Lam Sơn Tụ Nghĩa: Nguyễn Trãi gặp minh chúa Lê Lợi - Cuộc chiến bắt đầu

Đình Sự
537 người theo dõi
Khởi nghĩa Lam Sơn nơi những anh hùng hào kiệt hội tụ.
Khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc khởi nghĩa của người Việt do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự cai trị của nhà Minh, bắt đầu từ đầu năm 1418 và kết thúc với thắng lợi của Nghĩa quân Lam Sơn cùng sự rút lui về nước của quân Minh sau Hội thề Đông Quan cuối năm 1427
| Dòng Chảy Sử Việt |#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun
Năm 1407, sau khi thành đa bang thất thủ dẫn tới toàn tuyến phòng thủ xụp đổ, nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Đại Ngu đã bị xóa sổ và sắp nhập thành một tỉnh của Đại Minh với tên gọi Giao Trị.
Nhà Minh cho thi hành chính sách cai trị tan bạo nhất.
Chúng đông hóa văn hóa người Việt, áp đặt chính sách ha khắc, coi dân ta như là nô lệ.
Để đàn áp người dân Việt, nhà Minh cho đặt thủ phủ của Giao Trị tại thành Đông Quan.
Đông Quan chính là thành Thăng Long thời Lý Trần và được nhà Hồ đổi tên thành Đông Đô.
Nhà Minh cử Hoàng Phúc làm thừa tuyên bố chính xứ và Trương Phụ làm tổng binh tại Giao Trị.
Sau khi nhà Hồ thất bại, Nguyễn Trãi đang làm quan trong chiều nhà Hồ đã không chịu khuất phục.
Ban đầu bọn quân Minh định giết hại ông, nhưng sau đó lại cho giam lỏng ông tại thành Đông Quan.
Tuy nhiên, ông đã trốn thoát được.
Đứng trước cảnh non sông bị tàn phá, dân chúng trở thành nô lệ lầm than.
Trong lòng Nguyễn Trãi sụp sôi cam thủ giặc Minh.
Ông chỉ là một nho sĩ nhưng đau đáu một lòng với nước với dân.
Ông cũng như bao người dân khác đang khao khát tìm được cho mình một vị Minh Chúa, một vị anh hùng dân tộc.
Hội tụ lòng dân đứng lên vất cờ khởi nghĩa.
Thấm thoát đã 10 năm phiêu giạt và ẩn mình.
Nguyễn Trãi nhìn lên bầu trời đêm u tối.
Dường như ông đã phát hiện ra điều gì đó.
Đúng rồi, hướng phương Nam một ngôi sao sáng lấp lánh đã hiện lên.
Ánh sáng của niềm tin và hy vọng.
Dường như nước Nam đã xuất hiện một lãnh tụ kiệt xuất.
Lúc bấy giờ tại Thanh Hóa, Lê Lợi, một người trí dũng song toàn bắt đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Ông cùng nhiều bạn bè, người thân chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.
Để có lực lượng mâu việc lớn sau này, ông cho người tỏa đi khắp nơi liên lạc với những người đồng trí hướng.
Rất nhiều anh hùng nghĩa sĩ đã biết tin liên tới Lam Sơn để tụ nghĩa.
Biết được tin, Nguyễn Trãi vô cùng vui mừng.
Ông cùng Trần Nguyên Hãn liên băng đèo lội suối, tìm mọi cách để tới Lam Sơn.
Hai ông đã vượt qua muôn văn khó khăn, trải qua hàng trăm cửa ải canh gác chặt chẽ của quân mình để đến với Lam Sơn.
Những ngôi sao sáng nhất của Đại Việt đã hội tụ, hy vọng cho dân tộc đã được thắp lên.
Mô sĩ Nguyễn Trãi đã tìm được minh chúa của mình.
Và cũng tại đây, ông đã dâng lên cho Lê Lợi bình ngô sách, sách lược để đánh phá quân mình.
Với chiến lược quân sự đặc biệt, đó là đánh vào lòng người.
Và kể từ đây, cuộc kháng chiến bắt đầu nổ ra.
