Gốm Chu Đậu - Tinh hoa gốm Việt, bí ẩn ngủ quên.

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#su6 #su6vietnam #chudau #gomchudau #lamgom #nghethucong
Gốm Chu Đậu thuộc dòng gốm cổ cao cấp của Việt Nam, có niên đại vào khoảng thế kỷ XII- XIII, phát triển rực rỡ vào thế kỷ XV-XVI trong suốt thời kỳ Lý - Trần - Lê - Mạc. Sang thế kỷ XVII gốm Chu Đậu bị thất truyền.
Nét đặc trưng của gốm Chu Đậu được thể hiện ở kiểu dáng, màu men và các hoa văn họa tiết tinh xảo thể hiện bản sắc văn hóa thuần Việt, phản ánh trung thực nền văn minh của đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Hiện gốm cổ Chu Đậu đang được trân trọng lưu giữ tại 46 bảo tàng danh tiếng ở 32 quốc gia trên thế giới
Chiếc bình gốm hoa lam cổ này được coi là báu vật của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ.
Chiếc bình hiện đang được bảo quản hiêm ngặt tại Bảo tàng Hoàng cung Topkapi Saray tại Istanbul,
nơi nổi tiếng với một kho tảng gốm sứa lình danh và đồ sộ của châu Á.
Kể từ khi được trưng bày tại bảo tàng này, chiếc bình luôn được chú thích là đồ Trung Quốc.
Mãi cho đến năm 1977, sự ra nghệ thuật uy tín nhất về gốm sứa Đông Nam Á lúc bấy giờ
là bà Roxana Brown dịch được dòng lạc khoản gồm 13 chữ hán trên vài bình.
Nguồn gốc của chiếc bình mới được xác minh.
Thái hòa Bát Niên nghĩa là năm thái hòa thứ 8, tính ra là năm 1450, thế kỷ 15.
Tượng nhân là người thợ gốm.
Nam Sách Châu chính là Châu Nam Sách mà ngày nay được xác định là huyện Nam Sách,
làng Chu Đậu, tỉnh Hải Dương của Việt Nam.
Từ đó, hiện vật này được bảo tàng đặt tên là chiếc bình An Nam, nghĩa là chiếc bình của Việt Nam.
Năm 1980, không một ai ở tỉnh Hải Dương biết rằng vùng này có người làm gốm.
Và tất nhiên, họ cũng không biết rằng tổ tiên mình đã tạo nên một dòng gốm hoa lam cổ
mà từ thế kỷ 15 đã nổi tiếng thế giới.
Điều gì đã đánh thức một dòng gốm đỉnh cao ngủ quên gần 500 năm ở vùng đất này?
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1980 với bức thư của một cán bộ ngoại giao Nhật Bản
gửi về lãnh đạo tỉnh Hải Hương khi ấy.
Tôi mới biết là viện bảo tàng Thổ Nhĩ Kỳ vẫn bảo tồn một lọ hoa lam Việt Nam.
Lọ ấy mang chữ Hán, có nghĩa là năm 1450,
một người thợ tên là bà Bùi Thị Hí ở Nam Sách Châu vẽ hoa văn trên lọ.
Bà Bùi Thị Hí là người như thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi đó nhé, là nhiều năm đấy.
Theo lời đề nghị của lá thư ấy, Bảo tàng của tỉnh và nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành
được giao nhiệm vụ trực tiếp đi tìm xuất xứ của chiếc bình.
Thì vào một ngày tháng 8 năm 1983 tôi về đó,
thì tôi tìm ở các cái hố đào của người ta tôi vôi.
Ở nhà ông Bang thì rất nhiều bảnh gốm hoa lam.
Một trung tâm gốm mỹ nghệ cao cấp đã được phát lộ ngay tại làm trụ đậu Nam Sách.
Gốm Tam Thái và tất cả các loại hình gốm đó đã được bộc lộ
ở trong tầng văn hóa sâu từ 50 phân đến 2 mét
và lấy về hàng vã hiện vật, đó là vào những năm 90.
Nhờ đề tựa trên vai chiếc bình hoa lam ở Thổ Nhĩ Kỳ
mà giới khảo cổ đã có cơ sở tìm được đầy đủ các dấu tích của lò nung,
con kê, bao nung, phế phẩm, thành phẩm.
