Vì sao nhật bản nhập cá rô phi việt nam làm sushi, sashimi?

Bình An
606 Người theo dõi
#BlvHaiThanhplus #BLVHảiThanh #BLVhaiThanhStory
Cá rô phi Việt Nam vừa chính thức vào thị trường Nhật Bản để chế biến sushi và sashimi. Vì sao một loài cá bình dân lại chinh phục được thị trường khó tính bậc nhất thế giới? Đằng sau là câu chuyện về công nghệ, tiêu chuẩn và cơ hội tỷ USD của thủy sản Việt Nam.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIViệt Nam đã chính thức xuất khẩu phi lê cá rô phi sang Nhật Bản để chế biến sushi và sashimi. Việc một loài cá bình dân có thể thâm nhập vào thị trường khắt khe nhất thế giới cho thấy sự chuyển dịch của ngành thủy sản Việt Nam từ xuất khẩu số lượng giá rẻ sang tập trung vào chất lượng, quy trình chuẩn quốc tế và giá trị gia tăng cao.
Người Nhật sẽ ăn sushi hay sashimi làm từ cá rô phi của Việt Nam.
Chắc nhiều người sẽ cười và nghĩ đó là chuyện đùa.
Bởi trong suy nghĩ của phần lớn chúng ta, cá rô phi là loài cá rất bình dân.
Ra chợ Việt Nam, mua được con cá rô phi rất dễ.
Loài cá này xuất hiện từ bữa cơm gia đình, quán cơm bình dân cho đến những ao hồ khắp các vùng quê.
Trong khi đó, sushi và sashimi lại được nhiều người xem là biểu tượng của ẩm thực Nhật Bản.
Nơi nổi tiếng với những lát cá hồi, cá ngừ vệ xanh hay cá cam có giá cao hơn rất nhiều.
Mà nhiều người nói rằng ăn rô phi làm sashimi hoặc sushi chắc là tanh lắm.
Thế nhưng điều đó đang thực sự xảy ra.
Lô cá rô phi phi lê đầu tiên của Việt Nam đã chính thức được xuất khẩu sang Nhật Bản để chế biến sushi và sashimi.
Đây là một côn mốc rất đáng chú ý của ngành thủy sản Việt Nam.
Bởi Nhật từ lâu được xem là một trong những thị trường khó tính nhất của thế giới.
Muốn đưa đồ ăn vào đây đã khó, đưa cái loại mà người Nhật ăn sống lại còn khó gấp nhiều lần.
Điều thú vị là trong khi nhiều người vẫn nghĩ Nhật Bản có biển bao quanh, nguồn cá phong phú bậc nhất thế giới,
thì chính quốc gia này lại đang ngày càng phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu thủy hải sản từ nước ngoài.
Không chỉ cá hồi Naui, cua Alaska hay tôm Việt Nam,
mà giờ đây đến lượt cá rô phi Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện trên bàn ăn của người Nhật.
Vậy điều gì đang xảy ra?
Vì sao người Nhật không dùng chính cá của họ mà lại nhập cá rô phi từ Việt Nam?
Điều gì khiến một loài cá vốn rất bình dân và bình thường ở Việt Nam
lại đủ tiêu chuẩn bước vào thánh đường của sushi thế giới?
Nhiều người nghĩ đơn giản rằng, Nhật Bản là quốc đảo nên cá chắc phải nhiều vô kể.
Điều đó đúng, nhưng là chưa đủ.
Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 4,47 triệu km vuông,
lớn hơn 10 lần diện tích đất liền của nước này.
Từ hàng nghìn năm nay, người Nhật sống dựa vào biển cả,
trung bình mỗi người Nhật tiêu thụ khoảng nửa tạ thủy sản mỗi năm,
thuộc nhóm cao nhất trên thế giới.
Sushi, Sashimi, cơm hải sản, cá nướng gần như đã trở thành một phần của văn hóa quốc gia.
Thế nhưng vài chục năm trở lại đây, nguồn lợi thủy hải sản của Nhật Bản lại giảm khá mạnh.