Ngày 12 tháng 2 năm 1416, Lê Lợi cùng 18 anh hùng nghĩa sĩ đã tổ chức hội thề lũng nhai.
Tất cả cùng cắt máu ăn thề, nguyện sống chết có nhau, quyết tâm đánh đuổi giặc minh cầu nước.
Lời thề thiêng liêng ấy đã vàng vọng khắp núi rừng Lam Sơn.
Sau hội thề lũng nhai, một mặt Lê Lợi cho nghĩa quân hoạt động bí mật, lấy danh nghĩa khẩn hoang lập ấp để hội tụ những người mới.
Mặt khác, ông cho người mang của cải đến đút lót những tên quan của nhà mình để được yên ổn.
Do vậy, đến cuối năm 1417, lực lượng dưới chướng Lê Lợi đã tập hợp lên tới vài nghìn người.
Trong khi bọn tướng Minh tham lam không để ý đến vùng cơ sở của Lê Lợi thì bọn Việt Gian là lương nhữ hốt lại vô cùng lo sợ.
Hắn thấy Chúa Lam Sơn ngày càng lớn mạnh nên đã cấp báo lên cấp trên.
Lúc này, tại thành Đông Quan thì trường phụ đã bị gọi về nước và nhà mình cử Lý Bân sang làm tổng binh thay thế ở Giao Trị.
Đầu năm 1418, Lý Bân bắt đầu kế hoạch tấn công bất ngờ vào Lam Sơn nhằm đập tan ý đồ khởi nghĩa của Lê Lợi.
Đứng trước tình thế đó, Lê Lợi họp bàn với các tướng trong bộ chỉ huy và quyết định đi trước một bước, đó là dựng cờ sướng nghĩa.
Ngày mồng 2 Tết năm Mộ Tuất, tức ngày 7 tháng 2 năm 1418, tại Lam Sơn, Lê Lợi tổ chức lễ tế cờ trước lúc xuất quân.
Ông tự xưng là Bình Định Vương, dưới chướng có quan văn, quan võ và khoảng hơn 2.000 quân, 14 voi chiến và 200 con ngựa.
Tuy nhiên, lực lượng này so với quân minh thì quá ít nên mục tiêu ban đầu sẽ tập trung đánh quân minh tại vùng núi phía Tây Thanh Hóa.
Ngày khi xuất bình, nghĩa quân đã giải phóng được các khu vực phía Tây.
Ngày 14 tháng 2 năm 1418, khi vào tới Thành Tây Đô, Lý Bân bắt đầu xuất quân, đàn áp cuộc khởi nghĩa.
Từ Thành Tây Đô, Lý Bân dẫn đầu một đạo quân hung hậu tiến về hướng Lam Sơn.
Trước sức mạnh áp đảo hoàn toàn của giặc minh, để bảo toàn lực lượng, Bình Định Vương buộc phải cho rút lui về Mường Một.
4 ngày sau, quân minh tiến quân đánh vào Mường Một, nghĩa quân tiếp tục rút lui về Lạc Thủy.
Tại đây có địa hình thuận lợi để tổ chức mai phục.
Lê Lợi sai các tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân và Nguyễn Lý bố trí mai phục chặn địch.
Bọn quân minh tiến vào đã bị đánh chạy tàn tác.
3.000 quân minh bị diệt tại trận, bọn chúng tháo chạy khỏi Lạc Thủy.
Thất bại tại Lạc Thủy khiến Lý Bân tức giận dùng mưu kế hèn hạ.
Dưới sự chỉ điểm của những tên Việt Gian, hắn cho người về xứ Phật Hoàng khai quật mộ của thân phụ Lê Lợi.
Lấy tiểu đựng hai cốt đem đi, ép Lê Lợi phải ra hàng.
Hai tướng của Bình Định Vương là Trịnh Khả và Bùi Bị, ban đêm đã bí mật lấy lại được tiểu.
Mù hèn không thành, quân minh huy động quân đánh Úp lần thứ hai.
Dưới sự chỉ điểm của bọn Việt Gian, quân minh chia hai đường tiến đánh Lam Sơn.
