Tụ quân nổi dậy phò Lý diệt Trần loạn thế tạo ra anh hùng Nguyễn Nộn 72 nơi thờ phụng #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
2 Lượt xem video·4 thg 4, 2025
Duy Hà Nội Phố xin bến chào quý vị và các bạn
Thưa quý vị, hiện tại Duy đang đứng ở miếu Công Đình
Đây là một trong những di tích lịch sử
Trong đây thì thờ một trong những vị nhân thần
Đó là Nguyễn Nội
Ngài sống vào cuối chiều Lý và đầu chiều Trần
Theo như một số truyền thuyết để lại ông là đời thứ năm của cụ Nguyễn Bậc
Ngôi miếu thờ này là một trong 72 ngôi miếu thờ tại khu vực Kinh Bắc Xưa
Ngôi miếu này cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 20 km
Vậy, Nguyễn Nội là ai?
Cũng như ngôi miếu thờ này hiện tại đang có những di tích gì ở đây?
Mời quý vị và bạn của Duy tìm hiểu nhé
Trước khi quý vị xem tiếp, quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất
Cảm ơn quý vị
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên
Xíu lê lệ số 0989-260-877
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, Nhận, Giao Hàng, Toàn Quốc
Thưa quý vị, Lam Cung Đình từ xa xưa vốn là vùng đất cổ có vị trí chiến lược quan trọng
trên đường Thủy phía Đông thành Cao Lòng
Con đường dẫn đến miếu Cung Đình hiện nay tương truyền đó là con đường quần ngựa của họ trịnh xưa
Khi các chố trịnh có ý đồ xây dựng một cơ ngơi riêng ở Châu Quỳ
Vì thế trong tư liệu ở Viện Liên Cứu Hán Nôn vẫn còn ghi chép được đôi cầu đối ở tứ Trụ Đình
Bãi địa Trấn Thanh Phi Mã Lộ, Đức Giang Thủy Lĩnh tức Kỳnh Ba
Vị thần được thơ tại miếu Cung Đình là Nguyễn Nội
Miếu Cung Đình được xây dựng từ khá sớm
Hiện nay tại miếu còn lưu giữ được sóc phong có niên hiệu Dương Đức năm thứ 3 từ năm 1674
Đây là những dữ liệu quan trọng để cẳng định sự tồn tại và phát triển của ngôi miếu
Miếu Cung Đình được xây dựng gần sân của Đình Cung Đình, trải qua một thời gian dài tồn tại
Miếu Cung Đình đã được tu sửa nhiều lần
Hiện nay miếu Cung Đình được xây dựng lại theo hướng Đông
có kết cấu theo kiểu hình chuôi vồ 2 cột trụ
Đình trụ là 4 con chim phượng trụ đầu vào nhau tạo hình trái rành rành
Phía dưới là đấu vuông thót đáy đặt trên hình mui luyện đắp mặt hồ phụ
Phía dưới bổ khung đắp đề tài rồng, phượng, thân trụ tạo khung cân đối
Mái của miếu lợp ngói ta bờ nóc đắp đôi rồng trầu mặt trời
bờ dài đắp bậc tam cấp trang trí hình hòa tranh
Phần cách giữa các cửa nghi môn là những cột trụ đắp cầu đối
Bên trên tạo khung trang trí đắp hình hoa lá, rồng trầu mặt nguyệt
Vậy rồng là những mảnh gốm cổ ốp vào
Hiện nay miếu Cung Đình còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị
về mặt lịch sử và kiến trúc nghệ thuật như một cuốn thần phả sao chép lại vào thời tự Đức thứ 18
từ năm 1865. Mười đạo sóc phong, sát sớm nhất có niên hiệu Dương Đức năm thứ 3 từ năm 1674
Trong miếu có hai câu đối
Nhật Nguyệt mông hồi thiên hiệu Lý, Giang Sơn thề chi địa vô trần
Dình nghĩa là
Ngày tháng ước ao trời giúp Lý
Non sông thề chi đất không trần
Nhất cảnh an ninh trung thụy khí, tứ thì cảnh sắc, nhẹ mai hương
Dịch nghĩa một xóm yên vui hôn khí lạ, bốn mùa cảnh sắc ngát hương mai
Miếu Cung Đình mang cho mình bề dày lịch sử hơn 300 năm
đã tạo cho di tích một không gian linh thiêng cả về mặt kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử
Kiến trúc của miếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn
Sông đi qua một loạt các mảng trạng của vỉ kèo, cốn mê, cốn, đầu bầy, cửa võng v.v.
