vừa mở ra
Đã nhận ra không giống viên mình từng thấy ở Vương Phủ
Viên trong hộp đục màu
Ánh sáng thô
Hoàn toàn không có vẻ quý hiếm
Hắn tức đến run tay
Tôn Hắc Hổ
Ngươi dám lửa ta
Lúc này lòng tham của chú Đức Thành đã biến thành cơn giận
Hắn không còn tính toán chuyện
Dung túng thổ phỉ nữa
Trong đầu hắn chỉ có một ý nghĩ
Phải lấy lại viên hồng trâu thật
Trước khi Tôn Hắc Hổ giấu mất
Hoặc bán đi nơi khác
Nhưng chú Đức Thành không lập tức xuất binh
Hắn vẫn là một con cáo giả
Hắn sai người mang rượu thịt
Bạc lụa lên Hắc Hổ Sơn
Nói rằng quan huyện muốn giảng hòa
Còn khen Tôn Hắc Hổ gan lớn
Có thể cùng nhau chia lời
Tôn Hắc Hổ tưởng chú Đức Thành đã chịu thua
Càng thêm đắc ý
Hắn mở tiệc trong trại uống rượu suốt đêm
Bọn thuộc hạ cũng say mềm
Không còn đề phòng
Trong khi đó chú Đức Thành âm thầm tập hợp quan binh
Lần này hắn không báo trước
Không trần trử
Không để tin lọt ra ngoài như những lần trước
Lý Hữu Tài đứng từ xa nhìn nhà môn sáng đèn đến tận khuya
Khẽ nói với Vương Nguyệt như
Cô nương thấy không
Khi dân bị cướp
Hắn đánh không nổi
Khi lòng tham của hắn bị cướp
Hắn lập tức có binh, có kế, có gan
Vương Nguyệt như im lặng
Hồi lâu rồi đáp
Vậy ra thứ khiến hắn ra tay không phải công lý
Mà là một viên trâu giả
Lý Hữu Tài gật đầu
Đúng, có những kẻ chỉ khi mất lợi của mình
Mới nhớ đến bổn phận với dân
Gần sáng, xương trắng phủ kín đường núi
Hắc Hổ Sơn sau một đêm rượu thịt
Vẫn còn chìm trong tiếng ngáy
Và mùi men
Tôn Hắc Hổ ngồi tựa trên ghế ra hổ
Một tay ôm hộp trâu, một tay cầm chén rượu
Chưa uống hết
Hắn không ngờ chú Đức Thành lại dám trở mặt nhanh như vậy
Trong mắt hắn
Tên quan huyện ấy chỉ là kẻ tham lợi
Quen chia phần trong bóng tối
Không phải người dám liều mạng đánh lên núi
Nhưng hắn đã quên
Người tham một khi thấy lợi bị cướp
Có thể hung hăng hơn cả người chính trực
Quan binh chia làm ba đường
Lặng lẽ áp sát sơn trải
Chú Đức Thành mặc giáp dưới áo quan
Đích thân cưỡi ngựa đi sau
Hắn không hô lớn vì dân
Cũng không nhắc đến công lý
Hắn chỉ nghiến răng ra lệnh
Bắt sống Tôn Hắc Hổ
Tìm bằng được hộp hồng trâu
Khi tiếng chống trận vang lên
Bọn thổ phỉ còn chưa tỉnh rượu
Cửa trại bị phá
Quan binh ua vào
Kẻ cướp từng khiến dân cổ hoàng run sợ bấy lâu nay
Nay hỗn loạn như ong vỡ tổ
Tôn Hắc Hổ giật mình tỉnh dậy
Vội rút đao chống trả
Nhưng men rượu còn nặng
Chân tay hắn chậm chạp
Thuộc hạ kẻ chạy, kẻ quỳ, kẻ bị trói
Ngay tại sơn trải
Chỉ trong chưa đầy một canh giờ
Hắc Hổ sơn đã bị phá
Chú Đức Thành sông vào đại sảnh sơn trải
Nhìn thấy chiếc hộp gỗ đàn hương đặt trên bàn
Hắn lập tức mở ra
Viên hồng trâu đỏ rực vẫn nằm bên trong
Ánh lên dưới ánh sáng ban mai
Hắn thở vào, ánh mắt đầy tham vọng
Cuối cùng cũng về tay ta
Tôn Hắc Hổ bị trói quỳ dưới đất
Tóc tay dối bởi, mặt đầy bụi đất
Hắn nhìn chú Đức Thành, cười gần
Chú Đại Nhân
Trước kia bạc của ta người nhận không ít
Nay vì một viên trâu mà trở mặt
Người cũng chẳng sạch hơn ta đâu
Chú Đức Thành tái mặt lập tức quác
Cầm miệng
Sơn tặc tàn hại dân lành
Còn dám vu khống quan phủ
Hắn say người bịt miệng Tôn Hắc Hổ
Rồi nhanh chóng áp dài cả bọn xuống núi
Tin Hắc Hổ Sơn bị phá lang khắp huyện cổ hoàng
Như gió xuân thổi qua cánh đồng khô
Dân chúng kéo ra đường
Người vỗ tay, người rơi nước mắt
Những nhà từng bị cướp bạc
Mất hàng, bị đe dọa
Cuối cùng cũng thấy ngày Sơn trại sụp đổ
Vương Tứ Hải đứng trước cổng phủ
Nhìn đoàn quan binh áp dài thổ phỉ đi qua
Ông không vui đến mức gieo hò
Mà chỉ lặng lẽ thở ra một hơi dài
Hơi thở ấy như trút xuống ba năm sợ hãi
Vương Nguyệt như nhìn Tôn Hắc Hổ bị trói
Nàng nhớ đến phong thư đen
Nhớ đến những đêm cha không ngủ
Nhớ đến cảnh cả phủ sống trong nỗi lo
Bị giặc núi xông vào
Giờ đây, kẻ từng coi người khác là con mồi
Cũng đã trở thành kẻ cúi đầu giữa phố
Lý Hữu Tài đứng bên cạnh nàng
Không nói nhiều
Chẳng biết việc lớn đã thành một nửa
Hắc Hổ Sơn sụp đổ, dân có thể tạm yên
Nhưng vở kịch nhân quả
Vẫn chưa kết thúc
Bởi viên Hồng Châu Giả
Vẫn còn trong tay chú Đức Thành
Sau khi về Nha Môn
Chú Đức Thành lập tức viết Tấu Trương
Trong đó, hắn kể công mình
Mưu trí, dũng cảm
Đích thân dẫn quân đánh úp Hắc Hổ Sơn
