Việt Nam trả phi cơ C909 chỉ sau 6 tháng thuê

Đại Kỷ Nguyên - Thời sự
4.6K người theo dõi
913 Lượt xem video·27 thg 10, 2025
DCTS 27/10:
Việt Nam gần đây đã có một hành động chưa từng có tiền lệ khi trả lại phi cơ C909 (ARJ21) do Trung Quốc sản xuất chỉ sau 6 tháng thuê, với lý do chi phí vận hành cao, đặt lãnh đạo Tập Cận Bình vào tình thế khó xử ngay sau chuyến thăm cấp nhà nước.
Động thái này diễn ra bất chấp mối quan hệ kinh tế chặt chẽ, nơi Việt Nam được xem là "người chiến thắng lớn nhất" trong cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ. Tuy nhiên, đằng sau sự hợp tác kinh tế là những xung đột chính trị sâu sắc, đặc biệt là tranh chấp ở Biển Đông, nơi yêu sách "đường 9 đoạn" phi lý của Bắc Kinh tiếp tục chà đạp lên luật pháp quốc tế và chủ quyền của Việt Nam.
---
Kính chào quý vị đang theo dõi kênh Phân Tích và Bình Luận.
Thưa quý vị, Việt Nam gần đây đã có một hành động chưa từng có tỉnh lệ,
đó là trả lại phi cơ do Trung Quốc sản xuất, đặt lãnh đạo Tập Cật Bình vào một tình thế khó xử.
Từ ngày 14 đến ngày 15 tháng 4 năm 2025, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cật Bình đã có chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam,
đánh dấu cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam kể từ năm 2019.
Chưa đầy một tuần sau chuyến thăm của ông Tập, hãng hàng không giá rẻ Việt Nam Vietjet đã giới thiệu 2 phi cơ phản lực khu vực C909 do Comac của Trung Quốc sản xuất.
Nhưng chỉ 6 tháng sau, hãng hàng không này đã quyết định không gia hạn hợp đồng thuê do chi phí vận hành quá cao.
Theo hãng thông tuần Reuters, Vietjet đã ngừng khai thác 2 chiếc phi cơ này vào ngày 18 tháng 10.
Ngày hôm trước đó đã đánh dấu chuyến bay cuối cùng của C909 từ Côn Minh đến Hà Nội.
Lý do không gia hạn hợp đồng thuê chỉ sau 6 tháng vận hành được cho là do chi phí khai thác cao liên quan đến phi hành đoàn nước ngoài và dịch vụ bảo trì,
cũng như những hạn chế pháp lý từ luật hàng không Việt Nam.
Hai nguồn tin mà Reuters trao đổi đều nhấn mạnh rằng không có vấn đề gì về vận hành với chiếc phi cơ.
C909, ban đầu có tên là ARG-21 Trường Phượng, tựng trưng cho một con phượng hoàng bay vút.
Đây là một phi cơ phản lực khu vực có từ 76 cho đến 90 chỗ ngồi, được chế tạo bởi Kumak thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc.
C909 là phi cơ thương mại đầu tiên do Trung Quốc tự sản xuất, được thiết kế cho các chuyến bay tầm ngắn đến tầm trung.
Phi cơ này có thể chở khoảng 90 hành khách với tầm bay tố đa khoảng 2.225 cho đến 3.700 km.
Nó được đưa vào khai thác thương mại từ năm 2016.
Kumak coi Đông Nam Á là thị trường trọng điểm của C909.
Và ngoài Việt Nam, một số chiếc đã được khai triển ở Indonesia và Lào.
Các hãng không ở Campuchia và Brunei cũng đã đặt hàng.
Tuy nhiên, C909 có hiệu suất nhiên liệu thấp, chi phí bảo trì cao và chu kỳ cung cấp phụ tùng không ổn định hoặc kéo dài.
Thiết kế của phi cơ, tần suất bảo trì cao hơn và phụ tùng đắt đỏ hơn dẫn đến chi phí bảo trì tổng thể cũng tăng lên.
