HIỂU RÕ LỊCH SỬ ĐẠO HỒI TRONG 30 PHÚT - Hồi Giáo Suýt Thống Trị Thế Giới? | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis video analyzes the rise, expansion, and eventual decline of the Islamic Empire. It traces the journey from Muhammad's unification of the Arabian Peninsula through the Golden Age of the Abbasids to the empire's fall under the Mongols, highlighting how Islam evolved from a tribal unifying force into a global civilization that preserved human knowledge and shaped world history.
Chào mừng khán thính giả đã đến với kênh Thế Giới Cô Đại.
Tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Ở phần trước, chúng ta đã khám phá bản chất thật sự của Hồi giáo,
những bí mật về thánh điện Mecca và mối liên kết giữa Hồi giáo với chủ nghĩa cực đoàn.
Trong video hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về người Ả Rập,
tại sao đức tin của Hồi giáo kết hợp với chính trị quốc gia
lại khiến người Ả Rập sáng lập một trong những đề chế rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Đề chế Hồi giáo Ả Rập, nơi chính trị và tuân giáo hòa là một.
Đừng rơi mắt khỏi màn hình, chúng ta sẽ bắt đầu ngay bây giờ.
Câu chuyện hôm nay dẫn chúng ta đến lịch sử của dân tộc Ả Rập
và nền văn minh Hồi giáo mà họ đã tạo dựng.
Hồi giáo ra đời trên bán đảo Ả Rập, nơi được coi là quê hương của dòng dõi Sem.
Người Ả Rập là những hậu duệ Sem không di cư khỏi bán đảo,
tiếp tục sinh sống tại đây qua nhiều thế hệ.
Trước khi Hồi giáo xuất hiện, bán đảo Ả Rập chưa bao giờ là một quốc gia thống nhất.
Tại đây chỉ tồn tại những thành phố nhỏ lẻ và các bộ lạc phần tán.
Người Sem sinh sống trên bán đảo do điều kiện địa lý dần dần phân hóa thành hải nhóm chính,
là người Bidoin ở phía Bắc và người Sabin ở phía Nam.
Phía Bắc và trung tâm bán đảo là một cao nguyên rộng lớn,
chủ yếu là sa mạc và thảo nguyên cản cối.
Khi hậu khô hạn và rất khó để cánh tác.
Người Bidoin ở đây sống đời rù mục, di chuyển theo nguồn nước và đồng cỏ,
luôn phải đối mặt với sự khan hiếm tài nguyên.
Họ thường xuyên tranh giành nước và đất trăn thả, dẫn đến những cuộc xung đột triền miên,
khiến xã hội của họ chìm trong hỗn loạn và thiếu chất tử.
Ngược lại, phía Tây và Nam bán đảo,
lại là những vùng đất đồng bằng và núi non ven biển mỏng mỡ.
Mưa nhiều, đất đai phỉ nhiều, được mệnh danh là vùng đất may mắn.
Tại đây, người Sabin từ nhiều thế kỷ trước công nguyên,
đã phát triển nông nghiệp và xây dựng một vương quốc Sabin phổn thị.
Không chỉ giỏi nông nghiệp, người Sabin còn là bậc thầy thường mãi.
Tuy nhiên, vị trí chiến lược của khu vực phía Nam bán đảo
cũng khiến nó trở thành mục tiêu của các cuộc xâm lược từ bên ngoài.
Vương quốc Sabin từ khi thành lập,
đã liên tục phải đối mặt với sự tấn công của người Bedouin từ phía Bắc
và các thế hệ ngoại bàng.
Sau khi bị chinh phục, vương quốc Sabin được đổi tên thành vương quốc Himyarid.
Theo thời gian, vương quốc Himyarid ngày càng thịnh vương,
độc chiếm hoạt động thường mại tại khu vực Biển Đỏ.
Vào khoảng thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6,
đế quốc Benjatin ở phía Bắc, đế quốc Sassanid của người Ba Tư
và vương quốc Aksum của Ethiopia ở Đông Phi
đã mở ra cuộc chiến tranh dài dặn
để giành quyền kiểm soát tuyến đường thường mại quốc tế qua Yemen.
Cuộc chiến kéo dài hơn 100 năm này, kết thúc vào năm 575,
khi người Ba Tư đánh bại các thế lực còn lại
và trở thành kẻ thống trị thực sự của Yemen.
Nhưng hậu quả của chiến tranh để lại
là sự tàn phá nặng nề đối với khu vực phía Nam bán đạo Ả Rập,
biến nơi từng là một vùng đất phi nhiêu và thịnh vượng
thành một vùng đất đổ nát.
Các thành phố trở nên tiêu điều,
nhiều nơi thậm chí biến thành đống hoang tàn.
Một lượng lớn dân cư từ phía Nam di cư lên phía Bắc,
chuyển thành các bộ tộc rùm mục.
Nền văn minh phồn thịnh của miền Nam Ả Rập từng rực rỡ một thời,
giờ đây bị xóa sạch,
đưa khu vực này trở về trạng thái nửa hoang dã.
Biến động này tạo nên vô số mâu thuẫn trên khắp bán đạo Ả Rập,
dẫn đến sự hỗn loạn xã hội nghiêm trọng,
báo hiệu một thời kỳ chuyển mình lớn lao trong lịch sử.
Ở phía Bắc, người Bedouin vốn đã thường xuyên xung đột
để tranh giành không gian sống.
Ngay lại có thêm dòng người di cư từ miền Nam đổ vào,
khiến các bộ tộc càng bị dồn nén,
cuộc sống càng trở nên chật trội.
Chiến tranh leo thang,
đời sống ngày càng lầm than.
Người dân bắt đầu mong muốn một quốc gia thống nhất
có thể mang lại hòa bình và chấm dứt cảnh giao tranh.