Bắt sống Tôn Hắc Hổ
Cứu dân huyện Cổ Hoàng khỏi tai hỏa
Cuối Tấu Trương, hắn đặc biệt nhắc đến
Viên Nam Hải Hồng Châu
Nói đây là bảo vật quý hiếm, thu lại từ Tây Thổ Phỉ
Xin dân lên triều đình để tỏ lòng trung thành
Hắn không hề nhắc đến vương gia đã định dân Châu trước
Càng không nhắc đến lý hữu tải
Trong mắt hắn
Dân chúng chỉ là bậc thang, thổ phỉ
Chỉ là vật cản
Còn viên Hồng Châu mới là chìa khóa mở đường thang tiến
Chú Đức Thành
Cho người đóng hộp Châu thật kỹ
Dùng niêm phong quan phủ
Rồi sai khoái mã, đưa lên phụ thành
Đêm ấy, hắn ngồi một mình trong thư phòng
Tưởng tượng ngày không sai
Về huyện Ban Thượng
Hắn nghĩ mình sẽ được triều đình khen là quan tốt
Được thăng chức, được rời khỏi
Cái huyện nhỏ này để bước lên con đường rộng hơn
Nhưng hắn không biết rằng
Bên trong chiếc hộp gỗ kia không có bảo vật
Chỉ có một viên thủy tinh đỏ
Và cái bóng của lòng tham
Đang chờ ngày lộ sáng
Nửa tháng sau, huyện Cổ Hoàng
Đón khâm sai từ phụ thành đến
Chú Đức Thành nhận tin
Mừng đến mức tự mình ra tận cổng huyện nhanh đón
Hắn mặc quan phục trình tệ
Mặt mày dạng dỡ
Trong lòng hắn nghĩ
Lần này chắc chắn là triều đình khen thưởng công phá
Hắc Hổ Sơn và dâng bảo vật
Dân chúng cũng kéo đến xem
Ai cũng muốn biết triều đình sẽ xử vụ
Thổ phỉ thế nào
Vương Tứ Hải, Vương Nguyệt Như và Lý Hữu Tài
Đứng lẫn trong đám đông
Bình tĩnh nhìn kiệu khâm sai tiến vào
Nhưng điều chú Đức Thành không ngờ
Là khâm sai vừa xuống kiệu đã không cười
Gương mặt ông lạnh như sắt
Trên công đường, khâm sai đặt chiếc hộp gỗ lên bàn
Chính là chiếc hộp chú Đức Thành
Đã dâng lên
Chú Đức Thành
Chú Đức Thành vội chấp tay
Bậm
Khâm sai đại nhân
Đúng vậy
Viên châu này do hạ quan thu lại từ tay Thổ phỉ Hắc Hổ Sơn
Vốn là bảo vật bị cướp của dân
Khâm sai mở hộp
Lấy viên châu ra ném nhẹ xuống khay đồng
Viên châu va vào khay
Phát ra tiếng khô giòn
Không có âm trầm của Ngọc Quý
Một người thợ dám định đi cùng khâm sai bước ra
Cúi đầu nói
Bẩm đại nhân, vật này không phải Hồng Châu Nam Hải, chỉ là thủy tinh pha màu, tay nghề tuy khéo nhưng không đáng giá bao nhiêu.
Cả công đường xôn sao, chú Đức Thành mặt cắt không còn giọt máu. Không thể nào, chính mắt hạ quan đã thấy.
Không sai lệnh giọng hỏi, chính mắt ngươi đã thấy ở đâu?
Nếu là bảo vật của dân bị cướp, vì sao trong tấu trương ngươi không ghi rõ nguồn gốc từ vương gia?
Vì sao lại tự nhận là vật thu được trong lúc phá trại? Vì sao nóng vội dâng lên chiều đình mà không qua giám định?
Ba câu hỏi như ba nhát búa gõ thẳng vào đầu chú Đức Thành. Lúc ấy, vương Tứ Hải bước ra, chấp tay nói.
Bẩm không sai đại nhân, viên châu ấy vốn do Thảo Dân trình trước mặt chú đại nhân, nói là vật tổ truyền để xin quan phụ cứu dân.
Nhưng thật ra, đó chỉ là kế của Lý Hữu Tài nhằm dụ thổ phỵ cướp châu, khiến chú đại nhân buộc phải đánh Hắc Hổ Sơn.
Cả công đường quay sang nhìn Lý Hữu Tài. Chàng bước ra, không kêu ngạo, chỉ chấp tay bình tĩnh.
Thảo Dân biết nói dối quan phụ là tội. Nhưng nếu không làm vậy, Hắc Hổ Sơn còn tiếp tục hại dân, còn chú đại nhân thì mãi trần trừ.
Thảo Dân không cầu thưởng, chỉ xin khâm sai đại nhân tra rõ vì sao nhiều lần đánh dẹp trước đây đều thất bại, vì sao thổ phỵ luôn biết trước tin quan binh xuất phát.
Khâm sai nhìn chàng một lúc rồi quay sang sai dịch, dẫn tôn Hắc Hổ lên. Tôn Hắc Hổ bị áp giải ra công đường.
Sau nhiều ngày bị giam, vẻ hung hãn đã giảm đi, chỉ còn lại sự mệt mỏi và cay độc.
Trước mặt khâm sai, hắn biết không thể thoát, liền khai ra những lần đưa bạc cho người trong nhà môn.
Những lần nhận tin báo trước khi quan binh lên núi, từng lời khai như từng tảng đá đe xuống đầu chú Đức Thành.
Chú Đức Thành quỳ xụp xuống. Khâm sai đại nhân, hạ quan nhất thời hồ đổ.
Khâm sai đập mạnh thẻ lệnh xuống bàn.
Ngươi không hồ đổ, ngươi rất tỉnh táo khi nhận bạc của giặc.
Rất tỉnh táo khi để dân chịu khổ, rất tỉnh táo khi cướp công dân vật giả.
Cái ngươi không tính được là lòng tham của mình cuối cùng sẽ tự đưa mình vào lưới.
Chú Đức Thành bị tháo mũ quan, lột đai, áp dải khỏi công đường.
Người từng ngồi trên cao phán xét dân chúng, nay cúi đầu đi giữa hai hàng sai dịch, không dám nhìn ai.