Từ đó phát hiện được một dòng gốm men lam từ thế kỷ 15
ở ngay tại Nam Sách.
Và vấn đề bây giờ là tìm ra ai là người chủ nhân của cái loại.
Chỉ có một cái tên duy nhất là Bùi Thi Hí Bút
Ở trong cái bình Thổ Nhĩ Kỳ mà nó được xác định hiện đại tuyệt đối
năm 1450 là rất sớm.
Có trường phái khẳng định rằng nghệ nhân Bùi Thi Hí
là người đã vẽ lên chiếc bình này.
Chuyện kể rằng Bùi Thi Hí sinh năm 1420
là một đại gia gốm ở vùng Nam Sách,
nay thuộc tỉnh Hải Dương.
Bà là cháu ngoại của Bùi Quốc Hưng, khai quốc công thần thời Lê.
Bùi Thi Hí là một người phụ nữ kỳ tài, thông minh, biết võ nghề
lại có biệt tài, viết chữ và vẽ đồ hốm rất đẹp.
Trong bà Hí là ông đạm sĩ, chủ lò hốm Chu Trang
tức là hốm Chu Đậu bây giờ và dòng nổi tiếng nước thời.
Lần này ta sẽ chỉ huy thuyền đi xa hơn xuống phía Nam,
chỉ vài tháng sẽ về.
Gia Nô đã sắp xong 20 vạn món,
tiện sớm mai tràn lên đường cho sớm.
Sau tháng đã trôi qua, sao chàng vẫn chưa về?
Sau 3 năm chịu tang chồng,
bà Hí đồng ý tái giá với một người đàn ông họ đạng khác,
ông Đạng Phúc.
Bà Bùi Thi Hí cùng ông Đạng Phúc tiếp tục làm gốm cao cấp
để cung tiến cho triều đình và bán hàng cho các thương nhân trong và ngoài nước.
Với bản lĩnh phịt, bà Bùi Thi Hí đã trực tiếp chỉ huy nhiều chuyến hàng lớn,
vượt biển, mang những sản phẩm hồn tinh xào của mình sang Bà Đại Phương Tây.
Bùi Thi Hí qua đời năm 1499.
Bà được người đời, ngợi ca là một nghệ nhân,
doanh nhân, nữ hàng hải tiêu biểu của Việt Nam vào thế kỷ 15.
Cái việc mà có bà Bùi Thi Hí hay không có bà Bùi Thi Hí,
tôi cho là chắc phải tiếp tục làm cho nó rõ và kỹ hơn.
Tôi cho rằng là có thể cái lọ ít tham môn,
có thể cũng là lọ cung đình làm chứ không phải lọ dân làm được.
Bởi vì nó với cái kỹ thuật vẽ như thế,
lọ quan và lọ cung đình mới tập trung được những người thợ giỏi nhất trong nước.
Cái đó khả năng ấy đúng hơn.
Câu chuyện về người đã tạo ra chiếc bình gốm này lại không hề đơn giản.
Chính 4 chữ cuối Bùi Thi Hí Bút
trong dòng là khoảng 13 chữ Hán trên vài bình
đã dẫn đến những bất đồng trong cách lý giải về người đã tạo ra chiếc bình.
Một trường phái khác lại không cho rằng 4 chữ này nghĩa là bà Bùi Thi Hí viết hoặc vẽ.
Từ Hí Bút, nếu đi cạnh nhau có nghĩa khiêm nhường là vẽ chơi.
Theo cách lý giải này thì có thể hiểu Bùi Thi Hí Bút
chỉ có nghĩa là một nghệ nhân họ bùi vẽ chơi.
Chứ hoàn toàn không có người nghệ nhân nào tên là Bùi Thi Hí.
Tôi thì tôi không tin.
Thì tôi vẫn nghiêng theo cái kiểu hướng là họ bùi vẽ chơi.
Quan điểm của chúng tôi thì ghi nhận và công nhận là bà Bùi Thi Hí đương nhiên là có thật.
Bởi vì như thế thì chúng tôi mới làm nhà thờ đây.
Lịch sử có nhiều khoảng trống.
Tôi cho là bà Bùi Thi Hí còn người khác coi coi thế nào đó là việc của người ta.