Trong bối cảnh mà không phân biệt phía Bắc hay phía Nam,
không phân biệt giàu hay nghèo,
tất cả mọi người trên bán đạo
đều mong mỏi một quốc gia thống nhất và mạnh mẽ.
Muhammad đã xuất hiện và đáp ứng nguyện vọng này,
ghi dấu mình trên sân khấu lịch sử.
Như đã đề cập ở video trước,
năm 570, Muhammad sinh ra tại Mecca
trong một gia đình quý tộc thuồng dọc dõi Hasim
của một tộc Qisrai.
Giống như nhiều nhân vật lịch sử vĩ đại khác,
câu chuyện về sự ra đời của ông
được bao phủ bởi những truyền thuyết thần kỳ.
Người ta kể rằng, vào lúc ông trào đời,
có một tiếng sáng trói lọi xuyên thẳng lên bầu trời.
Nước hồ cạn khô, đất nứt nẻ
và con lửa thiên của đạo Jurachian ở Ba Tư bỗng dưng tắt lỉm.
Vua Ba Tư khi ấy còn mỡ thấy những con ngựa
đã bị Đàn Lạc ta đánh bại một điểm báo kỳ lạ.
Câu chuyện về tuổi thơ của Muhammad
mới các bạn xem trong tập trước nhé.
Sau khi Muhammad lấy vợ,
lúc này các bộ tộc trên bản đạo Ả Rập
có nhiều tiếng ngữa khác nhau.
Và thành phố Mecca, nơi Muhammad sinh sống
là trung tâm của các hoạt động tôn giáo.
Ở đây, Kaba, một thánh đường nổi tiếng
là nơi gắn liền với nhiều nghì lễ tôn giáo.
Bởi trong tường phía đông nam của Kaba,
có một khối đá đen bí ẩn.
Khối đá này gắn liền với nhiều truyền thuyết
trong văn hóa Ả Rập.
Một trong những câu chuyện phổ biến nhất kể rằng
khi Adam, tổ tiên loài người,
rơi khỏi vươn địa đàng,
ông đã xây dựng một ngôi nhà thiêng gọi là Kaba.
Sau đó, khi Thượng Đế tạo ra một trận đại Hầu Thủy,
ngôi nhà thiêng bị nước lũ cuốn trôi.
Nhiều thế hệ sau, tổ tiên người Ả Rập là Abraham,
Ibrahim và con trai là Ishmael
đã tái thiết Kaba tại vị trí cũ.
Khi họ xây dựng lại ngôi nhà thiêng,
thiên thần Zibril đã mang một khối đá đen
từ thiên đường để đặt vào góc đông nam của Kaba.
Chính nhờ khối đá đen này,
Kaba trở thành trung tâm tin ngưỡng
của nhiều bộ tộc Ả Rập.
Các bộ tộc thường tăng tượng thần linh
và họ tôn thờ,
rồi mang đến Kaba để thực hiện nghì lễ và hành hưởng.
Do ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo phong phú tại Mekka,
Muhammad sau khi kết hôn,
vừa tiếp tục kinh doanh,
vừa bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về tôn giáo.
Sau khi nhận được sự mặc khải
của Thượng Đế Allah tại Hàng Động,
Ngài đã giao cho ông sứ mệnh
trở thành người truyền đạt thông điệp thiêng liêng đến nhân loại.
Muhammad tin rằng,
ông là sứ giảng cuối cùng của Allah,
được giao nhiệm vụ kêu gọi mọi người
tư bỏ việc thực cùng các vị thần
và các tượng thần.
Thay vào đó,
chỉ tôn thờ duy nhất thành Allah.
Từ đó,
Muhammad bắt đầu giao dạng tôn giáo mới,
khẳng định rằng
Allah là đứng sáng tạo,
tạo ra mọi thứ trên thế gian
và ông là sứ giảng cuối cùng của Ngài.
Ông kêu gọi người dân tư bỏ tín ngưỡng đa thần truyền thống,
chấm dứt việc thơ tượng thần
và chỉ tôn thờ Allah.
Chính vì lý do này,
mà trong số 3 tôn giáo lớn trên thế giới,
chỉ riêng Hồi giáo không có bất kỳ hình tượng nào
của Allah hay Muhammad.
Tôn giáo này phản đối sự thơ phụng hình tượng
và nghiêm cấm việc khắc họa hình ảnh
của Allah hoặc các nhà tiền trì
để bảo vệ sự thuần khiết
và tránh việc thần thành hóa hình thức bên ngoài.
Muhammad dựa trên các tập tục
và hiện tượng xã hội đường thời của người Ả Rập
đã phản đối các hành vi
như báo thù theo dòng máu
và bỏ rơi trẻ em.
Ông cũng cấm cho vai nặng lãi và cờ bảng.
Ông khuyến khích việc giúp đỡ người nghèo.
Đồng thời,
quan điểm của ông về giải phóng
và đối xử nhân đạo với nô lệ
đã thu hút được sự ủng hộ của đông đảo
người dân Ả Rập.
Giới ảnh hưởng của những lý tưởng này,
nhiều người đã gia nhập Hồi giáo.
Từ góc độ chính trị cổ đại,
việc thống nhất tư tưởng là yếu tố sống con
đối với sự hình thành của một quốc gia lớn mảnh.
Giống như Tần Thùy Hoàng
đốt sách trôn nhò để đề cao pháp trị
hay Hán Vũ Đế
đục tôn nhò giáo.
Muhammad cũng đã thay thế
để tin ngưỡng đa thần của các bộ lạc Ả Rập
bán đức tin vào một thượng đề duy nhất
là Allah.
