Hưởng Lạc Thú Là Bản Chất Của Mật Tông? | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Mật Tông Tây Tạng là một loại tà giáo. Mật Tông Tây Tạng thể hiện sự suy đổi của người tu hành.
Mật Tông Tây Tạng là biểu hiện của thời mạc Pháp.
Đây có lẽ là một chủ đề gây tranh cãi nhất khi chúng ta nhắc đến Phật giáo Mật Tông.
Và có lẽ chúng ta nên cùng một lần giải đáp tất cả những nghi vật đó trong video ngày hôm nay.
Bản chất thật sự của Phật giáo Mật Tông Tây Tạng là gì?
Mật Tông là một trong những tông phái của Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 7,
rồi sau đó được truyền bản sang Trung Hoa, Nhật Bản, và đặc biệt là phát triển mạnh mẽ ở Tây Tạng.
Ở Tây Tạng, Mật Tông còn được gọi là Kim Cương Thừa.
Kim Cương Thừa được coi là một con đường thẳng dốc đứng để đi lên đỉnh núi.
Điều đó vừa nói lên tính siêu Việt, đồng thời cũng nói lên sự khó khăn và nguy hiểm của con đường lối tu Mật giáo.
Trong các kinh đại thừa, có nhiều bộ kinh lồng vào những thần chú Dalani,
như là để khai triển ý nghĩa sâu thẳm của tâm linh, quả trứng, hay ý lực chứa Phật, Bồ Tát.
Có lẽ đây là cơ sở để Mật giáo phát triển về sau.
Lịch sử phát triển của Mật Tông đôi khi có những xu hướng lịch lạc ra ngoài quỹ đạo hướng đến giải thoát theo lý tưởng của Đạo Phật.
Bởi có sự biểu hiện về phú phép, tà thuật làm cho uy tín của Mật giáo bị tổn thương nặng nề.
Ngày nay, với sự nỗ lực truyền báo Mật giáo hay Kim Cương Thừa của các bậc đại sứ Tây Tạng
đã làm sáng tỏ ý nghĩa đích thực của Tông Phái này.
Theo đó, Kim Cương Thừa làm con đường giải thoát đặc biệt của nền Phật giáo tiên tiến.
Vai trò của Mật Tông là truyền hóa tất cả lạc thú thành kinh nghiệm siêu Việt có tình giác chạy bén sâu xa.
Thay vì khuyên ta tránh xa lạc thú thề tục như nhiều truyền thống tôn giáo khác,
Mật Tông nhấn mạnh rằng tốt hơn con người ta cứ nên hưởng lạc tự nhiên
nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường nhanh chóng, hiệu nghiệp, đưa đến sự tỏ ý và giác ngộ hoàn toàn.
Đây là cách thiện xạo nhất để sử dụng tiềm năng con người quý báu của chúng ta.
Qua phương pháp truyền hóa sâu xa, Mật Tông chứng minh rằng
Con người vốn có khả năng thưởng thức hạnh phúc vô hẳn
mà đồng thời thoát khỏi những mê vọng vốn bị nhiễm độc lạc thú.
Trái với những gì một số người có thể tưởng, vui thú khoái lạc chẳng có gì là sai quấy.
Điều sai quấy là cái cách ngu si ta bàm víu vào lạc thú,
biến nó tương nguồn vùi, trở thành nguyên nhân của cái khổ đau, bất hạnh.
Khoái lạc tựa chúng không phải là vấn đề, mà vấn đề chính là sự bàm víu chấp thủ vào cái khoái lạc.
Bởi thế, nếu có thể thoát ly thói quen bàm víu,
thì ta có thể tha hồ vui thú mà vẫn được giải thoát khỏi sinh tư luân hồi.
Nếu hiểu đúng nghĩa sự chuyển hóa, thì bất cứ gì ta làm trong một ngày 24h
đều có thể mang ta tiến gần hơn đến với mục tiêu giác ngộ.
Tất cả mọi hành động của ta như đi bộ, ăn uống và ngay cả tiểu tiện
đều có thể đưa ta vào con đường tu tập.