Thêm vào đó, C909 chưa nhận được chứng nhận quốc tế rộng rãi, hạn chế khả năng hoạt động trên thị trường toàn cầu và cũng làm giảm lợi ích kinh tế của nó.
Vietjet đã thuê hai chiếc phi cơ C909 thử hãng hàng không thành đô của Trung Quốc vào giữa tháng 4 năm nay, theo một thỏa thuận thuê ướt, phản ba, biểu tượng chính trị và thực tế phũ phàng.
Thuê ướt có nghĩa là bên cho thuê không chỉ cung cấp phi cơ mà còn cả phi hành đoàn, dịch vụ bảo trì và bảo hiểm.
Mặc dù phi cơ và phi hành đoàn do Trung Quốc cung cấp, nhưng một số hoạt động đào tạo và bảo trì đã được địa phương hóa.
Thỏa thuận thuê ướt này mang tính biểu tượng chính trị quan trọng vì nó diễn ra ngay sau truyền thông của lãnh đạo Tập Cập Bình đến Việt Nam.
Truyền thông đã đưa tin rộng rãi đây là thành tựu mang tính biểu tượng nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước.
Nó cũng đánh dấu lần đầu tiên phi cơ do Trung Quốc sản xuất hoạt động trên các tuyến bay nội địa của Việt Nam.
Một phi cơ khác của Comac là C-919 được thiết kế cho thị trường tầm trung và cạnh tranh với các mẫu phổ biến như Airbus A320 và Boeing 737.
Nó đã nhận được chứng nhận từ Cục Hàng không dân dụng Trung Quốc, nhưng vẫn chưa được EASA châu Âu hay FAA của Hoa Kỳ chứng nhận.
Hiện tại, không có hãng hàng không nước ngoài nào đặt hàng hay thuê.
Hãng thông toán Reuters chỉ ra rằng chiếc phi cơ sẽ được trả lại cho hãng hàng không thành đô, gồm đã khai thác khoảng 40 chiếc loại này.
Vietjet hiện sở hữu hơn 90 phi cơ Airbus và cũng đã đặt hàng 150 phi cơ Boeing 737 MAX.
Vào tháng 6 năm nay, Vietjet đã ký kết một thỏa thuận với Airbus để mua 150 phi cơ A321neo, mở rộng đội bay và giảm bớt các vấn đề về công suất.
Đồng thời, việc giao hàng chậm trễ của Comac C919 có thể đã ảnh hưởng đến niềm tin của Vietjet vào các phi cơ do Trung Quốc sản xuất.
Các nguồn tin cũng chỉ ra rằng Vietjet hiện không có kế hoạch mua phi cơ Comac.
Phần 4 Thắng lợi trong thương chiến và sự phụ thuộc kinh tế
Từ hành động và tuyên bố của họ, rõ ràng Vietjet thiếu tin tưởng vào các phi cơ do Trung Quốc sản xuất.
Trung Quốc là một trong những nguồn đầu tư nước ngoài chính của Việt Nam.
Và trong năm 2024, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam đã vượt quá 10 tỷ đô la Mỹ, chủ yếu tập trung vào sản xuất, năng lượng, hậu cần và cơ sở hạ tầng.
Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam đã vượt 200 tỷ đô vào năm 2024, với hàng xuất cảng của Việt Nam chủ yếu bao gồm hải sản, hàng điện tử và diệt may, trong khi hàng nhập cảng bao gồm máy móc, linh kiện điện tử và thép của Trung Quốc.
Ví dụ, các sản phẩm điện tử ở tỉnh Bình Dương phụ thuộc rất nhiều vào chip và nguồn liệu thô do Trung Quốc cung cấp.
Tại tỉnh Bình Dương có rất nhiều nhà máy của Trung Quốc, và Việt Nam đang chứng tỏ là người chiến thắng lớn nhất trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Khi đến tỉnh Bình Dương, người ta sẽ thấy các nhà máy Trung Quốc ở khắp mọi nơi. Việt Nam sẽ trở thành người chiến thắng lớn nhất sau cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Trên các tuyến đường sắt và đường cao tốc, các công ty của Trung Quốc không chỉ cung cấp thiết bị và công nghệ xây dựng mà còn tham gia vào cả quản lý dự án.