Thứ chân lý tôi chắc chỉ có 1 thằng.
Đến giờ phút này thì cả 2 quan điểm đấy cũng không về nào thắng hết.
Sau biết bao tranh cãi, liệu tác giả của chiếc bình có phải là 1 người tên là Bùi Thi Hí
nhưng người ta vẫn ngợi ca là nữ doanh nhân đầu tiên của Việt Nam hay không?
Chúng tôi đã tìm về huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
chính là Châu Nam Sách như trên đề tựa của chiếc bình.
Vậy thì chiếc bình An Nam đã được đi từ Châu Nam Sách đến Thổ Nhĩ Kỳ như thế nào?
Sản phẩm gốm chú đậu từ thế kỷ 15 đã được đem ra muôn bán giao thương ở nước ngoài ra sao?
Năm thế kỷ đã trôi qua.
Liệu mảnh đất này còn lưu giữ những dấu tích nào để trả lời cho những câu hỏi ấy?
Bảo tàng tỉnh Hải Dương.
Đây là bảo tàng duy nhất ở Việt Nam có riêng 1 nhà trưng bày về gốm sứ.
30.000 di vật gốm đang được trưng bày và lưu trữ tại bảo tàng.
Trong đó có hơn 5.000 di vật tiếp nhận từ con tàu đắm từ thế kỷ 15
được trục vớt tại Cù Lao Tràm, Hội An vào năm 2000.
Cùng rất nhiều hiện vật gốm chú đậu được phát lộ trong 7 cuộc khai cuộn ở ngay tại Hải Dương từ những năm 1980.
Thế nhưng trong số này không có một hiện vật nào có đề tựa Bùi Thị Hí Bút
mà chỉ có chiếc bình này, bàn sao tỷ lệ 1-1 của chiếc bình Hoa Lam bên Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành, nguyên giám đốc bảo tàng tỉnh Hải Dương
đã có hơn 30 năm nghiên cứu gốm chú đậu.
Ông vẫn luôn khẳng định là có một bà tổ nghề gốm chú đậu tên là Bùi Thị Hí.
Có rất nhiều cái binh văn và chúng tôi chỉ núi hối đó
là đi tìm bà Bùi Thị Hí là bà tổ của nghề đầu gốm thôi.
Thế lại không nghĩ đến cái việc khác đâu.
Thế thì quá trình làm ấy thì nó lại bột lọt rất nhiều tư liệu hay.
Bùi Thị Hí là trọng chỉ huy các cái đoàn thuyền đi trên biển để xuất khẩu.
Chú đậu, theo cách hiểu dân gian, là nơi thuyền đậu.
Vào thế kỷ 15, chú đậu là một sãn nhỏ thuộc châu Nam Sách
nằm liên kề với tảng ngạn sông Thái Bình.
Thuần tiện cho việc đi thuyền về Tăng Long
thậm chí ra cửa sông, cửa biển để giao thương cuôn bán.
Sông này tên của nó ta gọi là Định Thảo.
Sông này nó nối với sông Thái Bình.
Cho nên đây có thể nói là một tình trạng sông gốm xứa.
Tại sao nói như vậy?
Vì nó hàng trăm lò, chứ không phải là vài cái lò.
Và đây thì là trong 14 làng gốm xứ cùng xuất khẩu với chú đậu
thì nguyên cái khu vực này đã đến 10 lò.
Khi Trèo Mạc thất thủ Hải Dương
thì gốm xứ, những cái gốm lò gốm lớn cũng coi như tắt lò.
Cho nên là cái đát cuối cùng của cái gốm chú đậu
hay là cái gốm theo cái gốm xuất khẩu
thì nó đến cuối thế kỷ 16 là nó hết.
Ở khu vực này vào thế kỷ 15-16
cũng có một lò gốm lớn do ông Đảm Khắc Quang làm chủ lò.
Ông Hoành nói rằng
ông Đảm Khắc Quang được đại gia gốm Ngùi Thị Hí
cử về đây để mở lò.
Con cháu ông Đảm Khắc Quang hiện vẫn đang sinh sống trên mảnh đất này.
Họ còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật gốm đào được
ở khắp nơi quanh nhà và trên ruộng.