Ngay cả giấc ngủ của chúng ta, thông thường chỉ là bóng đen của vô thức
hay sự hỗn màng của mộng mỉ,
cũng có thể được chuyển hóa thành kinh nghiệm quan sát của trí giác ví tế sâu xa.
Có lẽ những điều trên đây nghe thật vô lý.
Tất nhiên, những phương pháp tu hành theo kinh điện trong Đạo Phật đều nhấn mạnh rằng
những vọng tượng như hàm muốn, gành tị trong đời sống hàng ngày của ta
luôn luôn là xấu, cần xem như chất độc.
Chúng ta luôn được nhắc nhở về những hậu quả nguy hiểm của chúng
và được chỉ dẫn phải tránh ra chúng càng xa càng tốt.
Nhưng như trên đã nói, Bật Tông lại đi theo lối khác.
Mặc dù cũng nhấn mạnh tham ái chấp thủ là nguồn gốc khổ đau bất mãn,
nhưng Bật Tông lại dạy một phương pháp thiện xảo
là sử dụng năng lượng của chính những vọng tượng ấy
để đạo sự thức tịnh trong ta, thúc nhanh tiến trình tu tập.
Như Lương Y, có thể lấy cây đồng để chế thuốc.
Cũng vậy, hành giả Bật Tông thiện xảo
có thể sử dụng năng lượng của Tham Sơn Si như một cách có lợi.
Vậy, điều này có thật sự khả thi.
Bật Tông không những dạy ta tận dụng những kinh nghiệm khoái lạc của Thường Nhật
mà còn chỉ cho ta làm thế nào để khởi động một kinh nghiệm lạc thu sâu xa đông đàn hơn,
đem lại thỏa mãn nhiều hơn là những khoái lạc mà giắc quan thông thường có thể đem lại.
Hiện tại, mỗi khi đi tìm khoái lạc,
chúng ta thường chỉ đến những đối tượng bên ngoài mà ta hàm muốn.
Khi không thể tìm được hay không nắm giữ được đối tượng
thì ta đâm giá bất mãn, sầu khổ.
Ví dụ, nhiều người đang đi tìm người yêu trong bộng tượng của mình.
Một cái nào có thể làm suối nguồn hạnh phúc bất tận.
Nhưng dù có sưu tập nhiều bồ bịch đến đâu,
họ cũng không bao giờ thực hiện được giấc mộng về người yêu lý tưởng.
Cái điều ta không nhận ra là
trong mỗi con người chúng ta đều sẵn một suối nguồn vô biên,
đầy đủ năng lượng thuộc nam tính và nữ tính.
Bao nhiêu vấn đề rắc rối xảy đến cho chúng ta
chỉ vì chúng ta không biết đến
hoặc chúng ta đè nén những gì đã có sẵn trong mình.
Đàn ông cố che giấu khía cạnh nữ tính của nơi mình,
còn phụ nữ thì lại sợ bộc lộ năng lượng nam tính trong họ.
Kết quả là ta luôn luôn cảm thấy
mình bị tách rời khỏi một cái gì đó mà mình rất cần đến.
Ta thấy mình không còn nguyện vẹn
và do đó ta quay sang người khác,
mong tìm những đức tính mà ta không có
để có được cảm giác toàn vẹn.
Do vậy,
nhiều lối hạch sự của ta bị nhiệm tính bất an, chiếm hiệu.
Đúng vậy,
tất cả vấn đề trên thế giới,
từ nỗi lo của một cá nhân
cho đến chiến tranh giữa các quốc gia
đều có thể nói là bắt nguồn từ cảm giác thiêu thố này.
Khi cần,
những thiền giá vĩ đại
có thể sống bên lập hàng nhiều năm
mà không cảm thấy cô đơn.
Vậy mà chúng ta có thể cảm thấy vô cùng khó chịu
nếu phải xa người bạn gái hay bạn trai của mình
dù chỉ một ngày.
Tại sao có sự khác biệt lớn lao ấy
giữa chúng ta và thiền giá?