Biến đổi khí hậu khiến nhiệt độ nước biển tăng lên, làm thay đổi đường di cư của nhiều loài cá.
Thế là một số đàn cá nó ít đi hoặc là nó đi đường khác mất rồi.
Bên cạnh đó là tình trạng khai thác quá mức trong nhiều thập kỷ,
khiến nguồn lợi tự nhiên suy giảm đáng kể.
Không chỉ vậy, dân số Nhật Bản đang già hóa rất nhanh.
Lực lượng ngư dân để mà đánh bắt cá ngày càng ít đi.
Người trẻ thì không thích nghề này bởi vì vừa phải đánh bắt xa bờ,
công việc thì vất vả, thu nhập cũng không còn hấp dẫn như trước.
Kết quả là Nhật Bản vẫn ăn nhiều cá, nhưng ngày càng phải nhập khẩu nguyên liệu từ khắp nơi trên thế giới.
Và đó chính là cơ hội mà Việt Nam tận dụng rất tốt.
Nhưng tại sao lại là cá rô phi mà lại là cá rô phi của Việt Nam?
Đây có lẽ là điều khiến nhiều người ngạc nhiên nhất.
Bởi Việt Nam thì chúng ta thấy nó rất là bình thường,
nhưng sang Nhật tự nhiên ngay đã sang chảnh hẳn.
Trước hết phải hiểu là họ có nhập về ăn,
nhưng không phải là ăn cá rô phi thay thế hoàn toàn các loại thủy hải sản khác,
mà chỉ dùng cá của Việt Nam một phần mà thôi.
Bởi vì nếu chia theo nguyên liệu thì trường sushi và sashimi của Nhật Bản có thể phân thành 3 phân khúc chính.
Phân khúc cao cấp nhất là những loại cá biển có giá trị kinh tế rất cao,
thường xuất hiện trong các nhà hàng omakase hoặc sushi truyền thống lâu đời.
Đứng đầu là cá ngừ vây xanh, tiếp đến là cá cam nhật, cá chát biển,
cá nóc, nhím biển, tôm ngọt, so điệp, bạch tuộc và mực.
Đây là nhóm nguyên liệu có giá trị rất cao, phụ thuộc mạnh vào mùa vụ và chất lượng.
Một bữa omakase sử dụng các loại hải sản này có thể có giá từ vài chục nghìn đến hàng trăm nghìn yên.
Sau phân khúc cao cấp, đó là phân khúc phổ thông và đại chúng,
thì đây mới là thị trường lớn nhất.
Đây là nhóm phục vụ tại chuỗi sushi băng truyền, siêu thị và cửa hàng tiện lợi,
với các nguyên liệu từ cá hồi hiện là loại được tiêu thụ nhiều nhất.
Tiếp đến là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to, rồi đến cá thu, lơn nhật, lơn biển,
tôm, trứng cá hồi, trứng ngọt, cua tuyết hoặc thanh cua cùng nhiều loại cá trăng khác.
Nhóm thứ ba gọi là nhóm bình dân.
Những năm gần đây, để giảm chi phí và đa dạng nguồn cung,
một số doanh nghiệp Nhật bắt đầu thử nghiệm các loại nguyên liệu mới như cá rô phi nuôi đạt chuẩn,
chủ yếu ở phân khúc giá trung bình.
Tuy nhiên, cá rô phi hiện vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ
và chưa thể so sánh với mức độ phổ biến với cá hồi hay cá ngừ,
hai ông vua của thị trường sushi và sashimi của Nhật Bản.
Vậy là Nhật Bản có nhập nhưng nhập một phần nhỏ và họ cũng ăn một phần nhỏ,
chứ không phải là thay thế hoàn toàn mấy loại sushi và sashimi truyền thống của Nhật Bản.
Nói về cá rô phi, thực ra trên thế giới, đặc biệt là tại Mỹ, Israel, Mexico
hay một số nước châu Âu, cá rô phi từ lâu đã là một trong những loại cá được tiêu thụ nhiều nhất.
Theo Liên Hợp Quốc, cá rô phi hiện đang đứng trong nhóm những loài cá nuôi phổ biến nhất hành tinh,
với sản lượng toàn cầu lên đến hơn 7 triệu tấn mỗi năm.