Dân cổ hoàng đứng ngoài công đường im phằng phắc.
Không ai cần ném đá, không ai cần chửi rùa.
Sự im lặng ấy còn nặng hơn mọi lời kết tội.
Sau vụ đó, Hắc Hổ Sơn bị dẹp sạch.
Những kẻ cấu kết trong nhà môn cũng lần lượt bị tra xét.
Huyện cổ hoàng cuối cùng có được những ngày yên ổn hiếm hoi.
Vương Tứ Hải giữ đúng lời hứa.
Ông gả Vương Nguyệt Như cho Lý Hữu Tài, không phải vì một cuộc trao đổi lạnh lùng,
mà vì ông nhìn thấy ở tràng sự can đảm của người nghèo, trí tuệ của người đọc sách và tấm lòng biết nghĩ cho dân.
Ngày cưới, Vương Nguyệt Như không trang điểm quá lộng lẫy.
Nàng chỉ mặc áo cưới giản dị, đứng bên Lý Hữu Tài trước sân nhà.
Nàng khẽ nói, Huynh dùng một viên châu giả để vạch mặt hai kẻ tham thật.
Nhưng điều khiến ta kín trọng không phải mưu kế, mà là Huynh chưa từng dùng mưu ấy để hại người vô tội.
Lý Hữu Tài đáp, mưu kế nếu chỉ để thắng người thì dễ thành hiểm độc,
mưu kế dùng để cứu người mới không thẹn với chữ nghĩa đã học.
Vương Tứ Hải nghe vậy, gật đầu thật lâu.
Về sau, người huyện cổ hoàng vẫn kề lại chuyện viên hồng châu giả.
Có người cười tôn hắc hổ, ngu vì tham cướp.
Có người chê Chu Đức Thành dại vì tham công.
Nhưng người hiểu chuyện đều biết, cả hai không thua vì viên châu.
Họ thua vì chính lòng tham trong lòng mình.
Một viên châu giả không thể hại người ngay thẳng.
Nhưng với kẻ tham lam, nó lại có thể biến thành chiếc bẫy sắc nhất.
Ở đời, có những thứ nhìn như bảo vật nhưng chỉ là thủy tinh.
Cũng có những người nhìn như thấp hèn nhưng lại sáng hơn ngọc quý.
Kẻ ác có thể mạnh trong một lúc.
Kẻ tham có thể che mắt người đời trong một đoạn đường.
Nhưng khi nhân quả đã đủ, chính dục vọng của họ sẽ tự mở cửa cho tai họa bước vào.
Bởi vậy mới nói, người thắng sau cùng không phải kẻ có đau trong tay.
Cũng không phải kẻ có quyền trên ghế.
Mà là người giữ được lòng ngay giữa lúc hiểm nguy.
Chiếc áo mới khép lại một phúc duyên từ nghiệt cảnh.
Nhưng ở đời, không phải ai gặp nạn cũng cần áo gấm để đổi đời.
Có người chỉ vì một lời hứa tưởng như nhỏ bé mà khiến cả một gia đình nhìn lại lòng mình.
Mời quý vị bước sang câu chuyện thứ 2.
Ở huyện Cổ Bình xưa, có một tiệm vải tên là Trương Ký.
Tiệm ấy nằm ngay giữa phố chợ.
Mặt tiền rộng, hạng hóa chất đầy từ vải thô, vải bông cho đến gấm vóc quý giá.
Chủ tiệm là Trương Đức Thành.
Một người nổi tiếng giỏi buôn bán.
Nhưng cũng nổi tiếng keo kiệt đến mức người trong huyện chỉ cần nghe tên đã lắc đầu.
Trương Đức Thành có tiền, nhưng không nỡ tiêu.
Cây chổi trong tiệm gãy cán, ông buộc lại dùng tiếp.
Cái bàn tính mon đến nhẵn cả hạt, ông vẫn không cho thay.
Đèn dầu trong tiệm mỗi tối chỉ được thắp một ngọn nhỏ.
Ai lỡ châm thêm chút dầu liền bị ông mắng cả buổi.
Trong tiệm Trương Ký, có một tiểu nhị tên là Vương Sinh.
Chàng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, dáng người gầy, áo vải đã bạc màu.
Nhưng mặt mũi sáng sủa, tính tình thật thà.
Ba năm làm thuê ở Trương Ký, chàng chưa từng ăn cắp một tắc vải.
Chưa từng nói dối một đồng tiền.
Điều đáng quý nhất ở Vương Sinh là đầu óc tính toán rất nhanh.
Khách mua 13 thước vải, bớt 2 phần giá, cộng thêm tiền nhuộm, tiền gói, tiền chuyển.
Chỉ cần nghe qua chàng đã tính ra ngay.
Nhiều lần Trương Đức Thành cố tình đặt sổ rối để thử lỏng.
Vương Sinh đều tính đúng không sai một ly.
Khách quen trong huyện thường nói
Tiệm Trương Ký bán được hàng một nửa nhờ vải tốt, một nửa nhờ cậu Vương Sinh thật thà.
Nhưng Trương Đức Thành nghe vậy lại không vui.
Ông sợ người làm công được khen nhiều rồi đòi tăng tiền công.
Mỗi tháng, ông chỉ trả cho Vương Sinh vài đồng bạc vụ.
Lại thường lấy cớ cơm ăn, chỗ ngủ để khấu trừ.
Vương Sinh biết mình nghèo, cũng không oán trách.
Chàng chỉ nghĩ có việc làm đã là may, còn hơn lang thang ngoài chợ.
Trong nhà họ Trương, ngoài ông chủ còn có một người con gái, tên là Trương Uyển Nhi.
Nàng là tiểu thư duy nhất của Trương gia, tính tình mềm mỏng, không giống cha.
Từ nhỏ sống giữa vải vóc, nàng rất khéo tay, mây áo theo hoa đều tinh tế.
Mỗi lần đứng sau rèm nhìn xuống tiệm, nàng thường thấy Vương Sinh một mình khuân vải, ghi sổ, tiếp khách.
Tối đến lại ngồi dưới ngọn đèn yếu đọc sách cũ.
Có lần mưa lớn, một bà lão nghèo vào tiệm mua vài thức vải thô để may áo tang cho con.
Bà thiếu mất hai đồng.
Trương Đức Thành nhanh mặt định đuổi đi.
Vương Sinh lặng lẽ lấy tiền công của mình bù vào, rồi nói với bà.