Chính đức tin chung này
đã đoàn kết các bộ lạc Ả Rập
dưới lá cờ Hồi giáo
đặt nền bóng tư tưởng cho một quốc gia Ả Rập thống nhất.
Tại Mekka,
Muhammad ngày càng được nhiều người biết đến
và đi theo.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến các quý tộc tại đây.
Dưới áp lực,
Muhammad và những môn đồ
phải rời khỏi Mekka đến thành phố Medina
và thành lập một cộng đồng Hồi giáo
gọi là Ummah.
Thành Medina được biết đến
với cái tên thành phố của nhà tiên trì.
Về bản chất,
Ummah là một nhà nước Ả Rập
kết hợp giữa chính trị và tôn giáo.
Lúc này, Muhammad
không chỉ là lãnh tụ tôn giáo
mà còn là người đứng đầu chính phủ
và chỉ huy quân đội.
Ông ban hành hiến trương Medina,
một bộ luật quy định tất cả các tín đồ Hồi giáo
đều là anh em.
Các thành viên trong cộng đồng
phải hỗ trợ lẫn nhau,
cấm việc giết chóc vì thù hận.
Và nếu một tín đồ Hồi giáo hy sinh vì đức tin,
các cộng đồng phải đứng lên bảo vệ
và trả thù cho họ.
Hiến trương này là tiền bóng pháp lý đầu tiên
cho sự thống nhất giữa chính trị
và tôn giáo của cộng đồng Hồi giáo.
Sau khi củng cố vững chắc cộng đồng
tại Medina,
Muhammad bắt đầu hướng đến mục tiêu lớn hơn,
đấu tranh với tầng lớp quý tộc ở Mekka
để bờ rộng sức mạnh Hồi giáo.
Sau nhiều cuộc chiến giữa quân đội Hồi giáo
của Muhammad với quý tộc Mekka
không phần thắng bại,
họ buộc phải ký một hiệp định đình chiến
tại Hudaybiyah.
Theo hiệp định này,
Mekka công nhận Hồi giáo là hợp pháp
và cho phép Muhammad cùng tín đồ của ông
thực hiện hành hương tại Kaba
trong 3 ngày mỗi năm.
Hiệp định này được gọi là Hiệp ước Hudaybiyah.
Sau khi ký kết Hiệp ước,
Muhammad cử các sứ giả
đến các khu vực lần cận
để thiết lập quan hệ ngoại giao
với các bộ tộc và quốc gia xung quanh.
Nhờ những nỗ lực ngoại giao khéo léo,
nhiều bộ tộc đã lần lực quy phục.
Đồng thời,
Muhammad cũng hòa giải với các đế quốc lớn
như đế quốc Byzantine và đế quốc Batu,
thiết lập mối quan hệ hòa bình
để loại bỏ mọi yếu tố bất ồn.
Khi đã củng cố
được vùng xung quanh,
Muhammad bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch cuối cùng
chinh phục Mekka
và thống nhất toàn bộ bán đạo Ả Rập.
Tháng 1 năm 630,
Muhammad dẫn đầu
một đội quân hàng chục ngàn tín độ
rời danh nghĩa thực hiện hành hương
tiến vào Mekka.
Trước sức mạnh áp đảo của quân đội Hồi giáo,
các quy tộc Mekka không còn lựa chọn nào khác
ngoài việc tuyên bố gia nhập Hồi giáo
và chấp nhận sự lãnh đạo của Muhammad.
Sau khi chiếm được Mekka,
Muhammad được tôn làm lãnh đạo tối cao,
mở ra một thời kỳ mới cho sự thống nhất
và phát triển của Hồi giáo.
Muhammad xác nhận rằng
Mekka sẽ tiếp tục là
thánh địa của người Ả Rập
và Kaba được đổi tên thành thánh đường Kaba.
Ông ra lệnh dọn dẹp
mọi tượng thần của các bộ tộc trong thánh đường
chỉ để lại hãng thánh
như một thánh vật của Hồi giáo
nơi các tín độ sẽ hành hương và cầu nguyện.
Sau khi Mekka quy phục,
vào năm 631,
các bộ lạc trên khắp bán đạo Ả Rập
lân lượt cự phái đoàn đến gặp Muhammad
để bày tỏ lòng trung thành
và gia nhập Hồi giáo.
Ngoài trừ khu vực quanh Vịnh Bà Tư,
Muhammad gần như đã hoàn tất
việc thống nhất toàn bộ bán đạo Ả Rập,
chấm dứt sự chia rẽ lâu dài
giữa người Ả Rập miền Nam và miền Bắc
tạo nên một xã hội thống nhất
dưới lá cờ Hồi giáo.
Medina, căn cứ địa của Hồi giáo
trở thành thủ đô của nhà nước mới này.
Vào ngày 8 tháng 6 năm 632,
khi đăng lên kế hoạch
mở rộng Hồi giáo ra ngoài bán đảo,
Muhammad qua đời
Sau đó, ông được an táng
tại Thánh Đường Tiền Trì.
Khi Muhammad qua đời,
ông không chỉ định người kế vị,
dẫn đến những tranh chấp gày gắt
giữa các tín đồ Hồi giáo
về vấn đề thừa kế.
Trong số các phe phái chính,
có thể kể đến nhóm các quý tộc
quy phục Hồi giáo cho rằng
Muhammad là hậu duệ của bộ tộc Israel.
Vì vậy, người kế vị
nên được chọn từ bộ tộc này.
Nhóm Ansar,
người trợ giúp ở Medina lập luận rằng
chính họ đã hỗ trợ Muhammad
trong thời kỳ khó khăn nhất,
giúp Hồi giáo phát triển mạnh mẽ.
Do đó, họ phản đối việc
chỉ chọn người kế vị từ nhóm tín đồ ở Mecca.