Nó được mệnh danh là gà của thế giới thủy sản bởi vì nó lớn nhanh, dễ nuôi, ít bị bệnh và giá hợp lý.
Nhưng để từ một con cá bán ngoài chợ trở thành nguyên liệu làm sushi là cả một câu chuyện hoàn toàn khác.
Muốn ăn sống, con cá phải được nuôi trong những môi trường được kiểm soát rất nghiêm ngặt,
chất lượng nguồn nước phải ổn định, thức ăn đặc chuẩn,
tuyên đối không sử dụng hóa chất cấm hay là kháng sinh vật ngưỡng.
Mỗi con cá đều gần như có hồ sữa lý lịch, tức là từ lúc cá giống cho đến khi thu hoạch,
đều được ghi nhận để có thể truy xuất nguồn gốc bất kỳ lúc nào.
Đến khi thu hoạch, quy trình còn khắc khe hơn.
Cá phải được làm sạch ngay lập tức, hạ nhiệt nhanh để hạn chế vi khuẩn phát triển,
sau đó là khâu phi lê, đóng gói, cấp đông hoặc bảo quản lạnh theo đúng tiêu chuẩn quốc tế.
Nói cách khác, người Nhật không chỉ mua con cá rô phi của Việt Nam,
mà là cả một quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Đó cũng là lý do doanh nghiệp Việt Nam phải mất khoảng nửa năm
chỉ để xây dựng quy trình nuôi và chế biến dành riêng cho phân khúc của Nhật Bản,
trước khi xuất khẩu lô đầu tiên sang Nhật.
Nói vui thì vẫn là con cá rô phi đấy thôi,
nhưng mà lý lịch của nó đã khác hoàn toàn con cá mà chúng ta thường mua ở ngoài chợ.
Đó là bởi, đối với sushi và đặc biệt là sesame,
yếu tố quan trọng nhất không chỉ là độ tươi mà là độ an toàn và phải rất rõ nguồn gốc.
Người Nhật rất cẩn thận.
Thế thì người Nhật họ có tiêu chuẩn rồi, trên thế giới thiếu gì nước cẩn thận,
thiếu gì nước nuôi cá rô phi mà tại sao lại mua của Việt Nam?
Đúng là thế giới không chỉ có Việt Nam nuôi cá rô phi,
Trung Quốc, Indonesia, Ai Cập, Brazil hay nhiều quốc gia châu Phi cũng sản xuất rất lớn,
đúng như tên gọi của nó cá rô phi.
Vậy tại sao cá rô phi Việt Nam ngày càng được chú ý?
Lý do đầu tiên là chất lượng ngày càng hổ định.
Trong khoảng hơn chục năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã thay đổi rất nhiều.
Thay vì nuôi nhỏ lại như trước, ngày càng nhiều doanh nghiệp,
nhiều công ty đầu tư theo mô hình khép kín.
Từ con giống, thức ăn, vùng nuôi, thu hoạch đến chế biến,
đều nằm trong một chuỗi quản lý rất hiện đại và chuyên nghiệp.
Điều này giúp chất lượng đồng đều hơn và đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính,
trong đó có Nhật Bản.
Lý do thứ 2 mà Việt Nam được ưu tiên bởi vì chi phí rất là cạnh tranh.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, nguồn nước phong phú, thời gian nuôi ngắn.
Cá rô phi có thể phát triển quanh năm thay vì chỉ nuôi theo mùa như nhiều quốc gia ôn đới.
Điều này giúp chi phí sản xuất thấp hơn, nguồn cung ổn định hơn và giá bán hấp dẫn hơn.
Lý do thứ 3 là năng lực sản xuất rất lớn.
Hiện Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 1,7 tỷ con giống cá rô phi mỗi năm.
Đây là nền tảng để mở rộng vùng nuôi khi nhu cầu thế giới tăng lên.
Nhiều doanh nghiệp cũng đang đầu tư thêm nhà máy chế biến hiện đại với công suất hàng trăm tấn mỗi ngày để phục vụ xuất khẩu.
