"Tây Sơn Tam Kiệt" Khởi Binh: Cuộc Nội Chiến TÂY SƠN - CHÚA TRỊNH - CHÚA NGUYỄN

Đình Sự
537 người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Vào thế kỷ 18 thì Đại Việt đã mở rộng rất lớn trải dài từ Bắc vào Nam.
Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ Trịnh-Nguyễn-Phân-Tranh, đất nước bị chia làm hai với danh giới là Sông-Danh-Quảng-Mình.
Đảng ngoài hay còn gọi là vùng Bắc-Hà thì vua lê đóng đô ở Đông-Kinh tức thành Thăng-Long thời Lý-Trần.
Nhưng không có thực quyền mà quyền lực do Chúa Trịnh kiểm soát.
Đảng trong thì giới sự kiểm soát của Chúa Nguyễn và đóng đô tại Phú-Xuân.
Trong thời kỳ này, rất nhiều cuộc khởi nghĩa đã đổ ra cả Đảng trong và Đảng ngoài.
Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa đều bị đàn áp.
Tại Đảng trong, Chúa Nguyễn là Vũ vương Nguyễn Phúc-Khoát đã mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Tuy nhiên, cuối đời, ông lại bỏ bê triều chính, giao nhiều quyền lực cho Trương Phúc-Loan.
Năm 1765, Chúa Nguyễn Phúc-Khoát qua đời.
Ông di chiếu cho con là Nguyễn Phúc-Luân lên thay.
Tuy nhiên, quyền thần Trương Phúc-Loan đã thao túng, không làm theo di chiếu mà sai người bắt Nguyễn Phúc-Luân giam vào ngục
và lập người con khác của Vũ vương là Nguyễn Phúc-Xuân mới 12 tuổi lên thay.
Trường Phúc-Loan khi đó tự sưng là quốc phó, nắm giữ toàn bộ quyền lực.
Nguyễn Phúc-Luân sau đó đã chết trong ngục.
Lúc này, Đảng trong đã suy yếu trầm trọng.
Sù cao, thuế nặng, mùa quan bán tước và sự lũng đoạn của quyền thần Trương Phúc-Loan.
Dân chúng ngày càng đói khổ lầm than, nên mâu thuẫn xã hội đã được đẩy lên đỉnh điểm.
Nông dân thì bị chiếm ruộng vườn, sống trong cảnh bân cung, nhiều người đã phải đi phiêu bản, lâu tán.
Lòng dân trở nên chán ghét Chúa Nguyễn.
Chính vì vậy, đã làm bùng nổ các phong trào nông dân khởi nghĩa.
Năm 1771, phong trào Tây Sơn đã nổ ra ở Đảng trong.
Tây Sơn tam kiệt, gồm Nguyễn Nhạp, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã dựng cờ khởi nghĩa.
Với khẩu hiệu đánh nổ quyền thần Trương Phúc-Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương
và lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo,
nên nghĩa quân đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các tầng lớp nhân dân.
Ngày khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, rất nhiều anh hùng đã quy tụ về Tây Sơn,
như Trần Quang Diệu, Mùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Tuyết, Võ Đinh Tú, Ngô Văn Sở.
Ban đầu, nghĩa quân hoạt động ở vùng Tây Sơn, nhưng thấy vùng Tây Sơn Hạ không an toàn,
nên Nguyễn Nhạp cho giúp Tổng Hành Dinh lên Tây Sơn Trung,
tức đoạn đèo An Khê ngày nay để làm khu mật viện.
Ông vẫn cho triển khai phát triển kinh tế, giao thương tại vùng Tây Sơn Hạ.
Năm 1773, thanh thế của nghĩa quân Tây Sơn đã rất mạnh.
Nguyễn Nhạp bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng.
Tháng 5 năm 1773, quân Tây Sơn tấn công 2 huyện Phù Ly và Bồng Sơn.
Tháng 8 năm 1773, Nguyễn Nhạp tiếp tục cho quân tấn công huyện Tùy Viễn.
Lực lượng của Tây Sơn rất mạnh, đánh đầu tháng đó.