đã khẳng định một vị trí quan trọng của nghệ thuật trạng khoác đường thời
với bàn tay khéo léo của người nghệ nhân
đã để lại cho hôm nay và mai sau một công trình văn hóa
một tác phẩm nghệ thuật tuyệt tác đường thời
Đền Trúc Lâm cùng với Chùa Linh Quang và Đình Miếu Cung Đình
là một cụm di tích tiêu biểu trong quần thể kiến trúc có quan hệ mật thiết và gắn bó với nhau
Vị thần được thờ tại Miếu Cung Đình là Nguyễn Nộn
Nguyễn Nộn, ông được phong là Thượng Đẳng Thần Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn
Trong chính xử, những tư liệu ghi chép về ông có khá nhiều như việt sự tiêu án,
đại việt sử ký toàn thư, việt sự lược. Các tên liệu này cho rằng
Nguyễn Nộn, năm sinh chưa biết, mất năm 1219 hoặc 1299
Theo một số gia phà họ Nguyễn, Nguyễn Nộn là cháu năm đời của Nguyễn Bạc
và là tổ của họ Nguyễn Giang Biêu, Tống Sơn Thanh Hóa, là tổ tiên của chúa Nguyễn.
Tuy nhiên, chính xử nhà Nguyễn không xác nhận điều này.
Trong sách khâm định việt sự thông giám cương mục của chính nhà Nguyễn, hậu thế của các chúa Nguyễn
xác nhận Nguyễn Nộn là người làm phù mình huyện Tiền Du nay là phù dực thuộc xã phù đồng huyện Gia Lâm,
TP Hà Nội. Như vậy, Nguyễn Nộn không phải người Tống Sơn Thanh Hóa.
Riêng về quan hệ giữa Nguyễn Bạc và Nguyễn Nộn cũng có những nghi vấn.
Nguyễn Bạc mất năm 1979, thọ 56 tuổi. Nguyễn Nộn là cháu năm đời, mất vì bệnh 5229.
Sau ngày thành lập 5226, nhà Trân con gà công chúa ngoạn thiềm cho Nộn để lung lạc và làm gián điệp
đưa tin cho Nộn ra ngoài, nhưng không thành công. Giả sử Nguyễn Nộn còn khỏe thì lúc mất cũng khoảng
70 tuổi, tức là sinh khoảng 5160. Còn Nguyễn Bạc là Nguyễn Đệ, làm quan giới thời Lê Đại Hành,
mất năm 1005. Tính ra từ Nguyễn Đệ và Nguyễn Nộn là trên 60 năm mới sinh ra một thế hệ. Như vậy
có thể các thế hệ kế tục nhau được ghi trong giao phả đều là còn thứ, thậm chí còn út. Dù điều đó
vẫn có thể xảy ra, nhưng khoảng cách này không hợp lý. Nhất là người xưa thường kết hôn sớm và tuổi tội
tóc thấp. Các phải hệ dòng tộc Việt Nam đều có khoảng cách giữa các thế hệ chỉ 30-35 năm.