Bảo tàng tỉnh Hải Dương và các chuyên gia nước ngoài
cũng đã nhiều lần tiến hành khảo cổ
để tìm các hiện vật gốm chu động trình ruộng nhà ông.
Bác Hoành ơi, cháu để ý thấy là ở khu vực này
có rất là nhiều ao nhỏ như thế này
và sang sát nhau thì đấy có phải là một đặc điểm của vùng này không ạ?
Đúng rồi, không phải tự nhiên mà nó thành ao.
Ngày xưa nó là gò,
tuy nhiên người ta lấy đất làm đồ hút
thì nó biến thành ao.
Hai nữa là cái bến xuất nó ngay gần đây.
Bến xuất khẩu nó ngay gần đây.
Người làng Chu Đậu vẫn lưu truyền rằng
chính tại ngã Ba Sông này
là nơi tập trung vận chuyển đồ hút.
Có nhiều minh văn mà ông Tăng Bá Hoành cho là đủ
để chứng minh sự tồn tại của bà Bùi Thị Hí.
Cột trúc đài bằng đá trong khuôn viên Chùa Viên Quang
ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Trong khi hầu hết các dòng chữ còn lại khác trên cột đá
đã mờ đến nỗi không thể đọc được như thế này
thì riêng dòng chữ Bùi Thị Hí
Tín Chủ Hưng Công Đồng Dân Tạo Tự
lại rõ hẳn lên.
Theo đó, ông Hoành khẳng định ngôi chùa này
là do bà Bùi Thị Hí xây dựng công đức
vào năm Hồng Đức Nhâm Tý
tức là năm 1492 khi bà 72 tuổi.
Và những cái chữ này nó hơi nông ấy
cho nên chữ này lại khác.
Chữ này nó chữ to họ khác nổi được.
Còn chữ này khác kim.
Vì nó nhỏ thì chỉ vào đến nay là hơn 500 năm.
Thì nó phải mòn mờ là đúng thôi.
Mà nó lại ngoài trời.
May mà còn đọc được thì tôi hiểu cái không đọc được nữa.
Tức là những cái chữ mà mình đọc được bây giờ là cũng đã được.
Ờ, đúng.
Xong rồi rửa đi thì mình tìa ra đi cho nó rõ
để mà đọc thôi.
Lúc đầu tôi đọc còn được.
Thế thì không ba được.
Tất cả những cái này là những tư liệu sau thế kỷ 15.
Những cái tư liệu nó bên ngoài đó
thì chúng tôi không xử lý những cái tư liệu đó.
Như thế này.
Nó lại còn một cái văn bản nữa.
Nó không phải chỉ cái này.
Thế văn bản đấy nó giờ...
Còn cái anh Lợi chứ.
Đây là ông Bùi Văn Lợi
mà ông Hoành giới thiệu là cháu 19 đời của bà Bùi Thị Hí.
Bùi Gia Trang, nơi ở của dòng họ Bùi từ thế kỷ 15
giờ được bày biện như một bảo tàng tư nhân
với nhiều hiện vật.
Nhiều nhất là những mảnh gốm cổ
được vớt từ dưới ao trước nhà lên.
Cụ thân sinh của ông Bùi Văn Lợi
năm nay đã 93 tuổi
còn cất giữ riêng một bộ minh văn
viết trên gỗ của dòng họ Bùi
trong đó có nói đến việc làm gốm của bà Bùi Thị Hí.
Một hàng, hai hàng, ba hàng, bốn hàng,
năm hàng, sáu hàng, bấy hàng, chữ toàn chữ ngôn người ta.
Dạ vâng, đúng rồi ạ.
Tổ Cô Bùi Thị Hí
là con gái của
Quan Võ Bùi Đình Nghĩa.
Chỉ có mình cụ là được giữ được không?
Không, ai được giữ.
Chồng tôi cũng không giữ được.
Ông Bùi Đức Lợi bảo rằng
Mành đất này chính là Trang Quang Ánh
lo gốm nhà bà Bùi Thị Hí
từ thế kỷ 15.
Chính khu vực chúng ta đang đứng đây
cũng là khu vực nằm gốm ban đầu của bà Bùi.
Tất cả khu này.
Ở dưới đây rất nhiều đền.
Ở dưới đấy gốc cây vất bờ vãi.
Ở đây tất cả đền.
Mà còn rất nhiều.