Còn nhóm thân tộc thì tin rằng
chỉ những người có quan hệ máu mũ
gần gũi với Muhammad
mới xứng đáng kế vị.
Khi Muhammad qua đời,
người thân trực tiếp duy nhất còn sống
là con gái ông Fatima
và chồng của bà Ali.
Người vừa là anh em họ
vừa là con nuôi của Muhammad.
Nhóm này cho rằng Ali
hoặc con gái của ông và Fatima
mới đủ điều kiện làm người kế vị.
Sau khi thống nhất bầu chọn,
Abu Bakr
là người được chọn làm người lãnh đạo
giữa chức Caliph
nghĩa là người kế vị nhà tiên tri.
Abu Bakr xuất thân là quý tộc
thuộc bộ tộc Israel ở Mecca.
Ông từng là một thương gia giàu có,
là một trong những tín đồ đầu tiên
theo Muhammad.
Sau khi người vợ đầu của Muhammad
là Khadija qua đời,
Abu Bakr đã gặp con gái của mình
Aisha cho Muhammad
trở thành bố vợ của nhà tiên tri.
Mối quan hệ thân tình giữa Abu Bakr
và Muhammad cùng với sự trung thành
tuyệt đối của ông đã mang lại cho Abu Bakr
uy tín lớn cho cộng đồng Hồi giáo
giúp ông trở thành lựa chọn lý tượng
cho vai trò người kế vị đầu tiên
của Muhammad.
Chính vì vậy, trong bối cảnh
các phe phái còn đấu tranh không ngừng,
Abu Bakr đã được chọn làm caliph đầu tiên
của Hồi giáo.
Trong thời gian cầm quyền ngắn ngùi,
ông đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo xuất sắc.
Chỉ trong chưa đầy một năm,
Abu Bakr đã dập tất các cuộc nổi loạn
của các bộ tộc và khéo léo hòa giải
những mâu thuẫn giữa các phe phái,
đưa người Ả Rập từ tình trạng chia rẽ
trở thành người đoàn kết dưới lã cờ Hồi giáo.
Lúc bây giờ,
bên ngoài bán đảo,
hai cường quốc lớn là Ba Tư và Byzantine
đã kiệt quể vì cuộc chiến kéo dài
giành vùng Trung Đông.
Tận dụng cơ hội này,
Abu Bakr đã lãnh đạo quân đội Ả Rập
đánh bại người Ba Tư,
giành lại khu vực Vịnh Ba Tư,
hoàn tất việc thống nhất toàn bộ bán đảo Ả Rập.
Đồng thời, ông phát động các cuộc chiến tranh
mở rộng lãnh thổ sang phía Bắc,
chiếm vùng dạy Gaza,
đặt bước chân đầu tiên của người Ả Rập ra khỏi bán đảo.
Tuy nhiên,
Abu Bakr chỉ tại vị 2 năm,
năm 634,
ông qua đời vì bệnh tật.
Sau cái chết của Abu Bakr,
Umar, một người khác,
cũng là cha vợ của Muhammad,
được bầu cử làm caliph thứ hai.
Umar xuất thân từ cùng bộ lạc Qisray
với Muhammad
và là một trong những tiến đồn đầu tiên
theo Hồi giáo.
Ông nổi tiếng với tài năng quân sự
và được coi là một trong hai trợ thủ vĩ đại
của nhà tiến tri cùng với Abu Bakr.
Chỉ Abu Bakr trong thời kỳ trị vị
đã chuẩn bị sẵn sàng để Umar kế vị,
giúp quá trình chuyển giao quyền lực
diễn ra xuân xẻ.
Sau khi lên nắm quyền,
Umar khởi sướng một cuộc chinh phục
quy bố lớn chưa từng có trong lịch sử Ả Rập.
Ông chiếp quân làm hai hướng,
đồng thời tấn công hai cường quốc lớn
là Byzantine và Batu.
Đến năm 642,
quân đội Ả Rập hoàn toàn đánh bại đế quốc Batu,
đánh dấu sự sụp đổ
của đế quốc Batu,
vốn tồn tại hơn 1.200 năm.
Trong khi đó,
ở phía Tây, một đội quân khác
đã tiến vào Ai Cập và chiếm được Cairo,
đưa toàn bộ vùng đất Ai Cập
vào lãnh thổ của nhà nước Hồi giáo.
Dưới sự lãnh đạo của Umar,
đế chế Hồi giáo mở rộng lãnh thổ
với tốc độ nhanh chóng bạt.
Tuy nhiên, vào sáng ngày 13 tháng 11
năm 644,
trong lúc đế chế đang ở đỉnh cao của sự bành trướng,
một sự kiện bi thảm đã xảy ra.
Umar bị ám sát
bởi một nô lệ người Batu
theo đạo thiên chúa.
Sau cái chết của Umar, Uthan,
con rể của Muhammad đã kế vị
trở thành Caliph thứ ba.
Uthan xuất thân từ một gia tộc
phản đối mạnh mẽ nhất việc Muhammad truyền đạo.
Tuy nhiên, bản thân Uthan
lại là một trong những tín đồ đầu tiên
của Muhammad.
Trong thời gian Muhammad bị đàn áp ở Mekka,
Uthan đã nhiều lần đứng ra bảo vệ ông
và còn lần lượt kết hôn
với 2 người con gái của Muhammad.
Khi liên làm Caliph,
Umar tiếp tục tiến hành
các cuộc chiến mở rộng lãnh thổ,
chinh phục nhiều vùng đất rộng lớn
ở Trung Á và Bắc Phi.
Tuy nhiên, công lao lớn nhất của ông
trong thời gian trị vị
chính là việc biên soạn Kinh Quran.