Tháng 9 năm 1773, Nguyễn Nhạp quyết định đánh thành Quy Nhơn để có thể làm chủ cả khu vực này.
Thành Quy Nhơn có tường cao hảo sâu nên rất khó tấn công thành.
Mặt khác, tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên lại đóng cửa cố thủ không giao chiến.
Do vậy, để đánh chiếm thành Quy Nhơn thì Nguyễn Nhạp đã phận dụng mưu kế rất đáo bạo.
Ông tự ngồi vào củi cho quân lính khiêng tới thành Quy Nhơn để nộp cho tướng giữ thành.
Quân lính Tây Sơn giả làm bắt tướng về hàng với chúa Nguyễn.
Nguyễn Khắc Tuyên tin là thật nên cho quân áp giải Nguyễn Nhạc vào thành.
Nửa đêm, quân Tây Sơn trá hàng, mở củi cho Nguyễn Nhạc.
Ông cùng binh lính nổi dậy phối hợp với quân ngoại viện từ ngoài ua vào, đánh chiếm thành Quy Nhơn.
Nguyễn Khắc Tuyên sợ hãi, vội bò cả gia đình và ấn tín, chạy trốn.
Chiếm được thành Quy Nhơn cũng có nghĩa là chiếm được vị trí ten chốt, án ngữ trục lộ Bắc Nam của xứ Đàng Trong,
khiến cho lực lượng của chúa Nguyễn bị chia cắt làm hai, rất khó để liên lạc phối hợp ứng phó.
Thắng lợi này của Tây Sơn đã gây được tiếng vang rất lớn.
Hào kiệt và nhân dân các địa phương nộ nước tìm đến với Nguyễn Nhạc.
Trong đó có hai nhân vật rất đặc biệt là Lý Tài và Tập Đình.
Hai nhân vật này đều là người Trung Quốc sang làm ăn buôn bán ở Đại Việt.
Sau khi hạ thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc xoay các tướng tiến đánh các vùng.
Phía Bắc, ông cho các tướng tấn công lên vùng Quảng Ngãi.
Ở phía Nam, ông lệnh cho tướng Ngô Văn Sở cùng Nguyễn Văn Lộc, Lê Văn Hưng
đánh chiếm các phủ lị gồm Phú Yên, Bình Thuận và Diên Khánh.
Diên Khánh chính là tỉnh Khánh Hòa ngày nay.
Tháng 11 năm 1773, chúa Nguyễn nhận thấy quân Tây Sơn rất mạnh
và đang đánh chiếm các vùng đất và đã chia đôi chúa Nguyễn.
Tình thế cực kỳ nguy cấp.
Chúa Nguyễn xài trưởng cơ Nguyễn Cửu Thấm, trưởng cơ Nguyễn Cửu Sách,
cai cờ Phan Tiến, cai đội Nguyễn Vệ, Tổng Nhung Tấm Sùng, Tán Lý Đỗ Văn Hoàng,
hợp binh đóng giữ Quảng Nam để chuẩn bị tiến đánh Quy Nhơn.
Lúc này, Nguyễn Nhạc giao lại thành Quy Nhơn cho Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân Trấn Dữ
để cung cấp hỗ trợ các cánh quân đang đánh vào phía Nam.
Còn ông cùng Lý Tài Tập Đình dẫn quân ra Bắc để đón đánh quân chúa Nguyễn.
Quân chúa Nguyễn chia hai đường thủy bộ tiến đánh Tây Sơn.
Đạo bộ binh khi tiến tới đèo Bình Đê bị Lý Tài Tập Đình chặn đánh, cánh bộ binh tàn vỡ.
Đạo thủy binh vừa xuất quân ra biển thì gặp bão lớn, thuyền đắm rất nhiều, đoàn thuyền trôi rạt vào sông Trà Khúc.
Cùng lúc đó, quân của Nguyễn Nhạc tập kích tấn công.
Hai cánh quân chúa Nguyễn đại bại, rút chạy về Quảng Nam.
Nhân cơ hội, Tây Sơn tiếp tục tiến binh đánh xiếm Quảng Ngãi.