Những cái mảnh gốm này
chính là nó bị vỡ, bị mẻ.
Vâng, đây chồng thấy trên đĩa này có chữ Phúc.
Chữ Phúc này thì thường ra
là các cụ ghi chủ nổ.
Thì đây là ông Đặng Phúc.
Chúng ghi một chữ vào đấy.
Đây là nhà của gia đình.
Cái căn buồng này
là một cái căn hầm cổ.
Nặng quá.
Chú ơi, các cụ xây cái hầm này
từ năm bao nhiêu đấy ạ?
Cái biển này thì theo các nhà Hà Nôn dịch ra
nó là Bùi Gia Mật Tỉnh.
Tức là cái hầm bí mật của nhà bà Bùi.
Bảo Thái Tân Thủ Nguyên Tạo.
Dịch ra như bây giờ là năm 1721.
Thế này là chỉ có
gia đình nhà mình mới được biết thôi đúng không ạ?
Trong họa thì hầu như không ai biết được.
Chỉ các cụ giao cho các thế hệ này.
Mỗi thế hệ có mấy người là biết thôi.
Cái hầm ấy
thì đấy nó có một cái niên đạo đầu thế kỷ 18.
Có nghĩa rằng là
ở đây các cụ ngày xưa
là các cụ cũng có giữ nghề, giữ nghiệp đấy.
Đây là cái
hộp.
Cổ được
thể thống gia phá của dòng họ.
Thế này thì gia phá của dòng họ
thì các cụ ghi chép
nhiều trăm năm trước rồi.
Mấy lần sau lại rồi đấy, thì còn lại được chừng ấy.
Khai quốc công thần
thời Lê Bùi Quốc Hưng
là người đã được lưu danh trong Đại Việt
sử ký toàn thư là có công
trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 600 năm trước.
Và theo gia phá của họ Bùi
thì ông Bùi Quốc Hưng có người cháu nội
là Bùi Thị Hí.
Còn đây cũng là một cái bức tượng
mà thờ cụ Hí
các cụ làm cái bức tượng này.
Cháu thấy hình cái này giống như là
tượng của cụ Hí trên bàn thờ của nhà mình đấy đúng không ạ?
Đây chính là cái bức tượng đấy đấy.
Chính là cái bản gốc
này ra để làm ra thờ cụ ấy.
Bản gốc mà ông Lợi nhắc đến
chính là pho tượng này.
Tựa một phụ nữ quý tộc thế kỷ 15
hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng lực sử quốc gia
tại Hà Nội.
Bức tượng men hoa lam vẽ vàng này
là một trong những độc bản
từ con tàu đắm được khai quật vào năm 2000
ở cụ Lao Tràm.
Có trưởng phái cho rằng đây chính là tượng
bà Bùi Thị Hí.
Còn chuyến tàu hàng đó chính là mẻ hàng của gia đình bà.
Đúng là cái bức tượng ấy
là của thế kỷ thứ 15
tại Lê Thơ.
Thế nhưng mà cái tượng ấy có phải là của bà Bùi Thị Hí không?
Thì không ai dám khẳng định.
Ngôi mộ của lão tướng Bùi Quốc Hưng
và cháu nội là bà Bùi Thị Hí
được đặt ngay trong khuôn viên Bùi Gia Trang.
Những tấm bia này
mới được con cháu họ Bùi đặt làm lại
cho khang trang hơn.
Người nhà họ Bùi đều khẳng định rằng
những văn tự trên tấm bia mới này
được sao chiếp hoàn toàn từ văn bia gốc
trên mộ của bà Bùi Thị Hí
thế kỷ 15.
Tức là mình có cái bia
có bia gốc ạ.
Thế cái bia ấy hiện tại thì là ở đâu?
Bia ở dưới.
À mình trôn bia.
Trôn theo bia.
Chỉ biết là chắc chắn là ở đây.
Vào cuối thế kỷ 16
khi gốm chu đậu đang ở thời kỳ hưng thịnh đỉnh cao
thì chiến tranh nổ ra
tiêu diệt cả một làng nghề
trong đó có tất cả những lò gốm lớn ở Nam Sách
và lo gốm của dòng họ Bùi
cũng đã bị chìm hết xuống chính ao nước này.