Umar đã tổ chức một nhóm học giả
để biên soạn lại tất cả các ký chép
tâm hợp thành Kinh Quran,
bao gồm các giáo lý cơ bản,
nghĩa vụ tôn giáo
và những quy tắc đạo đức
mà một tín đồ Hồi giáo cần tuân thủ.
Sau khi hoàn thành,
bản Quran này đã thay thế tất cả
các ký chép rời rạc trước đó
và trở thành thánh kinh duy nhất của Hồi giáo
cho đến ngày nay.
Tuy nhiên, trong thời gian cai trị,
Umar đã lạm dụng quyền lực
bồi nhiệm nhiều thành viên trong gia tộc Umay
và các vị trí quan trọng trong chính phủ và quân đội.
Nhiều người trong số họ
từng tham gia các hoạt động chống Hồi giáo
và thậm chí xác hại tín đồ Hồi giáo trong quá khứ.
Điều này dẫn đến sự phản đối kịch liệt
từ tầng lớp lãnh đạo Hồi giáo.
Bên cạnh đó,
Uthman bị cáo buộc đã chiếm đoạt lượng lớn đất đai
ở Anh Cập và Syria
đồng thời xây dựng thế lực cá nhân tại khu vực này.
Những chính sách và hành động của Uthman
đã dẫn đến sự hình thành
một phe đối lập trong cộng đồng Hồi giáo.
Phe này được gọi là Shia.
Cho rằng,
chỉ những hậu duệ trực tiếp của Muhammad
mới đủ tư cách trở thành Caliph.
Ngược lại, những người không đồng ý
với quan điểm này,
chủ yếu ủng hộ Uthman
và những Caliph không phải hậu duệ của Muhammad
được gọi là Sunni.
Sự chia rẽ này đã đánh dấu
bước đầu của sự phân ly trong Hồi giáo
thành hai nhánh lớn,
Shia và Sunni,
và mâu thuẫn giữa hai nhánh này
kéo dài suốt lịch sử,
thậm chí còn tồn tại cho đến ngày nay.
Trong thời gian Uthman cai trị,
các chính sách tàn bạo,
đặc biệt là đối với người không theo Hồi giáo,
đã làm gia tăng thêm bật mãn.
Cuối cùng, vào tháng 6 năm 656,
một nhóm người nổi dậy,
bao gồm cả những người không theo Hồi giáo,
đã xông vào nơi ở của Uthman
và ám sát ông.
Đây là một bước ngoặt quan trọng
làm sâu sắc thêm sự chia rẽ
trong cộng đồng Hồi giáo
và đầy đế chế Hồi giáo
vào những giai đoạn đầy biến động sau này.
Sau cái chết của Uthman,
Ali, lãnh đạo của phẹ Shia,
được bầu làm Caliph tiếp theo.
Để loại bỏ ảnh hưởng của gia tông Umay
tại Medina,
Ali đã chuyển thủ đô đến Kufa,
một thành phố thuộc Iraq,
và bổ nhiệm lại một loạt các thống đốc
và quan chức quân sự.
Mặc dù hành động này có lý do chính đáng,
nhưng nó đã gây tổn hại nghiêm trọng
đến quyền lợi của các quý tộc Ả Rập,
đặc biệt là gia tộc Umayyad.
Việc chuyển thủ đô
không chỉ làm suy yếu Umayyad,
mà còn làm lung lanh nền tảng quyền lực
của nhiều gia tộc quý tộc Ả Rập khác.
Vào năm thứ hai,
sau khi Ali lên ngồi,
Muwiyah, một thành viên
của gia tộc Umayyad,
đã tuyên bố không công nhận quyền cái trị của Ali,
khởi đầu cuộc lội chiến.
Năm 661,
Ali bị ám sát.
Sau cái chết của Ali,
đất nước rơi vào hỗn loạn.
Phe Syria tại Kufa đã bỏ quân trai cả
của Ali là Hassan làm Caliph mới.
Cùng lúc đó,
Muwiyah tại Syria
cũng tự xưng là Caliph,
tạo ra hai trung tâm quyền lực đối lập.
Muwiyah,
với tài năng chính trị xuất sắc,
đã sử dụng cả chiêu trò mua chuộc
và đe dọa quân sự
để ép Hassan thoái vị.
Hassan vốn không muốn chứng kiến
một cuộc đội chiến giữa các tín đồ Hồi giáo
đã lựa chọn nhường ngôi cho Muwiyah.
Với việc Hassan tự bỏ quyền lực,
Muwiyah chính thức thiết lập vương chiều Umayyad,
đặt thủ đô tại Damascus,
thu phủ của Syria.
Trong lịch sử,
chiều đại này còn được gọi là
đại sứ ao trắng,
do cơ trắng đặc trưng của họ.
Sự thoái vị của Hassan đánh dấu kết thúc
thời kỳ của bốn Caliph trinh thống
và mở ra kỳ nguyên đề chế Hồi giáo.
Trong những năm đầu của vương chiều Umayyad,
nội bộ bất ổn do sự bất mãn
khi Muwiyah chuyển ngôi cho con trai
Yahyid,
biến chế độ Caliph từ đầu trở thành tra truyền còn nối.
Điều này khiến phe Syria phản đối mạnh mẽ,
dẫn đến việc bầu chọn Hussein,
con trai của Ali,
làm Caliph mới.
Tuy nhiên, Hussein bị quân Umayyad phục kích
và từ trận tại Kabala.
Ngày ông qua đời,
trở thành lễ tưởng điệp Usuda hàng năm
của người Syria.
Lúc này, đế chế Umayyad đã trở thành
một cường quốc khổng lồ,
trải dài từ sông Ấn và ca nguyên Pamir
ở phía đông, đến vịnh Biscay,
trên đại Tây Dương ở phía tây,
từ vùng hạ lưu sông Đin ở phía nam
đến biển Caspi
và xa hơn ở phía bắc.