Một cánh quân đánh thẳng hướng chính diện, một cánh quân theo đường núi vòng sau lưng đánh Úp quân Lam Sơn.
Quá bất ngờ, trận này Nghĩa quân đã bị thiệt hại nặng nề.
Vợ con cùng nhiều gia quyến khác của Bình Định Vương Lê Lợi đã bị bắt.
Trận chiến vầy hãm nổ ra ác liệt.
Trong lúc nguy cấp, bị bao vây từ phía, các tướng Đình Lễ, Phạm Vấn, Bùi Bị, Lê Đạt và Nguyễn Xí đã anh dũng mở đường máu cho Lê Lợi cùng những người khác rút lui về núi Trí Linh.
Đây là núi cao hiểm trở nên không dễ dàng cho bọn quân minh có thể thúc quân lên tấn công.
Tuy nhiên ngọn núi cao khó tiếp tế và dễ bị cô lập.
Do vậy bọn chúng cho đại quân bao vây hoàn toàn ngọn núi, chặt đứt mọi đường tiếp tế lương thực, thực phẩm của Nghĩa quân Làm Sơn.
Đói khát, giá lạnh và bệnh tật hoành hành suốt 2 tháng bị bao vây.
Lê Lợi phải hy sinh xả thịt cả con ngựa chiến của mình.
Nghĩa quân Làm Sơn phải hái lá rừng, đào củ rừng để ăn qua ngày.
Lực lượng Nghĩa quân đã bị hao tổn nặng nề.
Nhưng cũng sau 2 tháng, quân mình quá mệt mỏi với việc bao vây không có kết quả nên rút lui.
Lê Lợi sau đó quay trở về Làm Sơn. Lúc này Nghĩa quân chỉ còn khoảng hơn 100 người.
Khi về Làm Sơn, Bình Định Vương cho họp rút kinh nghiệm,
sau đó cho tất cả quân sĩ sản xuất và thu mua lương thực mang đi cất giấu vào những nơi bí mật để đề phòng nếu bị bao vây tiếp theo.
Trong khi Làm Sơn bị đàn áp mạnh mẽ thì có nhiều cuộc khởi nghĩa khác nổ ra.
Lý Bân phải mang quân đi đánh dẹp. Chính vì vậy, Bình Định Vương đã có một khoảng thời gian để củng cố lực lượng.
Sau khi dẹp loạn các nơi, Lý Bân trở về thành Đông Quan thì tham báo rằng Lê Lợi đang củng cố lực lượng rất mạnh.
Do đó, hắn cử một đạo quân ở đây tiến xuống đánh Làm Sơn.
Biết tin sẽ bị quân mình tiến đánh, Bình Định Vương tổ chức trạt đánh địch.
Ông thấy khu vực Mường Một địa thế hiểm trở có thể đánh phục kích,
nên ông rôn quân về Mai Phục tại đây để trạt đánh bất ngờ.
Các chiến binh Làm Sơn mai phục sẵn hai bên vách núi.
Trong khi đó, Bình Định Vương lại cho một đạo quân nhỏ ra khiêu chiến và giả thua bỏ chạy.
Bọn giặc Hùng Hồ đuổi theo rơi vào trận điểm Mai Phục.
Từ hai bên vách núi, quân Làm Sơn bất ngờ phất cờ tấn công.
Những bảng đá lớn ấm ấm lăn xuống, chút vào đội hình quân mình.
Sau đó là những loạt mưa tên tẩm độc chút xuống.
Bọn chúng dối loạn đội hình, tử thương rất nhiều, tàn quân bỏ chạy tàn tác.
Thừa thắng, Lê Lợi cho nghĩa quân tiếp tục tấn công vào Mường Nanh.
Giặc Sợ Hãi bỏ chạy về Nga Lạc để cố thủ, chờ viện binh.
Bình Định Vương lập tức cho đánh vào các đồn chạy nhỏ xung quanh và bao vây Nga Lạc.
Tháng 5 năm 1419, Nga Lạc thất thủ.