Chính phủ Bắc Kinh cũng đã đầu tư vào các khu công nghiệp ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam, bao gồm linh kiện thiết bị ra dụng và linh kiện điện thoại di động để xuất cảng sang Đông Nam Á, châu Âu và cả Hoa Kỳ.
Mặc dù hợp tác kinh tế giữa hai nước rất chặt chẽ, nhưng nó cũng không thể nào che giấu được những xung lột chính trị sâu sắc giữa hai nước.
Các vấn đề như Biển Đông, những bất bình lịch sử và tranh chấp chủ quyền vẫn là những quả bom vô hình trong mối quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc.
Mặc dù cả hai bên đều thuộc phe cộng sản, mối quan hệ giữa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc không phải là không có căng thẳng.
Chiến lược kiểm soát tư tưởng và xuất cảng cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dẫn đến nhiều giãn đứt trong quan hệ Trung-Việt.
Vào tháng 9 năm 2024, các tàu thực thi pháp luật của Trung Quốc đã tấn công dân Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, làm bị thương ít nhất 10 người.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ cho rằng hành động của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và luật pháp quốc tế.
Bộ Ngoại giao của Đảng Cộng sản Trung Quốc đáp lại bằng cách nói rằng các tàu cá Việt Nam đã hoạt động bất hợp pháp tại quần đảo Hoàng Sa và hành động thực thi của Trung Quốc là hợp pháp và có kiềm chế.
Vụ việc đó đã làm leo thang căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam về vấn đề Biển Đông.
Tranh chấp Biển Đông là một trong những tranh chấp lãnh thổ phức tạp và nhạy cảm nhất trên thế giới hiện nay.
Khu vực này giàu tài nguyên dầu mỏ và khí đốt tự nhiên và là một trong những tuyến tường thương mại hàng hải quan trọng nhất với ý nghĩa địa chiến lược.
Một số quốc gia bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền đối với một phần hoặc toàn bộ các đảo vào vùng biển ở Biển Đông.
Phần 6. Đường chiến đoạn phi lý và luật pháp quốc tế
Tranh chấp Biển Đông là xung đột gây gắt và kéo dài nhất trong quan hệ Trung-Việt.
Chính phủ Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông dựa trên đường chiến đoạn,
trong khi Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sang.
Việc chính phủ Trung Cộng xây dựng các cơ sở quân sự trên các đảo nhân tảo là một nỗ lực nhằm tăng cường kiểm soát Biển Đông, trả đạm lên luật pháp quốc tế và chủ quyền của các nước láng giềng.
Việt Nam đã cực kỳ cảnh sát và đã nhiều lần phản đối, dẫn đến các pha chạm thường xuyên trên biển, tranh chấp ngoại giao và thậm chí là cả các cuộc đụng độ hải quân.
Đường chiến đoạn của Nhà nước Trung Cộng đề cập đến yêu sách lãnh thổ được thư hưởng từ đường 11 đoạn của Trung Hoa Dân Quốc, đề xuất vào năm 1947.
Sau đó nó được điều chỉnh thành đường chiến đoạn, phân định hầu hết Biển Đông là lãnh hải của Trung Quốc.
Đường này kéo dài từ đảo Hải Nam, điểm cực Nam của Trung Quốc và bao quanh quần đảo Trương Sa, Hoàng Sa và các vùng biển xung quanh.
Tuy nhiên đường chiến đoạn thiếu cơ sở trong luật pháp quốc tế và vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển UNCLOS.
Chính phủ Trung Cộng đã không đưa ra được các tài liệu lịch sử rõ ràng để hỗ trợ yêu sách này và bản thân đường chiến đoạn cũng rất mơ hồ, bao phủ một khu vực rộng lớn trồng lấn lên chủ quyền của các quốc gia khác.
Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển được thông qua năm 1982 và có hiệu lực từ năm 1994 là khuôn khổ pháp lý chính điều chỉnh việc phân chia và sử dụng các quyền hàng hải trong cộng đồng quốc tế.