Bà cứ cầm vải về trước, đời người lúc khó, ai cũng cần một bàn tay đỡ.
Trương Uyển Nhi đứng sau cánh cửa nghe thấy.
Từ hôm ấy, trong lòng nàng bắt đầu nhìn Vương Sinh bằng ánh mắt khác.
Nàng biết, trong cái áo vải cũ kia là một con người không cũ.
Nghèo thì có nghèo, nhưng lòng ngay, tay sạch, trí sáng.
Còn Trương Đức Thành lại không thấy điều đó.
Trong mắt ông, Vương Sinh chỉ là một tiểu nhị nghèo, biết tính sổ thì tốt, nhưng vẫn chỉ là người làm thuê, ông thường nói.
Người nghèo có tài, cũng như viên ngọc rơi xuống bùn, không ai nhặt thì cũng chỉ để lấm bẩn mà thôi.
Ông không ngờ rằng, chính viên ngọc bị ông xem thường ấy một ngày kia sẽ cứu cả tiệm Trương Ký khỏi một tai họa lớn.
Cuối mùa thu năm ấy, Trương Đức Thành nhận được một đơn hàng lớn từ Phụ Thành.
Một phũ hộ đặt mua mấy cuộn gấm quý, hẹn giao tận nơi.
Số hàng ấy trị giá rất cao, nếu giao thuận lợi, Trương Ký sẽ lời lớn.
Vì đường xa, lại sợ thất lạc sổ sách.
Trương Đức Thành quyết định tự mình đi, dẫn theo Vương Sinh để khuân hàng và tính toán.
Biết Vương Sinh phải đi đường xa, Trương Uyển Nhi lặng lẽ chuẩn bị cho chàng một bộ áo mới.
Đó không phải áo sang trọng như công tử nhà giàu, nhưng là áo gấm xanh nhạt được may từ phần vải nàng dành dụng.
Đường kim kín, cổ áo ngay ngắn, tay áo vừa vặn.
Nàng không dám trao trực tiếp, chỉ nhờ nhà hoàn đặt vào phòng nhỏ của Vương Sinh, kèm một mảnh giấy không ký tên.
Đường xa gió lạnh, mong người giữ thần.
Sáng hôm sau, Vương Sinh nhìn thấy áo mới thì sững sở.
Từ nhỏ đến lớn, chàng chưa từng mặc chiếc áo nào vừa người đến thế.
Chàng đoán được người tặng là ai, nhưng không dám nói ra.
Chàng chỉ cẩn thận gấp mảnh giấy, cất vào trong tay áo cũ.
Ban đầu Vương Sinh không dám mặc.
Nhưng áo cũ của chàng đã rách vai, nếu đi Phủ Thành gặp khách lớn sẽ làm mất mặt tiệm.
Nghĩ vậy, chàng thay áo mới, chải lại tóc, rồi ra sân chuẩn bị xe hàng.
Vừa thấy chàng, mấy người làm trong tiệm liền tròn mắt.
Một tiểu nhị nghèo ngày thường áo nâu vá chẳng vá đục.
Hôm nay bỗng mặc áo gấm, dáng vẻ sạch sẽ, đứng cạnh xe hàng trong chẳng khác con nhà tử tế.
Trương Đức Thành cũng nhìn chầm chầm, ánh mắt nghi ngờ.
Ông hỏi, áo này ở đâu ra?
Vương Sinh cúi đầu đáp, thưa chủ, có người thương tình tặng cho con.
Trương Đức Thành câu mày, người thương tình?
Hừ, người nghèo mà mặc áo đẹp quá, dễ sinh chuyển.
Nhớ kỹ, ra ngoài đừng làm bộ làm tịch, kéo người ta tưởng ngươi là công tử nhà nào.
Lời ấy vốn chỉ là câu mắng keo kiệt, không ngờ lại thành điểm báo.
Đoàn xe rời huyện Cộ Bình khi trời còn sớm.
Trương Đức Thành ngồi trên xe trước, ôm chặt hòm tiền đặt cọc và sổ giao hàng.
Vương Sinh đi bên cạnh xe sau, vừa giữ dây bộc vải, vừa tính lại số cuộn.
Đường qua núi Thanh Lan vắng vẻ, hai bên là rừng trúc và đá dựng.
Dân buôn trong vùng đều biết nơi này có sơn tặc.
Nhưng nhiều tháng nay quan binh truy quét, đường có vẻ yên ổn hơn.
Đến gần trưa, xe vừa qua một khúc cua hẹp, thì tiếng còi vang lên từ trong rừng.
Mấy bóng người lao ra chặn đường.
Kẻ cầm gậy, kẻ cầm đao cùn, mặt mũi dữ tợn.
Đứng đầu là Đồng Đại Biêu, đầu lĩnh một toán thổ phỉ chuyên cướp hàng buôn.
Hắn vai rộng, mắt trợn, rộng như sấm.
Đề hàng lại, người giàu bước xuống.
Trương Đức Thành sợ đến run tay.
Ông vừa thấy đám cướp đã quên cả hàng, quên cả người làm.
Trong lúc hỗn loạn, mắt Đồng Đại Biêu rơi ngay vào Vương Sinh.
Giữa mấy phu xe áo vải, Vương Sinh mặc áo gấm xanh, mặt mũi thư sinh, dáng vẻ sạch sẽ.
Đồng Đại Biêu liền cười lớn.
Hả? Công tử nhà giàu lại giả làm người khuân hàng sao?
Bắt hắn.
Vương Sinh vội nói.
Ta chỉ là tiểu nhị làm thuê, không phải công tử.
Nhưng bọn cướp càng nghe càng tin rằng chàng đang giấu thân phận.
Một tên cười khẩy.
Công tử nào bị bắt, chẳng nói mình nghèo.
Áo gấm trên người ngươi chẳng lẽ tự mập ra?
Trương Đức Thành thấy bọn cướp chú ý đến Vương Sinh, trong lòng lói lên ý nghĩ giữ mạng trước đã.
Ông lùi dần về phía bụi cây, rồi nhân lúc hỗn loạn kéo một con ngựa chống chạy mất.
Vương Sinh quay đầu chỉ kịp thấy bóng ông chủ khuất sau lối núi.
Chiếc áo mới vốn là tấm lòng thiện lành của tiểu thư.
Nay lại trở thành nguyên nhân khiến Vương Sinh bị bắt nhầm.
Nhưng đời người nhiều khi chính trong họa lại giấu mầm phúc.