Nguyễn Nhạc cho quân đắp thành Bến Ván, tức Bình Sơn, Quảng Ngãi ngày nay
để chấn thủ phía Bắc, sau đó ông rút quân về thành Quy Nhân.
Trong khi đó, cánh phía Nam cũng toàn thắng.
Như vậy, đến cuối năm 1773, vùng kiểm soát của Tây Sơn đã kéo dài từ Quảng Ngãi đến Diên Khánh.
Để cứu vãn tình thế thất bại, chúa Nguyễn tiếp tục xuất đại binh đánh Tây Sơn.
Tháng 12 năm 1773, chúa Nguyễn cử tiết chế Tôn Thất Hương dùng quân thủy lục tiến đánh Tây Sơn.
Đạo thủy quân vượt biển đánh thẳng vào bồng Sơn, đạo lục quân tiến đánh Bến Ván.
Số lượng quân chúa Nguyễn quá đông, Bến Ván ngay lập tức thất thủ.
Tôn Thất Hương hợp hai đạo quân đánh chiếm núi Bích Khê.
Đầu năm 1774, chúa Nguyễn lệnh trưởng cơ Tôn Thất Thăng dẫn quân yểm trợ Tôn Thất Hương để tiến đánh Tây Sơn.
Nguyễn Nhạc nghe tin quân Nguyễn tiến đánh núi Bích Khê.
Ông lệnh cho Tập Đình và Lý Tài men theo đường rừng, tiến ra đóng quân ở Trả Câu để chặn đường rút quân.
Còn ông dẫn quân đánh núi Bích Khê.
Tại Trần núi Bích Khê, một trận đại chiến nổ ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn.
Tiết chế Tôn Thất Hương bị chém tại trận.
Quân Nguyễn thua chạy.
Khi chạy tới Trả Câu, bị Tập Đình và Lý Tài phục kích, quân Nguyễn bị diệt gần hết.
Thừa thắng, quân Tây Sơn tiến chiếm toàn bộ vùng Quảng Ngãi.
Cánh quân của Tôn Thất Hăng khi vừa tới Quảng Nam thì nghe tin Tôn Thất Hương bị đại bại
và quân Tây Sơn đang tiến đánh Quảng Nam.
Tôn Thất Hăng sợ hãi, rút quân.
Trước tình thế cực kỳ nguy cấp khi quân Tây Sơn đang tiến đánh vào Quảng Nam
và tiến sát gần tới Phú Xuân,
chúa Nguyễn ra lệnh cho lưu thủ Long Hồ Tấm Phúc Hiệp
đang đóng quân ở phía Nam, đem quân phản công Tây Sơn.
Phía Bắc thì chúa Nguyễn sai nội hữu trưởng Tôn Thất Nghiêm,
đem quân đánh vào Quảng Nam.
Tháng 4 năm 1774, Tống Phúc Hiệp tiến đánh vào Tây Sơn
và chiếm lại được Bình Thuận và Diên Khánh.
Tướng Lê Văn Hưng và Nguyễn Văn Lộc không chấm nổi
nên luôi quân về Phú Yên để đóng binh.
Tây Sơn lúc này chỉ quản lý từ phía Nam Quảng Nam tới Phú Yên.
Trong khi đó, tại vùng Bắc Hà,
Chúa Trịnh sau thời kỳ hòa hoãn với Chúa Nguyễn thì bắt đầu động binh.
Nhận thấy cuộc chiến giữa Chúa Nguyễn và Tây Sơn
đang diễn ra ác liệt ở Đảng Trong,
chính là cơ hội để Chúa Trịnh nam tiến.
Tháng 5 năm 1774, Chúa Trịnh Xâm bắt đầu cho quân tham chiến.
Tướng Hoàng Ngũ Phúc được lệnh mang 3 vạn quân tiến đánh vào Phú Sơn.
Chúa Trịnh xuất quân cũng lấy danh nghĩa trừng phạt quyền thần Trương Phúc Loan.
Tháng 9 năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc đã tập hợp quân tại Sông Danh.
Đây là vùng chia cắt giữa Đảng Trong và Đảng Ngoài.