Công ước thiết lập một số vùng quan trọng, lãnh hải, kéo dài 12 hải lý từ đường cơ sở của một quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải kéo dài từ 12 cho đến 24 hải lý, nơi một số quốc gia có thể thực thi kiểm soát về an ninh tài chính, nhập cư và các mục đích khác.
Vùng đặc quyền kinh tế IIZ kéo dài 200 hải lý từ đường cơ sở, nơi một quốc gia có động quyền thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Vùng thêm lục địa có thể kéo dài ngoài 200 hải lý lên đến 350 hải lý, tùy thuộc vào sự chấp thuận của Liên Hiệp Quốc.
Và biển cả mở cửa cho tất cả các quốc gia hàng hải, hàng không và đặt cáp ngầm.
Dựa trên luật biển, Việt Nam khẳng định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý bắt đầu từ đường cơ sở ven biển của mình, và các tài nguyên trong vùng biển này như dầu mỏ và thuy sản đều thuộc quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam.
Việt Nam coi đường chiến đoạn của chính phủ Bắc Kinh là thiếu tỏa độ rõ ràng và không có cơ sở pháp lý.
Điều 57 của luật biển nêu rõ rằng vùng đặc quyền kinh tế không thể mở rộng quá 200 hải lý.
Tuy nhiên, đường chiến đoạn bao phủ khoảng 80% biển Đông, vượt xa 200 hải lý tính từ đường bờ biển của Trung Quốc.
Do đó, Việt Nam và hầu hết các học giả pháp lý quốc tế đều đồng ý rằng đường chiến đoạn là một đường lịch sử mơ hồ không có giá trị pháp lý theo luật pháp quốc tế.
Việt Nam có chủ quyền truyền thống và muốn liên kết lịch sử với biển Đông.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã nằm dưới sự kiểm soát hành chính của Việt Nam với các hoạt động đánh bắt cá được ghi nhận.
Các chiều đại khác nhau của Việt Nam và chính phủ hiện tại luôn coi những hòn đảo này là một phần lãnh thổ có chủ quyền của Việt Nam.
Việt Nam nhấn mạnh rằng sự kiểm soát lịch sử của mình đối với các hòn đảo này trong cả thời kỳ thuộc địa và sau chiến tranh đều được hỗ trợ bởi nhiều tài liệu lịch sử và sự công nhận quốc tế rộng rãi.
Cù hợp với luật biển, Việt Nam khẳng định các quyền hợp pháp của mình đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, nhấn mạnh rằng luật pháp quốc tế phải được ưu tiên hơn các yêu sách lịch sử đơn phương.
Việt Nam cũng tích cực tìm cách giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán đa phương và các kênh pháp lý quốc tế.
Theo báo The Epoch Times, Việt Nam phản đối mạnh mẽ việc mở rộng quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc và yêu sách đường chiến đoạn ở Biển Đông, coi đó là hành vi xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia và sinh kế của người dân Việt Nam.
Việt Nam cũng đã nhiều lần phản đối ngoại giao, tiến hành tuần tra quân sự và thực thi luật hàng hải để bảo vệ chủ quyền của mình.
Một ví dụ đáng chú ý là sự kiện gian khoan Hải Dương 981, viết tắt là H.I.S. 981 của Trung Quốc vào năm 2014.
Chính phủ Bắc Kinh đã thiết lập gian khoan H.I.S. 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, khiến Chính phủ Việt Nam cáo buộc Trung Quốc vi phạm chủ quyền. Điều này dẫn đến một cuộc đối đầu nghiêm trọng về ngoại giao và hàng hải giữa hai nước.
Philippines đã đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài thường trực ở La Hay. Tòa án đã phán quyết rằng đường chiến đoạn không có cơ sở theo luật pháp quốc tế.
Việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo ở Biển Đông bị phát hiện đã làm hỏng hệ sinh Thái Biển, và Trung Quốc còn bị phát hiện đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Mặc dù Việt Nam không tham gia vụ kiện, nhưng đã bày tỏ sự ủng hộ đối với phán quyết của tòa trọng tài.