Chỉ là lúc ấy, Vương Sinh chưa thể biết.
Bọn thổ phỉ trói Vương Sinh, bịt mắt chàng rồi dẫn lên núi.
Đường núi gập gành, đá nhọn cứa vào dây vải mỏng.
Vương Sinh bấp ngã mấy lần nhưng không kêu than.
Chàng biết càng hoảng loạn càng dễ mất mạng.
Nên chỉ lặng lẽ lắng nghe tiếng bước chân, tiếng suối, tiếng gió.
Cố ghi nhớ từng đoạn đường.
Sau gần một canh giờ, bọn chúng đưa chàng vào sơn trại.
Khi khăn bịt mắt được tháo ra, Vương Sinh thấy trước mặt là một khoảng sân đất rộng.
Xung quanh dựng lều gỗ, vại rượu, kho lương và mấy căn nhà thô sơ.
Cổng trại làm bằng gỗ thông, bên trái có vách đá, bên phải có một lối mòn nhỏ dẫn xuống suối.
Đồng Đại Biêu ngồi trên ghế ra hổ giả, vỗ bàn hỏi.
Công tử, nhà ngươi họ gì?
Cha ngươi làm quang hay buôn muối?
Muốn sống thì bảo người nhà đem bạc lên chuộc.
Vương Sinh bình tĩnh đáp.
Ta thật sự là người làm thuê của tiệm chương ký.
Chủ ta là Chương Đức Thành.
Nếu các ngươi cần tiền chuộc, bắt nhầm ta thì chỉ phí công.
Đồng Đại Biêu cười khẳng khắc.
Còn cứng miệng, tiểu nhị nào mặc áo gấm?
Tiểu nhị nào tay trắng mà ráng vẻ như thư sinh?
Ngươi càng trối, ta càng tin ngươi đáng giá.
Nói rồi hắn sai người lục người Vương Sinh.
Bọn cướp không tìm thấy ngân phiếu.
Chỉ thấy một mảnh giấy nhỏ trong tay áo cũ ghi câu.
Đường xa gió lạnh, mong người giữ thân.
Đồng Đại Biêu không hiểu chữ đẹp.
Tưởng đó là thư tình của tiểu thư nhà giàu.
Càng chắc rằng Vương Sinh là công tử giấu mình.
Ở dưới núi, Chương Đức Thành chạy một mạch về huyện.
Đến tiệm, ông thở không ra hơi, mặt trắng bệch.
Chương Nguyễn Nhi nghe tin Vương Sinh bị bắt thì như bị ai bóp nghẹt tim.
Nàng hỏi cha.
Cha chạy về một mình.
Vương Sinh đâu?
Chương Đức Thành ấp úng.
Bọn cướp đông quá.
Ta về báo quan trước.
Nàng nhìn vết bùn trên áo cha.
Nhìn con ngựa mệt lạ ngoài sân.
Trong lòng hiểu rằng cha đã bỏ Vương Sinh lại.
Nàng không khóc lớn, chỉ lặng lẽ quay đi.
Nhưng ánh mắt ấy khiến Chương Đức Thành lần đầu thấy xấu hổ.
Đêm đó, trong trại cướp, Vương Sinh bị nhốt trong một căn lều nhỏ.
Tay còn bị trói, bụng đói, cổ khát.
Nhưng chàng vẫn cố giữ tỉnh táo.
Chàng nghe bọn cướp bên ngoài bàn nhau sáng mai sẽ gửi thư đòi tiền chuộc.
Nếu trong ba ngày không có bạc, chúng sẽ bán chàng sang vùng khác làm con tin.
Một tên cướp trẻ tên Tiểu Lục được giao canh giữ.
Hắn tuổi chưa lớn, tính tham nhưng không quá độc ác.
Thấy áo của Vương Sinh đẹp, Tiểu Lục cứ nhìn mái.
Hắn hỏi.
Áo này đáng bao nhiêu bạc?
Vương Sinh đáp.
Đáng bao nhiêu không quan trọng, người tặng nó mới quan trọng.
Tiểu Lục biểu môi.
Với ta áo đẹp thì là áo đẹp.
Mặc vào xuống chợ chắc ai cũng tưởng ta là người sang.
Vương Sinh nghe vậy trong lòng khẽ động.
Chàng hiểu chiếc áo khiến mình bị bắt có lẽ cũng có thể trở thành chìa khóa thoát thân.
Nhưng lúc này vội vàng sẽ hỏng việc.
Chàng cần chờ, cần nhìn, cần biết bọn cướp mạnh yếu ra sao.
Sáng hôm sau, Đồng Đại Biêu sai người viết thư cho Trương Đức Thành đòi 500 lượng bạc chuộc công tử áo gấm.
Khi lá thư được gửi xuống núi, Trương Đức Thành cầm đọc mà tay run.
500 lượng không phải số tiền nhỏ.
Ông vừa sợ quan phụ trách tội, vừa tiếc bạc, vừa sợ con gái oán mình.
Quyền Nhi đứng bên cạnh nói,
Cha, Vương Sinh vì tiệm mình mà gặp nạn.
Nếu cha còn tính toán hơn thua, sau này tiền trong giương cũng không che được miệng đời.
Câu ấy như mũi kim châm vào lòng Trương Đức Thành.
Nhưng bản tính keo kiệt nhiều năm không dễ đổi ngay.
Ông ngồi trước giương bạc cả đêm, mở ra rồi đóng lại, đóng lại rồi mở ra.
Lần đầu tiên, ông thấy tiếng bạc va vào nhau không còn vui tai, mà lạnh như tiếng trách móc.
Nếu quý vị thấy câu chuyện này ý nghĩa, hãy nhấn đăng ký kênh Chuyện Làng Xưa để tiếp tục nghe những câu chuyện nhân quả, đời thưởng, thấm tình người.
Trong sơn trại, Vương Sinh hiểu rằng muốn sống phải khiến bọn cướp thấy mình còn có giá trị.
Nếu chỉ ngồi đợi người đến chuộc, mạng sống của chàng sẽ nằm trong tay lòng tham của kẻ khác.
Vì vậy, khi nghe bọn cướp tranh cái vì chia tiền cướp được, chàng chủ động lên tiếng.
Một tên nói cướp được 32 lượng, chia cho 8 người, mỗi người 4 lượng.
Tên khác nói còn phải trừ tiền rượu, tiền thuốc, tiền canh đường.
Cãi qua cãi lại, suýt đánh nhau.