Tổng binh Lý Bân lúc này đã trở về Tây Đô và cho tập hợp lực lượng lớn để tấn công Làm Sơn.
Hắn mang số lượng rất lớn tới đàn áp nghĩa quân Làm Sơn.
Không có thành trì đồn chú an toàn, Lê Lợi cho quân rút về núi Trí Linh để bảo toàn lực lượng.
Quân mình đuổi theo và tiếp tục cho vây tím.
Tại núi Trí Linh thì nghĩa quân đã chuẩn bị lương thực từ trước,
nhưng nếu bị vây hãm lâu ngày sẽ vô cùng nguy hiểm.
Để giải vây, chỉ có cách mở đường máu mới có thể thoát được.
Nhưng nếu vậy sẽ vô cùng nguy hiểm,
vì nếu chẳng may Bình Định Vương bị bắt thì mất người lãnh đạo.
Khởi nghĩa có thể bị dập tắt.
Cuộc họp cùng các tướng để bàn kế phá vây đã diễn ra.
Bỗng dừng, Bình Định Vương hỏi rằng
Ai dám bắt trước kỳ tín mà thay ta cầm 500 quân và 2 thất vòi đánh vào trại giặc
để ta cùng anh em thoát thân mà lo việc lâu dài.
Lời nói của Bình Định Vương vừa dứt thì có người đã đứng dậy chắp tay thưa rằng
Thần xin được đổi áo.
Đó chính là quan nội hầu Lê Lai.
Ông biết rằng khi thay chủ tướng xuống núi cũng đồng nghĩa với sự hy sinh thay ngài.
Nhưng ông không hề do dự.
Ông hiên ngang thay áo cho chủ tướng,
cưỡi voi chiến cùng các nghĩa sĩ khác sẵn sàng tiến xuống núi diệt giặc.
Đó là một tinh thần quả càm.
Các nghĩa quân càm tử Lam Sơn tấn công thẳng vào trại quân của giặc Minh.
Giữa chùm chùm gươm ráo chiến trận, tiền bày như mưa trong loạn chiến.
Lê Lai cùng đội quân càm tử vẫn dũng cảm sông lên phía trước.
Ông vừa tấn công vừa thét lớn vào bọn chúng rằng
Ta là chúa Lam Sơn đây.
Quân Minh tưởng là Bình Định Vương lê lợi thật
nên dồn toàn quân ra đánh và ra lệnh phải bắt sống bằng được.
Do vậy, bọn chúng đã vây kín đội hình của Lê Lai.
Trận chiến diễn ra kịch liệt.
Hai bên tử thương rất nhiều.
Từng lớp nghĩa sĩ Lam Sơn đã ngã xuống.
Trận đánh kết thúc cũng là lúc giặc Minh bắt được Lê Lai.
Khi đó, ông đã bị thương rất nặng.
Tưởng đó là lê lợi thật.
Quân Minh vui mừng.
Bọn chúng mang Lê Lai ra pháp trường hành hình dã man.
Đó là Tùng Xèo.
Sau đó, chúng đã xuất quân về thành Tây Đô.
Lê Lai đã liều mình cấu chúa.
Sự hy sinh anh dũng của ông cùng các nghĩa quân cảm tử
đã giúp cho Bình Định Vương Lê Lợi thoát khỏi vòng bao vây.
Giúp cho khởi nghĩa Lam Sơn bảo toàn được lực lượng nòng cốt.
Hy sinh của ông không chỉ thể hiện một lòng trung thành tuyệt đối với chủ tướng
mà còn thể hiện tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung của đất nước.
Cũng chính vì sự hy sinh lớn lao đó mà sau này
khi Bình Định Vương giải phóng đất nước và lên làm vua
ông luôn ghi nhớ công lao của vị tướng Lê Lai.
Đến lúc sắp băng hà, Lê Thái Tổ vẫn dặn con cháu rằng
ông có được ngày hôm nay là nhờ Lê Lai.
Do đó, phải làm dỗ Lê Lai trước để vị tướng này được hưởng lễ trước vua.
Kể từ đó, dân gian có câu
21 Lê Lai, 22 Lê Lợi.