Đáp lại, Chính phủ Trung Cộng đã bác bỏ phán quyết cho rằng tòa án không có thẩm quyền, dưới chiêu bài bảo vệ chủ quyền quốc gia và phục hưng dân tộc.
Chính phủ Trung Cộng thực sự đang theo đuổi chiến lược bá quyền khu vực, cố gắng kiểm soát Biển Đông và qua đó thống trị bối cảnh chiến lược của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa toàn trị trong quan hóa đảng của Trung Cộng thúc đẩy sự banh chướng của họ ở Biển Đông, ngay cả khi phải trả giá bằng việc sử dụng vũ lực quân sự và các mối đe dọa để phá vỡ trật tự quốc tế.
Để đối trọng với áp lực từ Trung Cộng, Việt Nam đã tích cực tìm cách tăng cường hợp tác an ninh với các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ.
Điều này phản ánh chiến lược của Việt Nam trong cuộc đấu tranh quyền lực toàn cầu và là một sự kháng cự thực tế đối với bá quyền của nước láng giềng Trung Cộng.
Nhìn vào suốt triều dài lịch sử, căng thẳng hiện nay ở Biển Đông cho thấy, trong khi Trung Quốc và Việt Nam duy trì một nền hòa bình bề ngoài, thì cả hai bên đều đang ngấm ngầm tranh giành ảnh hưởng và thành lập các liên minh.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã từng vô cùng thân thiết.
Kể từ khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, tình hình ở Việt Nam cũng đang phát triển.
Trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Bắc Việt đều thành lập với ông Hồ Chí Minh là lãnh đạo.
Chính phủ Bắc Việt và Đảng Cộng sản Trung Quốc chia sẻ mức độ đoàn kết cao về ý thức hệ và chống thực dân.
Sau khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, quan hệ ngoại giao giữa hai nước nhanh chóng phát triển,
Trung Quốc công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và trở thành người ủng hộ chính trị và quân sự quan trọng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc ủng hộ Việt Nam chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, cung cấp cố vấn quân sự, vũ khí và viện trợ kinh tế.
Cả hai nước đều có chung ý thức hệ cộng sản và mục tiêu chống đế quốc, điều này dẫn đến một giai đoạn quan hệ rất thân thiết.
Từ sau đó, Việt Nam đã tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài và khó khăn chống lại ách thống trị của thực dân Pháp.
Chính phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hỗ trợ Bắc Việt Nam bằng cách cung cấp vật tư và căn cứ huấn luyện dọc biên giới, đặc biệt là ở các tỉnh Văn Nam và Quảng Tây.
Trung Quốc không chỉ cung cấp vật chất mà còn cử cả cố vấn quân sự và chuyên gia để hỗ trợ huấn luyện và hướng dẫn chiến thuật cho Việt Nam.
Sau chiến thắng của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và Hội nghị Geneva, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành Bắc và Nam Việt Nam.
Chính phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc tích cực hỗ trợ Bắc Việt tại Hội nghị Geneva, coi đây là một đồng minh quan trọng cho phe xã hội chủ nghĩa.
Sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh ở miền Nam Việt Nam tiếp tục tăng lên khi tình hình ở đó xấu đi.
Bắc Việt đã phát động một cuộc chiến tranh du kích chống lại miền Nam, và chính phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường hỗ trợ, đặc biệt là về cung cấp vũ khí và huấn luyện nhân sự.
Đảng Cộng sản Trung Quốc coi chiến tranh Việt Nam là một chiến trường ý thức hệ quan trọng, và đã đầu tư các nguồn lực đáng kể vào đó.
Sau khi Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc kiên quyết ủng hộ Bắc Việt Nam phản đối các hành động quân sự của Hoa Kỳ, coi đó là sự xâm lược của đế quốc chống lại các nước xã hội chủ nghĩa.
Chính phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó không chỉ cung cấp viện trợ quân sự, mà còn cử cả quân tình nguyện và nhân viên kỹ thuật để hỗ trợ miền Bắc Việt Nam chống lại lực lượng Hoa Kỳ.
Sau khi thống nhất, sự hình thành của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam diễn ra.