Vương Sinh ngồi trong góc, bình tĩnh nói.
Nếu 32 lượng trừ 3 lượng tiền rượu, 2 lượng tiền thuốc, còn 27 lượng.
Chia 8 người, mỗi người 3 lượng 3 tiền 7 phân rưỡi.
Phân lẻ có thể nhập vào quỹ trại, lần sau mua lường.
Cả đám im bặt.
Đồng Đại Biêu nhìn chàng.
Ngươi tính thật nhanh, Vương Sinh đáp.
Ta đã làm tiểu nhị ở tiệm vải 3 năm, mỗi ngày đều tính sổ.
Đồng Đại Biêu không thích người thông minh, trẻ nhưng rất thích người giúp hắn giữ tiền.
Trong trại cướp, bọn thuộc hạ thường giấu bạc, khai gian số hàng.
Hắn liên nảy ý.
Được, tạm tháo trói cho hắn, cho hắn tính sổ trại.
Nếu tính sai, chặt tay.
Nếu tính đúng, cho ăn cơm.
Vương Sinh được tháo dây, 2 cổ tay hàn đỏ.
Chàng không tỏ vẻ vui mừng, chỉ cuối đầu xin giấy than và que tính.
Từ hôm đó, chàng ngồi bên kho lương, ghi lại số gạo, số rượu, số vải cướp được.
Bọn cướp tưởng chàng ngoan ngoãn.
Không biết rằng mỗi lần tính sổ, chàng đều âm thầm quan sát.
Chàng ghi nhớ, trong trại có 36 tên cướp, nhưng thường xuyên canh gác chỉ 12 tên.
Phía đông là vách đá không đi được.
Phía tây có lối xuống suối, ban ngày có người gác, ban đêm chỉ có tiểu lục.
Kho lương đặt gần chuồng ngựa.
Cổng chính tuy chắc, nhưng phía sau bếp có hàng rào che mục, chỉ cần dùng sức đẩy là có thể chui qua.
Điều khó nhất là xuống núi.
Đường chính quanh co có bẫy đá và hô gai.
Nhưng mỗi chiều, vương sinh thấy tiểu lục xuống suối lấy nước theo một lối nhỏ ít người biết.
Lối ấy hẹp, rậm cỏ, nhưng có thể tránh cầm trải.
Tiểu lục càng ngày càng thân với vương sinh.
Hắn thích nghe vương sinh kể chuyện dưới phố chợ, thích hỏi áo gấm mặt có nóng không,
thích tưởng tượng một ngày mình xuống huyện sẽ được người ta kính nể.
Vương sinh không khinh hắn, cũng không vội dụ dỗ.
Chẳng biết lòng tham của người nhỏ thì dễ nhìn hơn lòng tham của kẻ lớn, nhưng vẫn phải dùng đúng lúc.
Một chiều, đồng đại biêu sai vương sai vương sinh tính lại số hàng cướp từ xe chương ký.
Vương sinh nhận ra trong số vải ấy có mấy cuộn gấm thuộc đơn hàng Phủ Thành.
Nếu quan phủ tìm được chứng cứ này, bọn cướp khó thoát.
Chàng liền cố ý hỏi, số gấm này quý, sao không bán ngay?
Đồng đại biêu cười, đợi lấy được tiền chuộc công tử áo gấm rồi bán một thể.
Vương sinh nói, nếu chương Đức Thành keo kiệt, chưa chắc hắn chịu nộp bạc nhanh.
Nhưng nếu các người giữ hàng quá lâu, quan vinh tra đến nơi thì nguy.
Đồng đại biêu nhau mắt, người muốn dọa ta.
Vương sinh bình thản, ta chỉ nói theo sổ sách, bạc nằm trong tay mới là bạc, hàng để lâu chỉ thành chứng cứ.
Câu ấy khiến đồng đại biêu suy nghĩ, hắn sai người tăng tốc gửi thư đòi tiền,
lại cho thuộc hạ canh phòng lơi hơn vì mãi chuẩn bị bán hàng.
Vương sinh thấy thời cơ đang gần.
Dưới huyện, chương Quyền Nhi không chịu ngồi yên.
Nàng đem chuyện Vương sinh giỏi tính toán, biết ghi nhớ đường xá nói với huyện úy.
Huyện úy vốn đã muốn diệt toán cướp đồng đại biêu nhưng thiếu bản đồ sơn trại.
Nghe vậy, ông nói, nếu Vương sinh trốn được về, chỉ cần cậu ấy vẽ được đường núi,
quan vinh có thể đánh thẳng vào xào huyệt.
Quyền Nhi nghe thế càng tin rằng Vương sinh chưa hết đường sống.
Nàng âm thầm cầu mong chàng giữ được lòng bình tĩnh.
Còn chương Đức Thành thì khác.
Ông bắt đầu đi qua đi lại trong sân, không ngủ được.
Mỗi khi nhìn con gái lặng lẽ may lại chiếc túi bạc, ông lại thấy trong lòng nặng chĩu.
Ông nhớ lại ba năm qua, Vương sinh chưa từng làm sai một khoản tiền.
Một người như thế bị bắt vì đi theo mình, còn mình lại bỏ chạy.
Nghĩ đến đó, ông thấy mặt nóng gian.
Sáng ngày thứ ba, chương Đức Thành cuối cùng khóa dương bạc lại, gọi người chuẩn bị tiền chuộc.
Nhưng số bạc chưa kịp đưa lên núi, biến cố đã xảy ra trước.
Đêm ấy, trong chạy cướp mở tiệc rượu nhỏ.
Đồng đại biêu tưởng sắp lấy được tiền chuộc nên vui vẻ, sai người mồi dê, mở mấy vò rượu.
Bọn cướp uống đến mặt đỏ, tiếng cười vang khắp sân.
Vương sinh ngồi bên kho lương, giả vờ ghi sổ, nhưng mắt không rời lối xuống suối.
Tiểu lục được phân canh phía tây, vừa buồn ngủ, vừa tiếc vì không được uống nhiều.
Hắn nhìn vương sinh, rồi lại nhìn chiếc áo gấm xanh trên người chàng.
Ánh mắt tham muốn ấy, vương sinh đã đợi từ lâu.
Chàng khẽ nói, tiểu lục, ngươi thích chiếc áo này thật sao?
Tiểu lục lập tức tỉnh rượu.
Thích thì sao? Ngươi định cho ta à?
Vương sinh đáp, nếu ngươi giúp ta nới dây ở cổ chân, ta đổi áo cho ngươi.