Lý do thứ 4 nữa, đó là lý do về vị trí địa lý.
Đưa Việt Nam đi Nhật Bản thì tiện hơn so với từ Châu Phi đi Nhật Bản,
từ Mexico đi Nhật Bản hay một số quốc gia xa xôi khác mà đi Nhật Bản.
Chính sự kết hợp giữa chất lượng, giá thành, nguồn cung ổn định và vị trí địa lý
đã giúp cá rô phi Việt Nam trở thành một lựa chọn hấp dẫn đối với các nhà nhập khẩu Nhật Bản.
Vậy, con cá rô phi trong tương lai có thể trở thành con cá tỷ đô tiếp theo của Việt Nam hay không?
Nhắc đến thủy sản Việt Nam, phần lớn mọi người sẽ nghĩ ngay đến tôm và cá cha.
Đây vẫn là hai con cá chủ lực mang về hàng tỷ USD mỗi năm trong hành thủy sản.
Tuy nhiên, cá rô phi đang nổi lên như một ứng viên rất đáng gờm.
Hiện kiếm ngành xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn nếu so với tôm và cá cha,
nhưng tốc độ tăng trưởng thì lại rất nhanh.
Giờ đây lại có thêm anh bạn Nhật Bản nữa thì bức tranh lại đang thay đổi.
Điều đang nói là thị trường Nhật Bản không nổi tiếng vì mua nhiều,
mà nổi tiếng vì mua với cái giá có thể nói là đắt nhất trên thế giới.
Nếu một sản phẩm được người Nhật công nhận, giá trị thương hiệu của nó cũng thường tăng đáng kể.
Điều này giống như một tâm giới chức nhận chất lượng qua giá trị trên toàn cầu.
À, Nhật Bản chúng tôi vào được thì chỗ khác, các bạn hãy tự tin chúng tôi cũng vào được.
Sau Nhật Bản, doanh nghiệp Việt Nam cũng đang hướng đến nhiều thị trường phát triển khác.
Đây đều là những nơi nhiều tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao nếu sản phẩm đảm bảo chất lượng,
an toàn và có nguồn gốc rõ ràng.
Ví dụ như Mỹ và Canada bây giờ cũng rất phát triển cái việc xuất khẩu cá rô phi sang đó.
Nếu tiếp tục giữ được tốc độ phát triển như hiện nay, cá rô phi hoàn toàn có thể trở thành
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới của ngành thùy sản Việt Nam trong thập kỷ tới.
Có thể nói, ngày trước, cá rô phi thường bị xem là cá bình dân giá rẻ,
chủ yếu phục vụ những bữa cơm hàng ngày.
Ít ai nghĩ rằng một ngày nào đó, chính loài cá ấy lại xuất hiện trong những nhà hàng sushi
ở Nhật Bản, quê hương của nền ẩm thực nổi tiếng bậc nhất trên thế giới.
Điều đó cho thấy trong cái nền kinh tế làm ăn buôn bán toàn cầu hiện nay,
giá trị không nằm ở bản thân sản phẩm mà nằm ở chất lượng, công nghệ và cách làm.
Cũng là cá rô phi, nhưng nếu được nuôi theo theo chuẩn quốc tế, chế biến bằng công nghệ hiện đại,
kiểm soát an toàn thực phẩm nghiêm ngặt và truy xuất được nguồn gốc,
nó hoàn toàn có thể bước vào phân khúc cao cấp với giá trị cao hơn rất nhiều lần.
Đây cũng là hướng đi mà nông nghiệp và thủy sản Việt Nam đang theo đuổi.
Thay vì chỉ xuất khẩu thật nhiều với giá rẻ, mục tiêu là tạo ra những sản phẩm
có giá trị gia tăng cao, xây dựng thương hiệu và chinh phục những thị trường khó tính nhất.
Còn bạn, bạn có dám chen cái món sushi hay là sashimi làm từ cá rô phi mà bạn tự làm hay không?
Hãy để lại ý kiến dưới phần bình luận. Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Hãy nhấn nút đăng ký kênh để không bỏ lỡ những video mới nhất.