Với lãnh thổ bao trùm cả 3 chầu lục
Á, Phi và Âu,
Umayyad trở thành một đế chế
rộng lớn và hùng mạnh.
Vào thời kỳ đó, Umayyad
chia cư dân trong đế chế thành 4 cấp bậc chính.
Cấp cao nhất là người Ả Rập,
những người hưởng đặc quyền,
giàu có và nắm quyền lực cao nhất.
Cấp thứ 2 là các dân tộc bị
chinh phục nhưng đã cải sang Hồi giáo,
được gọi là Magwali.
Họ không được hưởng đặc quyền như người Ả Rập
nhưng được miện thuế.
Cấp thứ 3 là người không
theo Hồi giáo sống trong đế chế.
Umayyad không ép buộc họ
cải sang Hồi giáo nhưng họ phải
nộp thuế thân và thuế đất,
đồng thời bị cấm giữ các chức vụ quan trọng.
Cấp thấp nhất là nô lệ,
chủ yếu là tù binh chiến tranh.
Họ phải chịu đựng khối lượng công việc nặng nề,
gánh vác phần lớn các loại thuế
và không có bất kỳ địa vị chính trị nào.
Vào giai đoạn cuối
của triều đại Umayyad,
một số Caliph sống trong Sawa và Phung Phí.
Để duy trì lối sống này,
họ đã gia tăng bóc lột
người không theo Hồi giáo và nô lệ.
Điều này gây ra sự bất mãn sâu sắc
trong cộng đồng Hồi giáo đã cải đảo.
Năm 747,
một người Ba Tư thuộc tầng lớp thứ 2
tiên là Abu Muslim
đã khởi nghĩa ở phía đông Ba Tư
lấy câu hiệu giảm thuế để thu hút dân chúng.
Cuộc nội dị này được gọi là khởi nghĩa Khorasan,
thu hút sự tham gia
của các tầng lớp khác nhau
từ quý tộc, nông dân đến nô lệ.
Lực lượng khởi nghĩa nhanh chóng lớn mạnh.
Cùng lúc đó,
Faisiyah, vốn chưa bao giờ công nhận
quyền cai trị của Umayyad,
đã biến Kufa thành căn cứ
và tích cực tuyên truyền tại các vùng như
Iraq, Ba Tư và Ai Cập.
Nhiều tín đồ bất mãn về Umayyad
đã quay sang ủ hộ họ.
Trong số các đối thủ của Umayyad,
một phe khác nổi lên mạnh mẽ
là nhánh Abbasid.
Lãnh đạo của họ là Abu al-Bashar,
là cháu đời thứ tư
bên chú của Muhammad.
Abu al-Bashar khẳng định rằng
mình thuộc dòng dõi Hashim
và cáo buộc gia tộc Umayyad
đã cấp đoạt quyền Caliph.
Ông tuyên bố rằng vị trí Caliph
nên thuộc về một thành viên trong gia tộc Hashim,
đồng thời tư nhận mình
là người cứu tinh của Hồi giáo.
Mặc dù Abu al-Bashar
không phải hậu duệ trực tiếp của Muhammad,
nhưng mối quan hệ họ hàng xa này
vẫn khiến ông nhận được
nhiều sự ủng hộ từ Faisiyah.
Những người luôn tin rằng
chỉ có hậu duệ của Muhammad
mới có quyền kế vị Caliph.
Với sự ủng hộ của Kasiyah
và các tầng lớp bất mãn khác,
nhánh Abbasid trở thành một lực lượng đáng gồm
sẵn sàng thách thức chiều đài Umayyad.
Sau đó,
quân khởi nghĩa tại Batu đã tuyên thệ trung thành
với Abu al-Bashar,
trở thành lực lượng quân sự quan trọng
cho cuộc chiến chống lại chiều đài Umayyad.
Năm 750,
quân khởi nghĩa tiến quân thần tốc
chiếm giữ nhiều thành phố quan trọng
cuối cùng đến được thủ đô Damascus
của Umayyad.
Không lâu sau, Caliph cuối cùng
của chiều đài Umayyad,
Mawwan II bị bắt và sử tử.
Với chiến thắng này,
Abu al-Bashar đã lật đổ chiều đài Umayyad
trở thành Caliph mới
và sáng lập chiều đài Abbasid,
chiều đài thứ hai của đế chế Ả Rập.
Vì cờ hiệu của Abbasid mang màu đen,
trong sách sử,
chiều đài này được gọi là đại sử áo đen.
Ngay sau khi lên ngồi,
Abu al-Bashar giao lệnh thảm sát
toàn bộ gia tục Umayyad.
Chỉ có duy nhất một thành viên sống sót
là Abd al-Rahman,
người đã chạy trốn sang Tây Ban Nha
và thành lập chiều đài hậu Umayyad tại đây.
Abu al-Bashar tự hào
với hành động tiêu diệt toàn bộ dòng họ
Umayyad và tự xưng
là al-Saffah, nghĩa là kẻ đồ tể,
nhằm thể hiện phong cách
cai trị cưng rắn của mình.
Năm thứ hai sau khi Abu al-Bashar
lên ngồi, quân đội của đế chế Ả Rập
đối đầu với quân đội nhà đường
của Trung Quốc tại cao nguyên Pamir
tại trận Talas.
Quân đội nhà đường thất bại
và một số lượng lớn thợ thủ công của nhà đường
bị bắt làm tù binh.
Trong đó có những người nắm giữ kỹ thuật sản xuất giấy
vốn bị cấm xuất khẩu.
Chính nhờ sự kiện này,
kỹ thuật làm giấy của Trung Quốc đã không còn là độc quyền.