Ta không chạy đâu, tay ta vẫn bị trói, xung quanh toàn người của các ngươi.
Ta chỉ muốn ngủ dễ một chút.
Tiểu lục nghi ngờ, nhưng chiếc áo gấm trong ánh đèn lửa quá đẹp.
Hắn nghĩ một tiểu nhị gầy yếu lại ở giữa sơn trải.
Có chạy cũng chẳng thoát, hắn bèn nới dây chân cho vương sinh.
Vương sinh lập tức cởi áo gấm, đưa cho hắn.
Tiểu lục vui mừng mặc vào, đứng trước thùng nước soi bóng, cười đến hiếp mắt.
Vương sinh nhân lúc hắn mãi ngắm áo, lấy con dao nhỏ dùng cắt dây hàng trong kho, lặng lẽ cắt nốt dây trói tay.
Nhưng chàng không chạy ngay.
Chàng gom vài tờ giấy sổ, một màu than, rồi chờ tiếng trống canh đổi gác.
Khi tiểu lục khoác áo gấm đi khoe với mấy tên say rượu,
vương sinh cúi người chui qua hàng rào tre một sau bếp.
Gió núi lạnh bút, chàng men theo lối tiểu lục thường đi xuống suối.
Cỏ gai cửa vào chân, đá trơn làm chàng ngã lăn mấy lần.
Phía sau bỗng vang lên tiếng hô.
Con tin chạy rồi.
Đồng đại biều phát hiện ra, tức giận đạp đổ bàn rượu.
Hắn thấy tiểu lục mặc áo gấm thì hiểu ngay, tát hắn ngã xuống đất.
Nhưng đêm tối, rừng rậm, lại không biết vương sinh theo lối nào, bọn cướp đuổi táng loạn.
Vương sinh không dám đi đường chính.
Chàng bám theo tiếng nước chảy, lội qua suối cạn, rồi leo xuống một triển đá.
Có lúc nghe tiếng cướp ở ngay phía trên, chàng phải nằm im trong bụi cỏ.
Nín thở đến ngực đau nhói.
Đến gần sáng, chàng mới thấy ánh đèn của trạm gác dưới chân núi.
Khi vương sinh lào đảo chạy vào huyện nhà, lính canh suýt không nhận ra chàng.
Áo ngoài đã mất, người đầy bùn đất, tay chân chảy xước.
Nhưng đôi mắt vẫn sáng, huyện úi nghe tin liền cho gọi vào.
Trương Uyển Nhi và Trương Đức Thành cũng vừa mang bạc chuộc đến nhà môn.
Thấy vương sinh còn sống, Uyển Nhi bật khóc, còn Trương Đức Thành đứng chết lặng.
Vương sinh không nghỉ.
Chàng xin giấy bút, dùng than vẽ ngay bản đồ sơn trải.
Chàng đánh dấu cổng chính, kho lương, lối xuống suối, hàng rào tre mục, chỗ bẫy đá, nơi giấu ngựa.
Mỗi nét vẽ đều rõ ràng như đã khắc trong đầu.
Huyện Uy nhìn bản đồ, đập bàn nói.
Có bản đồ này, hôm nay bọn đồng đại biêu hết đường làm loạn.
Quan binh lập tức chia làm ba đường.
Một toán giả vỡ đi cổng chính để dụ cướp.
Một toán men theo lối xuối phía tầy.
Toán còn lại vòng ra sau bếp, phá hàng rào tre mục, chặn đường rút.
Vì bọn cướp say rượu cả đêm, lại không ngờ con tin có thể chỉ đường.
Nên khi quan binh ập đến, chúng trở tay không kịp.
Đồng đại biêu định cưỡi ngựa chảy, nhưng kho ngựa đã bị chặn.
Tiểu Lục mặc chiếc áo gấm xanh quá nổi bật, bị lính bắt đầu tiên.
Hắn khóc lóc khai hết đường đi, chỗ giấu bạc, số hàng đã cướp.
Đồng đại biêu cuối cùng bị trói ngay giữa sân trại, mặt mũi xám huét.
Khi quan binh áp giải bọn cướp xuống núi, dân chúng hai bên đường kéo ra xem.
Bao năm bị sơn tặc quấy nhiễu, nay thấy chúng bị bắt, ai nấy đều mừng.
Huyện Úy công khai nói, lần này phá được trại cướp, công đầu thuộc về Vương Sinh của tiệm Trương Ký.
Cậu ấy gặp nạn không loạn, dùng trí giữ mạng, lại vẽ bản đồ giúp quan binh trừ hại cho dân.
Trương Đức Thành đứng trong đám đông nghe từng chữ mà cổ học ngẹt lại.
Trước đây ông luôn nghĩ Vương Sinh chỉ là người làm thuê ăn cơm nhà mình.
Đến hôm nay ông mới hiểu.
Người mà ông xem nhẹ đã cứu danh tiếng, cứu hàng hóa, thậm chí cứu cả mạng ông.
Ông bước đến trước mặt Vương Sinh, cuối đầu thật thấp.
Vương Sinh, hôm đó ta bỏ chạy là ta sai.
Ba năm qua ta bạc đãi con cũng là ta sai.
Nếu con còn oán, ta không dám trách.
Vương Sinh im lặng một lúc rồi đáp.
Ông chủ biết sai là được.
Con chỉ mong từ nay tiệm trương ký đừng xem người nghèo như món đồ rẻ tiền nữa.
Câu nói ấy không nặng, nhưng khiến Trương Đức Thành đỏ mặt hơn mọi lời mắng.
Sau khi Sơn Trại Đồng Đại Biêu bị phá, khuyện Cổ Bình yên ổn hơn hẳn.
Những thương nhân từng sợ đường núi nay lại dám vận hạng.
Tiệm trương ký vì lấy lại được số gấm quý, lại nhờ chuyện Vương Sinh lập công mà danh tiếng càng vang xa.
Nhưng điều thay đổi lớn nhất không phải là tiền lời, mà là lòng người trong tiệm.
Trương Đức Thành bắt đầu sửa lại cách đối xử với người làm.
Ông tăng tiền công cho Vương Sinh, cho thợ trong tiệm ăn đủ bữa, thay đèn dầu sáng hơn, sửa lại chỗ ngủ phía sau kho.
Ban đầu mọi người tưởng ông chỉ làm để giữ danh, nhưng lâu dần thấy ông thật sự bớt tính toán từng đồng.