Hiện nay căn cứ và một số tương liệu còn ghi chép về ông. Chúng ta có thể biết rõ hơn về phần
nào tần thế và sự nghiệp của ông. Theo sử sách còn ghi lại, Nguyễn Nộn là một sứ quân nổi dậy
chống lại triều đình vào cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trân trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Nộn người
xã Phù Dược huyện Tiên Du. Theo đại viện sử lược, Nguyễn Nộn là người có gương mặt đẹp,
lại có lòng bao dùng, có tính bình thản thanh thoát. Theo phải hệ ông Nguyễn, ông là chó năm
đời của định quốc công Nguyễn Bạc thời nhà Đinh. Sử sách chép không thống nhất về suốt thế của
Nguyễn Nộn. Theo sách đại viện sử ký toàn thư, việc sử lược, việc sử tiêu án, câm định việc sử,
thông dám cân bộ, ông vốn là cư sĩ ở Hương Phù Động. Tháng 8 năm 1218, ông bắt được vàng và
ngọc mà không đem rồng vua Lý Huệ Tông, do đó triều đình xuống chiếu bắt giam ông. Tháng 2 năm 1219,
quyền thân Trân Tự Khánh thấy ông có tài, bèn tâu vua Huệ Tông xin thà cho Nguyễn Nộn, cho đi
theo quân đánh giặc để trột tội. Vua Huệ Tông bằng lòng cho, tháng 10 năm đó, Tự Khánh xài
Nguyễn Nộn đem quân đi đánh người màn ở Quảng Hoài. Tháng 3 năm 1220, Nguyễn Nộn nhân cầm quân trong
tay không trở về chiều, giữ Hương Phù Động, tự xưng là Hoài Đạo Vương, dâng biểu xưng thần,
xin đi dập loạn để trụt tội. Vua Huệ Tông xài người đem sắc bỉ đến tuyên dụ, xong vì vua có bệnh,
không thể trễ ngữ được. Họ trần cũng đang biểu tính lấy ngôi nhà Lý nên chưa tính tới Nguyễn Nộn.
Tháng 2, định luật lệnh điều lệ, xài Trần Thủ Độ đem quân đi đánh Nguyễn Nộn, đoàn thượng và các man.
Lúc ấy, nhân thế suy yếu của chiều Lý, giặc cướp nổi dậy nhiều, các người man ở vùng núi Tàn Viên,
vùng núi Quảng Oai, quế lẫn nhau. Nguyễn Nộn chiếm cứu vùng Bắc Giang, bế giơ Nộn và thượng binh thế
còn mạnh, chưa thể hạng phục được, mới phong cho Nộn là Hoài Đạo Vương, chia cho các quận Đông Hàn ở Bắc Giang.
Tuy nhiên, theo đại việt sửa lược quân sự ra đời thời Trần, Nguyễn Nộn vốn là bộ tướng của tướng
Trần Tự Khánh. Theo Tự Khánh tham gia vào những cuộc trinh chiến với các sứ quân và chống lại cả nhà Lý,
từ đầu thời Lý, hợi Tông, chứ không phải tới năm 1218 mới xuất hiện trên chính trường.
Theo sách này, năm 1213, Trần Tự Khánh sai người sang Bắc Giang lừa mời ông về. Nguyễn Nộn về đến nơi,
Trần Tự Khánh dùng dây thép trói lại 5 vòng, giam cầm ông. Tuy nhiên, chưa rõ vì lý do gì mà Nguyễn Nộn
bị Tự Khánh bắt giam. Tháng 9, Trần Tự Khánh mở trói dây thép cho Nguyễn Nộn. Tuy ở trong cái ngục tù mà
Nguyễn Nộn thần sắc vẫn tự nhiên, khi thấy bọn dũng sĩ nhảy đối lại, ông mang theo cả cái dây xích sắt mà nhảy,
nhưng lại nhảy hơn bọn dũng sĩ. Trần Tự Khánh trông thấy lấy làm lạ, bèn thả ông ra lại cho làm tướng và đem
người con gái của bà gì mà gà trò. Sau đó Tự Khánh lại trao cho ông 2 ấp là Trần Thề và Cả Lũ.
Năm 1213, Nguyễn Nộn cầm một cánh quân họ Trần chống lại quân Châu Đình do đích thân Lý Huệ Tông
và Thái Sư Đảm Dĩ Mông chỉ huy. Ông cùng các tướng họ Trần đánh bại quân nhà Lý, em họ Trần Tự Khánh
là Trần Thủ Độ, cùng Trần Hiến Sâm ở Tà Ngạn tiến đánh thắng quân Châu Đình. Nguyễn Nộn từ Quốc Oai
tiến đến Chợ Dừa cùng Phan Lân đánh thắng các tướng ở Hồng Châu, lãn đoàn cấm, vũ hốt. Lý Huệ Tông
thất thế phải chạy lên Lạng Châu. Sau trận đó, ông được Trần Tự Khánh giao giữ vùng Bắc Giang.