Mặc dù hai nước vẫn có chung ý thức hệ, nhưng mối quan hệ Trung-Việt đã dần trở nên phức tạp hơn, Việt Nam tăng cường quan hệ với Liên Xô, và mối quan hệ Trung-Xô lại xấu đi bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ Trung-Việt.
Phần 10 Cuộc chiến biên giới và tiến trình bình thường hóa
Tranh chấp Biển Đông ngày càng gây gắt, Trung Quốc và Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, đặc biệt là về quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Căng thẳng giữa hai nước dần leo thang, Việt Nam tăng cường các đợt khai trình quân sự trong khu vực.
Vào cuối những năm 1970, Việt Nam đưa quân đến Campuchia lật đổ chế độ Khơ Me Đỏ. Điều này đã gây ra phản ứng ngạnh mẽ từ Trung Quốc.
Ngay sau đó, chính phủ Trung Cộng đã phát động một cuộc phản công tự vệ chống lại Việt Nam, gây ra cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt đẫm máu.
Mặc dù cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi, nhưng nó đã đánh dấu sự xấu đi sâu sắc trong quan hệ Trung-Việt.
Sau chiến tranh, cả hai bên tiếp tục đối đầu về các tranh chấp biên giới, xung đột sắc tộc và ảnh hưởng khu vực cho đến cuối những năm 1980, khi mối quan hệ bắt đầu tan băng.
Từ năm 1990 trở đi, với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quan hệ Trung-Việt lại bắt đầu được cải thiện.
Đầu những năm 1990, cả Trung Quốc và Việt Nam đều thấy mình trong một môi trường quốc tế mới. Hai nước lại bắt đầu tìm cách cải thiện quan hệ và bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Sau đó Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết hiệp ước biên giới trên bộ, giải quyết hầu hết các tranh chấp biên giới trên bộ, kết thúc nhiều năm tranh chấp.
Trong những năm 2000, hai nước tiếp tục ký các thỏa thuận phân định hàng hải, làm dịu căng thẳng ở Biển Đông.
Khi quan hệ được cải thiện, Trung Quốc và Việt Nam đã tăng cường quan hệ kinh tế.
Trung Quốc trở thành đối tác gương mại và nguồn đầu tư lớn nhất của Việt Nam, với cả hai nước hợp tác trong các dự án cơ sở hạ tầng lớn về năng lượng, nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác.
Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách mở cửa, đồng thời duy trì sự cảnh giác và độc lập trong các giao dịch chính trị với Trung Quốc.
Việc Chính phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày càng tăng cường khai triển quân sự dọc biên giới và cả ở Biển Đông, báo hiệu ý định chiến lược của họ nhằm giăn đe Việt Nam.
Sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc không chỉ nhắm vào Việt Nam mà còn tạo ra sự hỏng loạn trong toàn bộ khu vực nhằm mục đích mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình.
Việt Nam sẽ tiếp tục tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược giữa hai cường quốc, Trung Quốc và Hoa Kỳ, đồng thời cũng tăng cường ngoại giao đa phương và hợp tác an ninh để tránh trở thành chư hầu của Trung Quốc.
Sự căng thẳng và tăng tăng của quan hệ Trung-Việt có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định của toàn bộ khu vực Đông Nam Á.
Tranh chấp Biển Đông không chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc và Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến động lực an ninh của toàn bộ khu vực châu Á, Thái Bình Dương.
Thưa quý vị, chương trình của chúng tôi hôm nay xin kết thúc tại đây. Quý vị có suy nghĩ hay nhận định gì về các sự kiện được đề cập?
Một bên là sự phụ thuộc kinh tế chặt chẽ, một bên là những xung đột chủ quyền không thể hòa giải trong suốt triều dài lịch sử.
Liệu Việt Nam có thể tiếp tục chiến lược cân bằng này trong bao lâu?
Hãy cho chúng tôi biết quan điểm của quý vị trong phần bình luận bên dưới video.
Để không bỏ lỡ những phân tích truyền sâu tiếp theo từ kênh, quý vị đừng quên nhấn đăng ký và bật biểu tượng chuông thông báo.
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm và đồng hành của quý vị.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và gia đình.