Có người treo.
Ông chủ trương hôm nay rộng rái, có phải dương bạc bị chuột gặm không?
Trương Đức Thành nghe vậy chỉ cười gượng.
Chuột không gặm được bạc, nhưng lòng người mà mất thì bao nhiêu bạc cũng không mua lại được.
Vương Sinh sau lần thoát nạn càng được mọi người kính trọng.
Chàng vẫn khiêm nhường như trước, không vì lập công mà kêu.
Ban ngày chàng quản sổ sách, tiếp khách, kiểm hàng.
Buổi tối chàng dạy mấy tiểu nhị trẻ cách tính toán, dặn họ rằng làm nghề buôn bán trước phải giữ chữ tín, sau mới nói đến tiền lời.
Trương Uyển Nhì vẫn giữ chiếc áo gấm xanh đã được quan binh thu lại từ người tiểu lục.
Áo bị kéo rách một bên tay, dính bụi núi và mùi khói.
Nàng tự tay giặt sạch, vá lại từng đường kim.
Khi đưa áo cho Vương Sinh, nàng khẽ nói.
Chiếc áo này vốn muốn giúp Huynh đỡ lạnh, không ngờ lại khiến Huynh gặp nạn.
Vương Sinh nhìn áo, rồi nhìn nàng.
Nếu không có chiếc áo này, ta có lẽ vẫn chỉ là tiểu nhị bị xem thưởng.
Nó khiến ta gặp họa, nhưng cũng nhờ họa ấy mà ta biết mình có thể làm được nhiều hơn.
Lòng tốt của tiểu thư không sai.
Chỉ là đời người đôi khi phải đi qua vòng quanh co mới thấy được đường ngay.
Trương Uyển Nhì đỏ mặt, cuối đầu không nói.
Tình cảm giữa hai người vốn âm thầm, nay ai trong tiệm cũng nhận ra.
Chỉ còn chờ Trương Đức Thành mở lời.
Một tối cuối năm, Trương Đức Thành gọi Vương Sinh vào phòng khách.
Trên bàn không có bàn tính, không có sổ nở, chỉ có một ấm trà nóng.
Ông nhìn chàng hồi lâu rồi nói.
Ta chỉ có một đứa con gái.
Trước đây ta nghĩ phải gả nó cho nhà giàu để trương ra thêm thể diện.
Nhưng sau chuyện vừa rồi, ta hiểu ra một điều.
Người có tiền chưa chắc giữ được nhà.
Người có nghĩa mới biết bảo vệ nhà.
Vương Sinh giật mình, vội đứng dậy.
Ông chủ, con thân phận thấp hèn, không dám trèo cao.
Trương Đức Thành lắc đầu.
Thân phận thấp hay cao không nằm ở áo mặc trên người,
mà nằm ở việc khi gặp nguy có bỏ người khác lại hay không.
Ngày đó ta mặc áo tốt hơn con, cưỡi ngựa nhanh hơn con,
nhưng lòng ta lại thấp hơn con.
Nếu con không chê trương ra từng bạc đái, ta muốn gả uyển nhi cho con.
Vương Sinh lặng đi.
Chàng nhớ ba năm nghèo khó.
Nhớ những lần bị khấu tiền công.
Nhớ đêm lạnh trong sơn trại.
Cũng nhớ mảnh giấy nhỏ với dòng chữ dịu dàng.
Cuối cùng chàng cuối đầu.
Nếu tiểu thư bằng lòng, con nguyện dùng cả đời đối đãi tử tế với nàng,
cũng nguyện giúp tiệm trương ký buôn bán bằng chữ tín.
Trương Uyển Nhi đứng sau rèm nghe đến đó,
nước mắt rơi nhưng miệng lại mỉm cười.
Mùa xuân năm sau, đám cưới của Vương Sinh và Trương Uyển Nhi
được tổ chức giản dị mà ấm áp.
Dân trong huyện đến chúc mừng rất đông.
Có người mang rổ trứng,
có người mang bó dao,
có người chỉ đến nói một câu cảm ơn
vì nhờ Vương Sinh mà đường núi được yên.
Chiếc áo gấm xanh được treo trong phòng cưới
không phải để khoe sang,
mà để nhắc rằng một tấm lòng thiện lành
có thể đi qua hiểm nguy,
rồi trở thành phúc duyên.
Sau khi thành thân, Vương Sinh dần tiếp quản tiệm trương ký.
Chàng đổi cách buôn bán,
giá ghi rõ, cân đo công bằng.
Người nghèo mua vải tang không bị ép giá,
thợ làm công được trả đúng công sức.
Trương Đức Thành lui về phía sau,
ngày ngày uống trả,
đôi khi vẫn tiếc một hai đồng bạc,
nhưng mỗi lần định cao mày,
ông lại nhìn chiếc áo gấm xanh,
rồi tự nhắc mình im lặng.
Nhiều năm sau, khi người huyện Cổ Bình kể lại chuyện ấy,
ai cũng cười mà nói.
Một chiếc áo mới khiến Tiểu Nhị bị bắt nhầm làm công tử,
nhưng cũng nhờ chiếc áo ấy mà người tài được nhìn thấy,
kẻ keo kiệt biết quay đầu,
còn bọn cướp thì bị giết sạch.
Đời người đúng là lạ.
Có khi thứ đưa ta vào hiểm cảnh
lại chính là thứ mở ra con đường đổi đời.
Nhưng điều quyết định
không phải chiếc áo sang hay hèn,
mà là người mặc áo ấy có giữ được lòng
ngay giữa lúc nguy nan hay không.
Vương sinh nghèo, nhưng không hèn.
Gặp nạn, chàng không tuyệt vọng.
Có cơ hội, chàng không hại người vô tội.
Lập công, chàng không kiêu ngạo.
Vì vậy,
tai hỏa mới hóa thành phúc duyên.
Còn Trương Đức Thành giữ bạc cả đời,
cuối cùng mới hiểu rằng
tiền nằm trong giương chỉ là vật chết.
Người có nghĩa trong nhà
mới là phúc sống.
Một tiệm vải muốn bền
không chỉ nhờ gấm vóc đẹp,
mà nhờ lòng người biết tin nhau.
Nếu quý vị yêu thích những câu chuyện
nhân quả đời thường như thế này,
hãy đăng ký kênh Chuyện Làng Xưa
để cùng nghe thêm nhiều bài học xưa
mà vẫn thấm đến hôm nay.