Trần Tự Khánh lên Lạng Châu giữa Huệ Tông không được liên lập hoàng thân khác lên ngồi,
tức là vua Cả Ninh. Năm 1214, anh em họ đoàn tấn công đất Bắc Giang,
hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu tức Gia Lường Bắc Ninh. Nguyễn Nộn giết chết được đoàn Nguyễn,
nhưng cũng bị thương ở lưng. Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn,
tướng ở Cam Giá thuộc thị xã Sơn Tây ngày nay, là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Nhân thời cơ đó,
Nguyễn Nộn cũng phản lại Tự Khánh xây dựng một thế lực rất lớn. Do việc cắt cứ của Đỗ Bị,
Nguyễn Nộn, kinh thành Thăng Long bị uy hiếp. Tự Khánh lấy hết vàng bạc của cải các kho và phóng hỏa đốt
Kinh Đô rồi đưa vua mới là Cả Ninh xuống hành cung lí nhân thuộc Hà Long ngày nay.
Nguyễn Nộn đem binh đến Thăng Long đánh nhau với Tự Khánh. Huệ Tông và Thái Hậu đang ở Nam Sách,
trở về Thăng Long phòng cho Nguyễn Nộn, Tước Hầu để mượn tay Nộn chống họ Trần.
Từ đó, cuộc diện trong nước lúc này đại thể hình thành ba thế lực. Phía Bắc là Nguyễn Nộn,
phía Đông là Đoàn Thượng, phía Nam là Trần Tự Khánh. Tháng 1 năm 1215, hai tướng của Trần Tự Khánh
là Nguyễn Đương và Nguyễn Giai thông đồng với Nguyễn Nộn đánh Trần Tự Khánh. Nhưng Đường và Giai lại
hành Trần Tự Khánh. Tháng 2, Nguyễn Nộn được phòng Tước Vương. Tháng 3, Nguyễn Nộn đánh thắng Nguyễn Đường
và Nguyễn Giai. Sau đó một loạt lực lượng các cứ khác nổi dậy chiếm cứ các nơi.
Sau nhiều lần bôn tẩu, cuối cùng năm 1216, Lý Huệ Tông buộc phải dựa vào anh vợ là Trần Tự Khánh
là lực lượng mạnh hơn cả. Tự Khánh lại phụng thờ Huệ Tông,
mượn tiếng Huệ Tông để chinh phục được nhiều sứ quân khác. Huệ Tông hạ chiếu đày Nguyễn Nộn làm lĩnh
thưởng. Kết cục của Nguyễn Nộn cũng không được xử xách chép tống nhất. Các nguồn số liệu khác nhau
ghi trên lệch thời gian khá nhiều. Chỉ có một điểm chung duy nhất là các nguồn sử xách đều
xác nhận ông chết bệnh. Theo đại viện sử lược tháng 6 năm 1219, Trần Tự Khánh sai tướng Vương Lê đeo
binh về Nam Sách đánh Nguyễn Nộn. Quân hai bên giảm cò, Trần Tự Khánh không thắng nổi quân của Nộn.
Tháng trạp, Nguyễn Nộn bị bệnh nặng. Quân của Trần Tự Khánh đang đóng ở Bến Triều Đông
mà Nguyễn Nộn đã chết rồi. Ngày canh ngọ, tướng của Nộn là phí thám Gia Hàng Trần Tự Khánh,
có mang theo tái hậu và các công chúa, tức còn vua hội tông. Như vậy, trong khi vua hội tông
trong tay Trần Tự Khánh thì có một bộ phận tôn thất của nhà Lý lại trong tay Nguyễn Nộn.
Theo các sách sử khác, sau năm 1219, Nguyễn Nộn vẫn còn hoạt động. Năm 1220, trong khi các sử
quân khác bị dẹp thì Nguyễn Nộn và đoàn thượng vẫn là hai sử quân tồn tại chống lại triều đình.
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, em ruột là Trần Thừa và em họ là Trần Thù Độ lên ngồi,
lên thay nắm quyền điều hành việc triều đình. Thế quân của Nguyễn Nộn ngày càng mạnh. Nguyễn Nộn chiếm
cứ Bắc Giang, đoàn thượng chiếm cứ Hồng Châu. Năm 1225, Trần Thù Độ chủ trương việc nhà Trần thay
nhà Lý và lo việc đánh dẹp. Tuy nhiên bây giờ Nguyễn Nộn và đoàn thượng binh thế còn mạnh,
chưa dễ hạp phục được. Trần Thù Độ bèn phong cho Nộn là hoài đạo vường,
chia cho các huyện Bắc Giang Thượng, Bắc Giang Hạ, Đồng Ngàn.