Điều này có quan hệ đến những năng lượng nam tính
và nữ tính trong ta.
Khi những năng lượng này còn mất cân bằng,
bị phân chia mánh bốn,
thì chúng ta vẫn mãi khắc khao hội tụ với người khác
và không bao giờ được thỏa mãn.
Nhưng nếu năng lượng âm dương bên trong ta được đầy đủ,
thì không bao giờ ta cảm thấy cô đơn.
Mật Tông cũng ứng như phương pháp thần diệu
để tiếp xúc tính toàn vẹn nguyên thủy trong ta.
Nghệ thuật Mật Tông
có đầy những biểu tượng hợp nhất và toàn vẹn,
diễn tả tiềm năng của ta đều đạt đến viên mãn.
Những hình ảnh chư thần giao hợp
mà một số người nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng
cho là dấu hiệu suy đổi.
Kỳ thực là một biểu tượng của sự hợp nhất
giữa năng lượng âm và dương trong mỗi con người.
Ở bình diện sâu xa hơn,
sự giao hợp của họ
còn biểu trưng mục đích của pháp hành trí cao nhất trong Mật Tông
là phát sinh Đại Lạc vĩ tế nhất,
một tâm trạng vô cùng thích hợp
để thâm nhập thực tại tuyệt đối,
giải thoát ta vĩ viện khỏi đau khổ, mê mở.
Ở bình diện này,
nan thần tượng trưng cho Đại Lạc
và nữ thần là trí bất nhỉ.
Tuy ra, sự giao hợp của họ
hoàn toàn không dính lưu đến chuyện thoảng bản giác quan
mà ám chỉ trạng thái trí tuệ đầy hí lạc toàn vẹn
vật ngoài hàm muốn giác quan thường tình.
Với những người đã thuần thuộc,
chỉ cần chiêm ngưỡng hình tượng ấy
cũng đủ giúp họ phục hồi sự liên lạc
giữa hai năng lượng âm dương trong bản thể.
Nhưng muốn tái lập lại mối liên lạc ấy,
điều tôi cần
là phải đoạn tuyệt ảnh hưởng của cái tâm phân biệt nhị nguyên.
Vì chính tâm phân biệt này
đã khiến ta trở thành xa lạ với thức thể sâu xa trong mình.
Chính vì vậy mà những biểu tượng và hình ảnh
sử dụng trong mật tông
có thể là hữu hiệu hơn danh từ xuống
để đưa ta đi vào bản chất nguyền thủy.
Có bốn loại trình độ mật điện phật giáo mật tông.
Một là mật điện thiên về hành động.
Hai là mật điện thiên về tư duy.
Ba là mật điện du da.
Và cuối cùng là tối thượng du da.
Mỗi hạng dành cho một loại hành da đặc biệt.
Và mỗi điều kiện khác biệt giữa hạng này và hạng kia
là mức độ năng lượng 24 mà hành da có đủ thiện xảo
để hướng nó vào con đường tu tầm.
Theo truyền thống,
những trình độ khác nhau về năng lượng lạc thú
được ví dụ với mức thân mật tính dục trong quan hệ nam nữ.
Hành da mật tông bậc hạ
có thể sử dụng để chuyển hóa năng lượng lạc khởi lên
nơi một người lúc nhìn người yêu.
Ở mức độ thứ hai,
năng lượng trao nhau đụng cười có thể được chuyển hóa.
Ở mức độ ba,
năng lượng cầm tay nhau được sử dụng để chuyển hóa.
Trong khi hành da thuộc mật điện tối thượng du da
thì có được cái thiện xảo
để hướng ngay cả năng lượng của sự giao hợp tính dục
và con đường tu tầm.
Hình ảnh vô cùng mạnh liệt này
cho ta một khái niệm về tầm mức càng ngày càng tăng
của cái năng lượng có thể chuyển hóa
do thực hành mật tông.
Một câu hỏi thực tế là
làm thế nào kỹ thuật chuyển hóa mật tông
được vận hành có hiệu quả cho mỗi người?