Khẳng định là cái dòng họ Bùi
sai thì cũng không có văn cứu
và khẳng định các nhà học nói rằng là
họ Bùi vẽ chơi thì cũng chưa hẳn
đã là đúng. Có nhiều chứ không thể giải thích đâu.
Qua cái nguồn tư liệu, tư liệu vật chất này
tư liệu thường văn này
văn tử này khai phát được
ở cái vùng Gia Lộc Hải Dương
thì chúng ta tạm thời có thể khẳng định được
có cái nhân vật Bùi Thị Hí
và bà là người mở đầu dòng gốm chu đậu.
Theo một số nhà khoa học
tạm thời có thể khẳng định được
dòng họ Bùi có người tên là Bùi Thị Hí
làm gốm ở chu đậu.
Nhưng việc bà Bùi Thị Hí ấy có phải chính là
người đã làm ra chiếc bình hoa lam
ở Thổ Mỹ Kỳ hay không?
Và hành trình mà chiếc bình ấy đi từ Nam Sách
sang Istanbul như thế nào?
Đây vẫn là những khoảng trống trong lịch sử
mà các nhà khoa học vẫn đang
cố tìm thêm cứu liệu.
Cái quan trọng là bây giờ
cái bình gốm A-Nam đó
bình gốm của Việt Nam đó
đã đi khắp thế giới
là tượng trưng cho một cái thời
huy hoàng của gốm Việt Nam.
Còn cái chuyện bà đó là bà Bùi hay bà Hí
nhưng mà nếu chúng ta có đủ tư liệu
mà chúng ta nghiên cứu được thì tại sao không?
Một chiếc bình trắng vẽ hoa lam
Bảy băng hoa văn tinh xảo
Bốn con chìm thiên ngà
với bốn tư thế bay đậu khác nhau
Bảo vật quốc gia
bình gốm hoa lam vẽ thiên ngà
là hiện vật gốm có kích thước lớn nhất
và nguyên vện nhất trong sự tập độc bản
được khai quật tại tàu đám
của Lao Tràm năm 2000
nghĩa là không có chiếc bình thứ hai như thế này
Đây cũng là một cái trường hợp
hy hữu, xứng đáng
ở bảo vật quốc gia
Nó thể hiện được cái kỹ thuật sản xuất
Còn thứ hai nữa là trên đó
nó thể hiện những cái hoa văn
phản ánh cái
đặc điển
đặc trưng của vùng đồng hành
Bắc Bộ
Con tàu đám ở củ Lao Tràm
là một trong sáu con tàu cổ
mà Bảo tàng lịch sử quốc gia trực tiếp tham gia
và chủ trì nghiên cứu
khai quật từ dưới lòng biển Đông
thuộc vùng biển Việt Nam trong vòng hơn 30 năm qua
Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến
Nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng lịch sử quốc gia
đã trực tiếp tham gia
trục vớt và giám định
nhiều hiện vật gốm trụ đậu
Trên thế kỷ 15
gốm xuất khẩu cũng như là
gốm phục vụ cho hoa cung
thì còn có
dùng vàng kim
tức là vẽ vàng kim trên men
Thế thì cái này là
cái điều cũng rất là đặc biệt
Đạt được cái đỉnh cao
về kỹ thuật sản xuất
Cuộc khai quật con tàu đám
của Lao Tràm đã đưa gốm trụ đậu
bước ra ánh sáng
Giới nghiên cứu và siêu tập gốm sứ trên thế giới
đã biết đến một dòng gốm đặc biệt này
Gốm trụ đậu hiện vẫn được lưu giữ
và trưng bày ở hơn 40 bảo tàng
nhiều quốc gia trên thế giới
nhiều nhất là tại Nhật Bản
Vào thế kỷ thứ 15
các sản phẩm gốm của Việt Nam
được vua của Vương quốc Ryukyu Nhật Bản sử dụng
Chúng được đánh giá
là những đồ cao cấp
Kỹ thuật làm gốm ở trụ đậu có thể nói
lúc bây giờ là rất cao
và cao hơn cả hiện nay
Những mẫu họa tiết trên gốm
được vẽ vô cùng tỉ mì
thành gốm luôn rất mỏng
Trụ đậu là một trong những dòng gốm
truyền thống mà rất là riêng