Nó được truyền bá sang thế giới Hồi giáo
và sau đó là đến châu Âu.
Abu al-Bashar
chỉ trị vì trong 4 năm
sau đó qua đời vì bệnh động mùa
ở tuổi hơn 30.
Em trai ông Al-Mansur
lên ngôi kế vị và trở thành
một trong những clip quan trọng nhất
của triều đại Al-Bashir.
Al-Mansur thực sự là một nhà cai trị sắt đá.
Ông đã dùng mọi biện pháp tàn bạo
để tiêu diệt các lực lượng đối lập.
Ông không chỉ giết Abu Muslim,
lãnh tù của quân khởi nghĩa Khorasan,
mà còn đàn áp dã man
những người Sia từng là đồng minh
của Al-Bashir.
Ngoài ra, ông cũng tìm cách loại bỏ
nhiều công thần khải quốc để củng cố quyền lực.
Dù cai trị bằng bàn tay sắt,
nhưng Al-Mansur đã thành công
trong việc ổn định đội bộ đề chế.
Nhờ vậy, trong một thời gian dài,
đất nước duy trì được hòa bình và trật tử.
Một trong những thành tựu
vĩ đại nhất của Al-Mansur
là xây dựng thành phố Baghdad ở vùng đất Iraq.
Thành phố này được thiết kế
theo mô hình vòng tròn đồng tâm
với nhà thờ Hồi giáo ở trung tâm.
Bao quanh trung tâm là ba lớp tường thành
tạo thành các vòng tròn điều nhau.
Baghdad được trang trí đầy đủ
cơ sở hạ tầng hiện đại và xã hóa.
Vị trí của Baghdad vô cùng thuận lợi,
nằm gần hai con sông lớn
là Tigit và Euphrates,
trở thành trung tâm giao thương
giữa Đông và Tây.
Sau khi hoàn thành, Baghdad nhanh chóng phát triển
thành trung tâm thương mại quốc tế,
sánh ngang với các thủ đô lớn
như Trường An của nhà đường,
Constantinople của Benjamin
Constantin và Cordoba
của triều đại hậu Umayyad ở Tây Ban Nha.
Đây là bốn đô thị quốc tế
hàng đầu từ bấy giờ.
Al-Mansur chi vi trong 20 năm
và qua đời vào năm 775
khi đang hành hương đến Mekka.
Sau đó, hậu ruê của ông kế vị,
triều đại Al-Basid
bắt đầu bước vào giai đoạn Hoàng Kim,
đặc biệt dưới thời Caliph thứ 5
Harun al-Rashid
và Caliph thứ 7 al-Mamun.
Dưới thời Harun al-Rashid,
triều đại Al-Basid đạt đến
đỉnh cao về quân sự.
Trong hơn 20 năm trị vị, Harun đã nhiều lần
phát động các cuộc tấn công vào Constantinople,
thủ đô của Benjamin,
buộc địa chế này phải ký hiệp ước bất lợi.
Harun thậm chí còn yêu cầu
một cách xỉ nhục rằng
Byzantine phải nộp thuế thân
cho các thành viên hoàng tộc.
Đến mức, ngách của Hoàng đế Byzantine
cũng phải nộp thuế cho Al-Basid,
một dấu mốc thể hiện rõ quyền lực tối thượng
của triều đại Al-Basid trong thời kỳ này.
Dưới thời Caliph Al-Mamun,
đế chế Al-Basid tiếp tục đạt
đỉnh cao về văn hóa và học thuật.
Al-Mamun là một vị vua
rất đam mê khoa học và văn hóa.
Trong thời gian trị vị,
ông khởi sướng phong trào dịch thuật
kéo dài cả thế kỷ.
Ông đã cho dịch các tác phẩm học thuật
từ Hy Lạp, La Mã, Ba Tư
và Ấn Độ sang tiếng Ả Rập
để hấp thụ những trí thức tiên tiến
từ khắp nơi trên thế giới.
Al-Mamun còn xây dựng một trung tâm
nghiên cứu lớn ở Baghdad
mang tên Nhà Trí Thức, Bay Al-Hikma.
Ông cho tập hợp
và lưu giữ hàng nghìn tài liệu văn hóa
và học thuật từ khắp nơi trên thế giới tại đây.
Đồng thời, ông mời các học giả
từ nhiều quốc gia, dân tộc
và tôn giáo khác nhau đến để
làm việc tại trung tâm.
Nhờ vậy, cả đế chế Al-Basid
tràn ngập tinh thần học thuật
và sự phát triển vượt bậc trong văn hóa.
Tuy nhiên, thời kỳ Hoàng Kim này
chỉ kéo dài đến khi Al-Mamun
qua đời vào năm 833.
Sau đó, em trai ông
là Al-Mutasim kế vị.
Và đây cũng là khởi đầu cho sự suy tàn
của triều đại Al-Basid.
Mẹ của Al-Mutasim
là một nôn lệ người Thổ Nhĩ Kỳ
và nhờ mối liên hệ này,
ông đã tuyển chọn hàng nghìn người Thổ Nhĩ Kỳ
để thành lập một đội cân vệ riêng bảo vệ Hoàng Cung.
Động thái này xuất phát
từ mục đích chính trị.
Trước đó, triều đại Al-Basid
dơ vào quân đội Ba Tư để xây dựng quyền lực.
Khiến người Ba Tư giữ vai trò quan trọng
trong quân đội và chính quyền.
Để giảm ảnh hưởng của người Ba Tư,
Al-Mutasim trao quyền lực
cho những người Thổ Nhĩ Kỳ.
Một tầng lớp không có nền tảng chính trị lớn
vào thời điểm đó.