Nói rằng mật tông xem hàm muốn là con đường đến giác ngộ
chẳng có ý nghĩa gì lắm.
Điều quan trọng là
sau khi quan sát kỹ khả năng và kinh nghiệm của chính mình
phải tìm cách xác định trong hiện tại
ta xử lý cái năng lượng hàm muốn của mình như thế nào.
Ta phải tự hỏi mình
có thể quản lý được bao nhiêu lạc thú giác quan
mà không trở thành điên giải.
Một trong những chấn ngại lớn nhất
trong việc tu hành là sự kiêu căng hậm hĩnh.
Mối nguy này thực sự lớn lao
trong sự thực hành mật tông.
Khi nghe nói mật tông sử dụng ngay dục vọng để tu
ta có thể tưởng mình
chỉ việc tự nhiên lăn xả vào những thèm khát bất trị
hoặc gia tăng số lượng hàm muốn có sẵn.
Thế là ta đã có một hành giả chân chính.
Một số người quả có thái độ như vậy
thực hoàn toàn sai lầm.
Ta không bao giờ nên quên rằng
nếu ngụp lặn trong dục vọng
và đồng nghĩa với hành trình mật tông
thì tất cả chúng ta đã trở thành
những hành giả mật tông tối thường.
Mặc dù đời chúng ta đầy dậy
những hàm muốn đủ thứ không bao giờ được thỏa mãn
điều duy nhất ta có được
là sự bất mãn ngày càng tăng.
Tại sao ra cơ sự ấy?
Tại sao những hàm muốn của ta
luôn dẫn đến bất mãn và tuyệt vọng?
Nếu không hiểu được điều này
thì tất cả cuộc nói chuyện
về sử dụng hàm muốn
làm con đường giác ngộ
chỉ là chuyện đùa.
Khi hàm muốn một đối tượng
nhận thức của ta về đối tượng ấy
thường bị méo mó vì đam mê.
Ví dụ rõ nhất là hàm muốn thuộc tính dục.
Thứ xét trường hợp
một người đàn ông đang say đắm một người phụ nữ
dù nhân sắc người phụ nữ ấy
không đến nỗi chim xa cả lặn
nhưng anh chàng kia vì dục vọng
đã phóng đại sắc đẹp cô nàng
một cách lỗ bịch.
Càng bị ám ảnh bởi lòng hàm muốn
thì lý trí tưởng tượng của anh ta
về cô nàng càng xá thực tế
như chúng ta thường ví von rằng
vẻ đẹp nằm trong ánh mắt
của kẻ si tính.
Cuối cùng, hình ảnh ấy đi đến chỗ
không còn ăn nhập gì đến sự thực.
Khi ấy, thay vì bị lôi cuốn
bởi bản thân người phụ nữ
anh ta lại say mê cái hình bóng của nàng
do chính anh ta tạo nên.
Huynh hương phong chiếu và khuếch đại này
không riêng một nền văn hóa nào
đấy là một hiện tượng phổ quan trong vũ trụ.
Khi hai người nhìn nhau
bằng con mắt của hàm muốn quá trớn
thì người này vẽ ra một câu chuyện
thần kỳ về người kia.
Ôi đẹp khôn tả, từ trong ra ngoài
không chỗ nào chê được.
Họ thuần dựng lên một huyền thoại
về đối tượng bị tôn thờ.
Do si mê và sục vọng
người này trở nên mù quáng
trước những điểm xấu của người kia
còn những điểm tốt thì lại thổi phồng quá mức.
Sự quá đáng này
chính là kiểu giải thích mê tín dị đoan
sự phóng chiếu của một cái tâm
bị mờ ám vì sục vọng.
Có thể nói, trong mọi hàm muốn
thông thường của chúng ta đều có ít
nhiều khuyên hướng thổi phồng này.
Chúng ta nói quá lên về giá trị
của bất cứ thứ gì mình thích
và hoàn toàn không thấy được bản chất thực sự của nó.