rất là khác với những cường quốc gốm
cũng đó ví dụ như là với Trung Quốc
với Nhật Bản
Nó có một phong cách riêng
một tạo tác riêng
một kỹ thuật riêng
mà nó đúng là của người Việt
Nó không lẫn vào đâu được
Gốm trụ đậu
được làm từ đất xét trắng
lấy từ vùng đất thiên trí Linh
Nơi giao nhau của 6 dòng sông
đã tạo nên lớp trầm tích quý giá
lắng động qua hàng trăm năm
Đất xét trắng
phải trải qua quá trình lắng, lọc, ủ công phu
để loại bỏ tạp chất
và đạt độ dẻo mịn cần thiết
Văn hòa
trên các sản phẩm gốm trụ đậu
cũng là một nét đặc trưng riêng có của dòng gốm này
Những dòng men đặc trưng
từ men dạn, men trắng trong
men ngọc, men hoa lam
men lụn, xanh nâu
đến men tam thái
đã làm nên danh tiếng của gốm trụ đậu
Năm thế kỷ đã trôi qua
gốm trụ đậu đã được gọi tên
vào thập niên 80 và nhiều hiện vật
gốm trụ đậu đã được phát lộ
vào thập niên 90 của thế kỷ trước
Và những người con vùng Nam Sách
giờ đã quyết tâm khôi phục lại
nghề gốm của Tổ tiên
từ những bài men cổ cho ra màu gốm hoa lam
đặc trưng của trụ đậu
Họ đã tiếp nối truyền thống của cha ông
buôn bán giao thương với nước ngoài
Một dòng gốm đỉnh cao
ngủ quen gần 500 năm tại Nam Sách Hải Dương
đã được hồi sinh
Gốm trụ đậu này đã trở lại
với thị trường trong nước và quốc tế
Từ thế kỷ 13-14
người trụ đậu xưa
đã tìm ra cách thức dùng vỏ chấu
thóc nếp đốt lên làm men
để trang trí cho các sản phẩm gốm
mền và đẹp hơn
Ngày nay, những người thợ gốm
đã phục dựng được dòng men thiên nhiên cổ truyền này
tạo nên những sản phẩm màu vàng vàng
với những khách sạn nhỏ
chạy trong lớp men sau quá trình lung
nhiệt độ cao
Sinh nghiệp cũng phải tuyển dụng nhân lực
đầu tư rất nhiều
mời các chuyên gia, các nghệ nhân
các chuyên gia giỏi, các làng nghề
và các nơi để nghiên cứu
phục lại dòng men này
Mà chúng tôi cũng khẳng định đây là dòng men
duy nhất trên thế giới hiện nay
Đây là dòng men độc đáo
của đúng gốm trụ đậu thời xưa
Ngày nay, những người nghệ nhân vùng Nam Sách
còn biết kết hợp vẽ vàng kim lên gốm
Đây được đánh giá là một kỹ thuật đỉnh cao
trong sản xuất gốm hoa làng từ thời xưa
Tôi chắc chắn là
có thể cam kết rằng
sẽ phải vươn lên
để có thể
có nhiều cái thiết kế
mà mới
của thế kỷ 21
Ngoài ra duy trì
bảo tồn
kế thừa phát triển
những cái sản phẩm
những cái thiết kế của những sản phẩm
đã có lịch sử lâu đời mà
đều đã có những cái ý nghĩa
của từng sản phẩm
Chiếc bình hoa lam
hay như người dân vùng Chu Đậu
vẫn gọi dân dã là chiếc bình củ tỏi
Không chỉ có một, mà có tới 12 kích cỡ khác nhau
từ nhỏ đến lớn như thế này
Đây là những sản phẩm gốm
được sao y bản chính
từ chiếc bình hoa lam
do một nghệ nhân dòng họ bùi
ở Nam Sách chế tác vào thế kỷ 15
Những người thợ gốm Chu Đậu
thời nay đã học được cách làm
chiếc bình hình củ tỏi
giống như nghệ nhân họ bùi
tạo tác từ năm 1450
Đây là trường hợp rất hiếm hoi
không chỉ chỉ Việt Nam
mà thế giới từ một cái nghề
cổ truyền đã thất truyền hơn 4 thế kỷ
và nó sống lại
và sống lại đầy sức sống