Tuy nhiên, khi được Al-Mutasim nâng đỡ,
người Thổ Nhĩ Kỳ nhanh chóng có được vị thế
cao hơn trong đế chế.
Sự gia tăng quyền lực này
khiến họ trở nên ngạo mạn và lạm quyền.
Để giải quyết mâu thuật này,
vào năm 836, Caliph Al-Mutasim
quyết định rời thủ đô
từ Baghdad đến Samara.
Từ bỏ cơ sở chính trị
mà gia tộc Al-Mutasim đã xây dựng và duy trì
gần một thế kỷ.
Tuy nhiên, tại Samara,
do không có lực lượng nào có thể kiểm soát
và đối trọng với đội cân vệ của Thổ Nhĩ Kỳ,
quyền lực của người Thổ Nhĩ Kỳ
ngày càng tăng.
Các Caliph Al-Mutasim dần trở thành bù nhìn
dưới sự kiểm soát của các chỉ huy Thổ Nhĩ Kỳ.
Khi các Caliph mất quyền kiểm soát đế chế,
các khu vực từng bị Ả Rập trinh phục,
lần lượt tuyên bố độc lập
và đề chế Al-Mutasim dần bị chiếc cắt.
Trong số các chính quyền độc lập
sau sự suy tan của Al-Mutasim,
nhà Bujid
do Ahmad in-Bujay
thành lập tại thành phố Ba-Tư
đã chiếm được Baghdad và thiết lập quyền kiểm soát.
Từ đó, về mặt chính danh,
triều đài Al-Mutasim kết thúc.
Tuy nhiên, Ahmad không tự xưng là Caliph,
mà tiếp tục dựng Caliph Al-Mutasim
làm lãnh tụ tinh thần của Hồi giáo.
Dù thực chất Caliph lúc này
chỉ là Bujid không có thực quyền.
Nhà Bujid tồn tại hơn một thời kỳ
cho đến năm 1055,
khi người Seojuk Thổ Nhĩ Kỳ
tấn công Baghdad,
lất đội nhà Bujid
và thành lập đề chế Seojuk.
Dưới sự cai trị của Seojuk,
Caliph tiếp tục giữ vai trò Bujid.
Thủ lĩnh Seojuk, Tut Greenback
được Caliph phong danh hiệu Sultan.
Vào cuối thời kỳ của đề chế Seojuk,
chính trị ngày càng thảm nhũng,
các khu vực trong đề chế
lần lượt tuyên bố độc lập.
Cùng lúc đó, từ châu Âu,
các cuộc thập tự trình của cơ độc giáo
được phát động, khiến đề chế Seojuk
lâm vào tình thế nội loạn và ngoại xâm.
Năm 1218,
quân đội Mông Cổ do Thành Cát Từ Hãn
chỉ huy đã bắt đầu cuộc Tây Trinh đầu tiên,
dẫn đến sự diệt vong của đề chế Seojuk.
Đến năm 1251,
trong cuộc Tây Trinh thứ ba,
cháu nội Thành Cát Từ Hãn
là Hụng Liệt Ngột,
chỉ huy quân Mông Cổ tiến vào Bắt Đa.
Quân Mông Cổ tiến hành
một cuộc tan sát đẫm máu tại Bắt Đa,
khiến hàng trăm nghìn cư dân thành phố bị diết.
Cả lịp cuối cùng,
An-Mutasi bị bắt và bị hành quyết
bằng cách cuốn trong một tấm thảm
để ngựa dẫm đạp đến chết.
Sự kiện này đánh dấu chấm dứt triều đài An-Basit
tồn tại hơn 500 năm
và kết thúc đề chế Ả Rập.
Dù đề chế Ả Rập đã sụp đổ,
nhưng Hội giáo vẫn tồn tại
và bắt đầu lan rộng vào khu vực Đông Á
nhờ vào sự bao phủ
của đề chế Mông Cổ rộng lớn.
Là một tôn giáo của nhiều dân tộc,
Hội giáo tiếp tục phát triển
và họa nhập vào các nền văn hóa khác nhau.
Từ giữa thế kỷ 18,
nhân dân các quốc gia trong thế giới Hội giáo
nhiều lần tiến hành các cuộc đầu tranh
đòi độc lập dân tộc.
Đặc biệt, sau Chiến tranh Thế giới Thứ Hai,
các quốc gia Hội giáo lần lượt giành độc lập,
từng bước định hình nên cuộc diện
Hội giáo dù đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử,
vẫn khẳng định vị thế của mình
là một trong những tôn giáo lớn nhất
và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trên thế giới.
Với hơn một tỷ tín đồ
trên khắp các châu lục,
Hội giáo không chỉ là niềm tin tâm linh
mà còn là nguồn cảm hứng văn hóa,
chi thức và giá trị đạo đức cho nhân loại.
Trải qua những thử thách và biến đổng
từ thời kỳ hình thành Tây Bán Đạo Ả Rập
đến việc lan rộng khắp thế giới,
Hội giáo đã chứng minh
những sức mạnh đoàn kết, sự kiên trì
và khả năng thích nghi của mình.
Ngày nay, Hội giáo không chỉ giữ vai trò
là câu nối giữa các nền văn hóa
mà còn là một phần không thể thiếu
trong bức tranh đa dạng của nhân loại.
Tiếp tục lan tỏa ánh sáng
của hòa bình, lòng nhân ái
và sự thấu hiểu trên toàn cầu.
Bạn nghĩ thế nào về tôn giáo này?
Hãy để lại ý kiến bên dưới phần bình luận nhé!
Bấm đăng ký kênh và bật chung thông báo
để không bỏ lỡ video mới nhất trên kênh nhé!
Còn bây giờ,
Quang Thiên xin chào và hẹn gặp lại!