Ta đã quyên rằng
cái đối tượng hàm mê của ta
dù đấy là người hai vật
đang thay đổi không ngừng, cũng như chính chúng ta
đang thay đổi.
Ta làm như thế cái đối tượng ấy sẽ mãi mãi đẹp đẽ
sẽ luôn đem lại cho ta một niềm vui vĩnh cửu
thỏa mãn lâu dài.
Một quan niệm về trường tồn như thế
dĩ nhiên hoàn toàn bất liên lạc với hiện thực
và khi bám ví vào nó
là ta chỉ có nước sẵn sàng
rước lấy thất vọng ế chế.
Nếu ai hỏi
bạn có nghĩ người bạn trai
hay bạn gái hay chiếc xe mới
hay bất cứ thứ gì của bạn
sẽ trường tồn và mãi mãi đẹp như thế không?
Ngay lập tức
ta sẽ trả lời rằng dĩ nhiên là không.
Chúng ta đã qua quen thuộc
với sự thay đổi, tàn tạ,
giả chết nên khó mà trả lời
theo cách khác.
Nhưng với phần đồng, cái biết này
chỉ là trí thức xuống.
Đó là một ý tưởng ta biết bằng óc não
nhưng tim ta chưa thực chứng.
Nếu kiểm soát lại thái độ sâu xa tự tâm khảm
đối với những gì mình ưa thích
ta sẽ khám phá ra rằng
sự bám ví vào trường tồn vẫn ở lì
trong đó, không mãi mãi thay đổi.
Mặc dù trên bình diện trí thức
ta có thể hiểu biết rất nhiều
về tiến trình thay đổi.
Hãy nhìn cách ta hồi hộp ra sao
mỗi khi vướng vào hàm muốn mạnh liệt
đối với người nào hay vật gì.
Ta có bị giao động nhiều điều thế không?
Nếu ta không có những mong mỏi thiếu thực tế
đừng hiểu sai chỗ này.
Tôi không cố khắt khe bảo
mọi người rằng ý tưởng của ta đều nông can
hay mọi phản ứng cảm xúc của ta
đều méo mò.
Tôi chỉ cố khám phá một tình trạng
mà mọi người khắp nơi đều đã thân chứng
đó là
mặc dù những hàm muốn của ta cốt yếu
là để đem lại cho ta hạnh phúc
sau chúng ta vẫn mãi hoài bất mãn
vì những ước mơ không toài.
Nếu ta không hiểu lý do điều này
thì bao nhiêu hy vọng sử dụng hàm muốn
để đạt đến phúc lạc viên mãn của giác ngộ
sẽ phải tiêu tan.
Vậy, lỗi tại chỗ nào?
Ai hay cái gì
phải chịu trách nhiệm về nỗi thất bại
triệt miên của ta
trong việc cảm thủ hạnh phúc an bình
mà ta hàng tìm kiếm một cách vô vọng.
Để trả lời cho câu hỏi này
ta hãy nhìn kỹ lại một lần nữa
cách kiểu vận hành của hàm muốn
thông thường trong ta.
Vì cảm thấy mình chưa toàn vẹn
bất an và không thỏa
ta tìm kiếm bên ngoài
để có được một người hay một vật gì đó
có thể khiến ta cảm thấy toàn vẹn
đầy đủ.
Ta thường suy nghĩ một cách hữu thức hoặc vô thức như sau
Nếu tôi có được điều này
điều kia
thì tôi sẽ sung sướng.
Được thúc đẩy bởi tư tưởng ấy
chúng ta cố chiếm hiểu bất cứ đối tượng nào
có triển vọng thỏa mãn hàm muốn ta nhất.
Trong quá trình ấy
ta biến đối tượng thành một thần tượng
đánh giá quá mức những khía cạnh tốt của nó
đến nỗi
nó không còn gì giống với bản chất thực sự của nó nữa.
Trong nỗ lực để đạt được
đối tượng hàm muốn mà ta đánh giá quá mức ấy
ta có thể thành công
hoặc không.