Đầu tháng 10 năm 1774, quân Trịnh bắt đầu vượt Sông Danh,
tấn công về Nam và tiến chiếm vùng Quảng Bình.
Tháng 11 năm 1774, Chúa Trịnh Xâm tiếp tục mang quân trợ chiến và đóng giữ tại Nghệ An.
Lúc này, Chúa Nguyễn Phúc Thuần không chống đỡ nổi buộc phải bắt trói Trương Phúc Loan giao nộp cho quân Trịnh.
Tuy nhiên, với ý định nam tiến nên quân Trịnh vẫn tiếp tục tiến quân về Phú Sơn.
Tháng 12 năm 1774, quân Trịnh tấn công thành Phú Sơn.
Chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ chạy về Quảng Nam.
Đầu năm 1775, quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc tiến đánh vào Quảng Nam.
Trong khi đó, Hoàng Ngũ Phúc sau khi chiếm được Phú Sơn vẫn tiếp tục nam tiến.
Tháng 2 năm 1775, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân để tiến về Quảng Nam.
Chúa Nguyễn không chống được cùng Nguyễn Ánh bỏ chạy theo đường biển về thành gia định.
Nguyễn Phúc Dương chạy trốn.
Tuy nhiên đến tháng 4 năm 1775 thì bị các tướng Tây Sơn bắt được.
Trong khi chúa Nguyễn bỏ chạy vào Nam thì cũng là lúc quân Tây Sơn sẽ đối đầu trực tiếp với quân Trịnh.
Với sức mạnh của chúa Trịnh ở vùng Bắc Hà nên quân Tây Sơn không chống được.
Tướng Tập Đình thua chạy bỏ về phương Bắc.
Nguyễn Nhạc cùng Lý Tài mang theo Nguyễn Phúc Dương rút quân về thành Quỳ Nhân.
Tháng 5 năm 1775, sau khi rút về gia đình, chúa Nguyễn lệnh cho Tống Phúc Hiệp tiếp tục tiến quân đánh vào Phú Yên.
Phú Yên ngay lập tức đã bị mất.
Tây Sơn chỉ còn giữ vùng đất từ Quỳ Nhân tới Quảng Ngãi.
Tình thế của quân Tây Sơn lúc này rất nguy hiểm, bị kẹp ở hai phía.
Nếu mang quân ra đường đầu với cả hai phía thì chắc chắn Tây Sơn sẽ bị tiêu diệt.
Trong tình thế lưỡng đầu thọ địch, Nguyễn Nhạc đã xin giảng hoa với chúa Trịnh.
Trên danh nghĩa, ông đầu hàng Nhả Lê và xin làm quân tiên phong để tiến đánh chúa Nguyễn ở phía nam.
Hoàng Ngũ Phúc thấy Nguyễn Nhạc đầu hàng và muốn mượn tay Tây Sơn để diệt chúa Nguyễn nên đã trình tấu lên chúa Trịnh Sâm.
Chúa Trịnh Sâm đồng ý phương án và phong Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân.
Tạm yên phía bắc, thoát khỏi tình thế nguy hiểm bị ép từ hai phía, Nguyễn Nhạc bắt đầu dôn lực lượng đánh chúa Nguyễn ở phía nam.
Tuy nhiên, lúc này các tướng theo Nguyễn Nhạc là tập đình đã chạy trốn, lý tài thì liên tiếp thua trận.
Nên Nguyễn Nhạc đã giao quyền cho Nguyễn Huệ, lúc này mới có 22 tuổi, làm tổng chỉ huy tiến đánh vào Phú Yên.
Đảm trách sứ mệnh rất lớn khi mới 22 tuổi, trong khi nghĩa quân Tây Sơn đang gặp rất nhiều khó khăn về lực lượng tới tinh thần.
Phải đối đầu với tướng Tống Phúc Hiệp rất nhiều kinh nghiệm và đang có hơn 2 vạn quân chấn giữ Phú Yên.
Nguyễn Huệ đã làm như thế nào để có thể trở thành tổng chỉ huy xuất sắc và tạo ra bước ngoặt quan trọng trong phong trào Tây Sơn?
Mời các bạn đón xem trong video tiếp theo của kênh nhé!