Tháng 12, năm 1228, Nguyễn Nộn đánh bại, giết chết đoàn thượng. Nhân đó, ông Ngọc và quân thượng
cướp bắt con trai, con gái, tài sản, châu ngựa, đỡi Hồng Châu. Con ngọc thượng là Văn đem ra thuộc
biến hàng. Thành thế của Nguyễn Nộn rất lưỡng lẫy. Trần Thù Độ lo lắng. Triều quân chống giữ
và sai xứ đem thư đến chúc mừng, ra phong độn là hoài đạo hiếu vũ vường.
Sau đó Thù Độ lại đưa công chúa ngoạn thiềm gà cho ông để ngâm giò la tiên tức.
Biết ý Thù Độ muốn dùng công chúa để lung lạc mình và giò la tiên tức. Ông chia nhà tướng canh
giữ riêng chỗ công chúa ở. Vì thế công chúa không thể báo được tin gì cho trường đình.
Tháng 3, năm 1229, Nguyễn Nộn tự xưng là đại táng vương, hàm trời bùng thả,
che chén chơi bờ bờ bãi. Tuy nhiên, ông cũng tự lượng sức để biết mình không thể cùng đối lập
với nhà Trần. Định đến tháng 10 sẽ vào trầu, xong còn do dự chưa quyết. Cuối năm đó ông ốm nặng,
trường đình xa nội nhân tới hỏi thăm. Nguyễn Nộn cố gượng ăn cơm, phiên ngựa để tỏ ra còn
khỏe mạnh. Nhưng không bao lâu thì ông qua đời. Lực lượng của ông nhanh chóng tan giá.
Theo sự cũ còn lưu truyền đến ngày nay, sinh thời Nguyễn Nộn là người có uy tín,
được dân gian truyền lời ca tụng, nề phục khi qua đời dân tựa lập đền thờ. Và với những sóc
được ban của nhà Lý, nhà Trần, Nguyễn Nộn sáng danh đời làm tướng, xứng đáng là tấm gương
kiên trì, nhẫn lại, giữ đức thủy chung với vận mạng thống nhất Giang Sơn, chứ không phải làm
phản như sự ra phong kiến gắn ghép cho ông. Bởi vì Nguyễn Nộn dẹp yên sự chống đối khắp nơi
cũng chỉ vì muốn duy trì thời hoàng kim của nhà Lý. Tuyết rằng, trong suốt cuộc đời làm quàn,
Nguyễn Nộn đã phải chứng kiến sự hoàng trời vô độ làm mất uy tín vương chiều của Lý Cao Tông,
khiến nổi loạn dết lên khắp nơi, nhiều quan đại thần bất bình bẹp phái hình thành khắp nơi.
Trong khi đó, khi nối ngôi thì Lý Huệ Tông lại quá nhu nhược, tự bỏ việc chiều chính,
không nắm được quyền nội trị, ngoại bàng. Vì thế Nguyễn Nộn phải ngược xuôi,
xuôi ngược khắp các miền đất nước, mong góp sức mình với công cuộc kiến tiết quốc gia,
song lực bất tồng tâm. Nguyễn Nộn đã phải quay với thơ quật và chính dòng xoáy lịch sử.
Số vận bi thường của ông cũng là giai đoạn bi đáp trong lịch sử phòng kiến Việt Nam. Tuy nhiên,
ông cũng đã làm lên những dấu ấn khó phai mờ trong tâm thức nhân dạng.
Cụ Nguyễn Nộn mất ngày 1 tháng 3 năm kỳ xỉu tức 5.229 tại Làng Phù Dực,
trong gia phả dòng tộc Nguyễn Bạc-Đại Tông, còn lưu giữ tại khởi nguyên đường nhà tờ tổ.
Có ghi rõ, Cụ Nguyễn Nộn được an táng tại Cánh Đồng Mực, Làng Phù Minh, Tổng Phu Đồng,
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chính là khu đồng cửa nghe Làng Phù Dực thuộc xã Phu Đồng,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày nay. Mà chính là hình ảnh quý vị đang xem ở đây.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi. Quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh Youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất.
Hẹn gặp lại quý vị trong những video sắp tới.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lên lệ số 0989-260-877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, Nhận, Giam Hàng, Toàn Quốc.