Nếu sau bao nhiêu cố gắng mà ta không thành công
đối tượng hàm muốn
vẫn ở ngoài tầm tay ta
thì dĩ nhiên ta bị thất vọng.
Càng hàm muốn đối tượng bao nhiêu
ta càng sấu khổ bấy nhiều
vì không chiếm hiểu được nó.
Nhưng nếu ta thành công
có được điều ta mong mỏi thì sao?
Điều ta gặp được
và điều ta mong mỏi gặp được
hóa ra lại là 2 chuyện khác nhau.
Vì những gì ta có được
không phải là hình ảnh từ lâu ta mơ ước
giải pháp toàn vẹn vĩnh cửu
cho những vấn đề của ta
mà chỉ là một cái gì cũng bất toàn
vô thường như chính ta.
Người hay vật mà ta có được ấy
quả đem lại cho ta một lạc thú nhất thời
nhưng không bao giờ đáp ứng đúng những kỳ vọng
ta đã đặt vào nó.
Bởi thế, sớm muộn gì
ta cũng cảm thấy bị đánh lửa
và đầm ra não nề tuyệt vọng.
Bây giờ, hãy trở lại với câu hỏi trên kia.
Ta phải trách cứ ai
về nỗi bất hạnh của mình?
Thông thường một cách phi lý
ta sẽ đổ thừa cho đối tượng hám muốn
nếu nàng dễ coi hơn một chút
nếu anh ấy đối xử tốt với tôi hơn
nếu chiếc xe ấy chạy nhanh hơn
mới hơn
nếu được như thế hoặc thế kia
Ta luôn suy luận nước đồi như vậy
mỗi khi thất vọng
về cái ta có trong hiện tại
và tự hỏi
có cách nào thay thế nó bằng một thứ gì
sẽ đảm bảo đem lại cho ta một cái hạnh phúc
mà ta ước mơ
Điều kế tiếp ta biết được là
ta lại đang đi tìm một người vợ mới
hay chồng mới hay xe mới
đặt hết hy vọng vào đối tượng mới này
nhưng rồi cũng chỉ là không tưởng
như niềm hy vọng ta đã từng đặt
cái đối tượng ta vừa mới gạt ra
Với kiểu ấy
ta cứ tiếp tục quay vòng tròn
đổi thứ này lên thứ khác
mà không bao giờ tiến gần hơn một chút nào
đến cái hạnh phúc mà ta đang mong mỏi
Bất Tông giải quyết vấn đề này
một cách triệt đề
Đấy là hoàn toàn chuyển đổi lối nhìn thông thường của ta
Đây là điểm thêm chốt
trong phương pháp Bất Tông
Cái năng lượng hàm muốn đã đẩy chúng ta
từ bất mãn này đến bất mãn khác
sẽ được chuyển thành tuệ rác
và phục lạc
nhờ phương pháp luyện vàng của Bất Tông
Hành giả tập trung tuệ lạc
để đâm ngay vào trái tim thực tại
cắt đứt những cái bóng sai lạc về sự thật
Những từng lớp mê mở
ngăn ta cảm nhiệm tính toàn vẹn của tiềm nắng con người
bị nhộn tận gốc
bởi tính rác đầy lạc hoan ấy
Như vậy, năng lượng dục vọng
thay vì làm tăng nỗi bất mãn nơi ta
bây giờ sẽ được dùng
để phá hủy chính nguyên nhân của sự bất mãn
là sự ngu si cố hiệu của ta
về bản chất thực tại
Theo truyền thống Bất Tông Tây Tạng
sự chuyển hóa năng lượng hàm muốn
được ví dụ như sau
Có vài loại côn trùng từ bọn cây sinh ra
Trước khi sống của nó
khởi sự từ lúc nó ấp trong ruột thân cây
Khi lớn lên
chúng lấy thân cây làm thực phẩm
Ăn thư gỗ từ đấy mà nó sinh ra
Phép chuyển hóa Bất Tông cũng vậy
Dục vọng bất mãn
làm phát sinh tuệ rác sâu xa
Rồi tuệ rác này
lại đốt cháy tất cả những phiền não
che mở tầm thức
Kể cả những dục vọng
đã làm phát sinh ra tuệ rác
Vậy, ta có thể thấy rằng
Dục vọng có hai nhiệm vụ trái ngược hạt nhau
Một là bê mở
Một là rác ngổ
Trong Bất Tông
Kinh nghiệm hoàn lạc do dục vọng phát sinh
Mở rộng tâm ta đến độ
Nó giúp ta vượt qua mọi giới hạn của mình
Trong khi thông thường
Lạc thú phát sinh
Do sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng hàm muốn
Thì lại bị thu hẹp tâm chú ý của ta
Khiến ta bị ám ảnh
Bởi y muốn có thêm lạc thú
Bị mê mẩn trong những cảm giác hoàn lạc
Ta thường mất ý thức về toàn thể
Và rơi vào trạng thái u mê ám chướng
Tâm trí ta thu hẹp
lại quanh đối tượng
Và càng bằm vim đối tượng
Để được thêm thoả mãn
Ta càng xa rời thực tại
Có thể nói rằng
Khi đã ở gần dưới buồn lực của hàm muốn mãnh liệt
Thì ta gần đều bị hồn mê bất tỉnh
Khi bừng tỉnh
Ta mới thấy rằng
Lạc thú mà ta có được, nếm được
Cũng đã biến mất
Chỉ còn lại một nỗi chán trường bất mãn nguyên si như lúc ban đầu
Nói cách khác
Thông thường khoái lạc của chúng ta
Bị đem tối vì vô minh vây phủ
Mặc dù có vài hướng khởi thoáng qua
Cũng không có ý thức minh mẫn
Không có ánh sáng
Thực hành mật tồng
Là cốt để hợp nhất kinh nghiệm lạc thú về ánh sáng
Sự hợp nhất này như đã nói
Được biểu trưng bằng hình ảnh nam nữ thần giao hợp
Ám chỉ sự hợp nhất giữa năng lượng dương tính
Là phục lạc
Và âm tính là trí tuệ bất nhị sâu xa
Hai thứ này cuối cùng phải hợp nhất
Thì ta mới đạt đến tự tính
Chân thực sâu xa nhất của mình
Nhưng hiện tại
Ta không có được sự hợp nhất giữa hoàn lạc
Và trí tuệ như thế
Nên ta phải nỗ lực khá nhiều
Để đào luyện các kinh nghiệm của toàn vẹn ấy
Chính vì thói quen thầm cắn cổ đế của chúng ta
Là mỗi khi bám víu vào một lạc thú nào
Ta lại rơi ngay vào trạng thái u mê đẩn đồn
Cho nên thực sự phi lý
Nếu nghĩ rằng
Ta có thể chuyển hóa ngay tức khắc
Năng lượng hàm bốn nồng nhiệt của mình
Thành tâm sáng suốt thanh tịnh và khoáng đạt
Mặc dù mật tồng
Là con đường nhanh nhất để thành tựu kinh nghiệm giặc ngộ
Ta vẫn phải tiến tuần tự
Theo các giai đoạn tùy khả năng của mình
Nếu không
Ta sẽ vững vào một cánh nặng mà ta không đủ sức mang
Ta sẽ bị nguy khốn
Như tình trạng của những nước nghèo
Vì nôn nóng canh tần
Đã vội vã rước vào mình quá nhiều
Nên hậu quả bất hạnh
Là đời sống dạn dị tương đối quân bình của họ bị xáo trộn
Như thế
Mặc dù kỹ nghệ hóa là cốt đem lại phục lợi
Nhưng hậu quả thực sự
Lại là xáo trộn bất mãn
Còn nhiều hơn trước
Cũng vậy
Nếu cứ tưởng mình truyền hóa được những năng lượng lạc thú
Rồi lại thực hành mật tông
Khi chưa đủ khả năng truyền hóa
Thì chỉ tổ đưa đến tình trạng dối ghen hơn
Cảm ơn các bạn đã theo dõi hết video này
Hẹn gặp lại các bạn ở những video tiếp theo
