Tông Tích Vua Lý Công Uẩn Không Còn Là Huyền Ảo Chính Là Thủ Lĩnh Trong Loạn 12 Sứ Quân Lý Khuê-.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
3 Lượt xem video·2 thg 4, 2025
Hiện tại một số giả thuyết cho rằng sứ quân Lý Khuê, tức Lý lãng công của miền siêu loại thuận
thành Bắc Ninh ngày nay, là ông nội của Lý công nguồn, chính xử cung cấp những thông tin dù hiếm hoi
nhưng đã thấy sứ quân Lý Khuê thỏa các tiêu chí để chứng minh giả thuyết trên.
Nếu Lý Khuê là phu quân của bà Phạm Thị Tiên thì theo thần tích làng Mạnh Tân, Lý Khuê không
những là một hùng trưởng vùng Nam Bắc Sông Đuống mà ông phải là một đại quan của Triều Ngô,
cố y vọng của miền Đông và cận Đông thành Cổ Loa, kinh thành của các vua hậu Ngô Thiền Sách Vương,
Nam Tấn Vương. Hành trạng của Lý Khuê ứng với câu sớm ký Đại Sơn Long đầu khởi, trước Lý công nguồn sự
không ghi chép một người nào họ Lý Diên Luận nổi tiếng hùng trưởng một thời của miền cận Đông thành Cổ Loa
ngoài Lý Khuê. Như thế sứ quân Lý Khuê là ông nội của Lý công nguồn là một khả năng cao nhất cần kiểm
Ông Lý Khuê, quê ông ở huyện Thuận Thành gần đây thôi. Khi Hòa Bình năm năm tư, năm năm rồi
vẫn còn cái lăng mộ của cụ ở chỗ cách đây một chút ít này nhưng mà sau này nó hư hỏng người ta không tu sửa gì
nữa. Cổng Tam Quan Cổ của Đình Yên Bình được xem như là cổng Tam Quan Cổ bậc nhất ở thủ đô Hà Nội.
Tức truyền rằng vào đầu thế kỷ thứ 20 ở làng Yên Bình có một vị làm quan trong Triều Đình Huế.
Ông đã góp ý tưởng cũng như tiền lực để xây dựng lên cổng Tam Quan Cổ này.
Duy Hà Nội phố xin biến chào quý vị. Thưa quý vị hiện tại Duy đang ở Đình Yên Bình thuộc làng Yên Bình xã Dương Xá huyện Giao Lâm
thành phố Hà Nội cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 20km. Ngôi đình này thanh hoàng làng đó là ngài Lý Khuê tự là Lý Giang
Ngài là một trong 12 siêu quân nổi dậy thời Đình Tiền Hoàng. Tuyên truyền rằng nơi đây chính là nơi an nghỉ cuối cùng của ngài.
Cụ thể chi tiết như nào mời quý vị và các bạn cùng Duy chúng ta cùng tìm hiểu nhé.
Trước khi quý vị xem tiếp quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội phố để đón xem những video mới nhất. Cảm ơn quý vị.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên xin lên lệ số 0989 260877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội phố nhận giao hàng toàn quốc.
Đình Yên Bình là nơi thờ phụ thanh hoàng làng là thần Lý Khuê tự là Lý Giang,
một trong 12 siêu quân thời loạn thập nhị siêu quân cắt cứ ở siêu loại tức Dương Xá Gia Lâm ngày nay.
Theo sách Đại Việt Sử ký Toàn Thư của Ngô Sự Liên viết về ông như sau.
Ở Ngô chỉ được 6 năm, Ngô quyền mất năm 1944. Chuyển Ngô cho con trưởng là Dương Ngập,
em vợ là Dương Tam Kha. Dương Tam Kha thừa cơ cướp lấy Ngô của cháu, tự dưng là Bình Vương.
Dương Ngập phải trốn về vùng nam sách, tìm đến nương nhờ người tôi chung của cha là Phạm Lệnh Công
tại Trà Hường. Trong hoàn cảnh thấy Dương Tam Kha cướp Ngô nhà Ngô, triều đình bê bối,
nhiều cựu thân của nhà Ngô và các hào trưởng địa phương đã tiếp nhau nổi lên cắt
cứu, chiếm giữ đất đai, gây thành cuộc loạn thập nhị sứ quân. Lý khuê lúc bây giờ tự
xưng là Lý Lãng Công, cũng nổi lên chiếm giữ vùng siêu loại, phủ thuận thành Bắc Ninh.
Ông vốn là một bậc hào trưởng văn võ song toàn, có đức độ, được nhân dân mến mộ, tin tưởng.
Vì chán ghét cảnh vua tôi chèn ép, dối ghen, vốn trung thành với nhà Ngô,
nên đã phản đối sự cướp Ngô của Dương Tam Kha. Lý Lãng Công đã triệu tập quân sĩ nổi
lên cắt cứu vùng đất siêu loại, là một trong 12 sứ quân chia cắt đất nước cuối thế kỷ
thứ 10. Sứ quân này chiếm giữ vùng siêu loại, khuy tướng, lưu cơ, một bộ tướng của Đình Bộ Lính.
Đánh đồn Đình Tổ, Ngài thua chạy và mất tại làng Dương Đanh. Vào ngày 30 tháng 4 năm Bộ Thìn
tức năm 968, về sau Ngài đã được dân Yên Bình và Dương Đanh đã tôn Lý Lãng Công làm thành
hoàng làng sau khi ông mất và thờ ở Đình Làng. Sứ quân Lý Khuê được thờ ở Đình Yên Bình,
thôn Yên Bình và Đình Dương Đanh, thôn Dương Đanh, là hai thôn liền nhau thuộc xã Dương Xá,
giao lâm Hà Nội, cách nhau khoảng 750 mét. Theo thuần tích, Ngài đã được xác phong là Ngô Thông
Thượng Đảng Phúc Thần. Từ bấy đến giờ, nhân dân nơi đây hưởng sự anh linh che chở của Ngài.
12 sứ quân là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Lúc đó vào buổi suy vong của Vương
Triều Ngô xảy ra các năm 965-968, các thù hào mỗi người chiếm giữ một địa phương nhất định.
Thời kỳ này đã manh nha từ năm 944 khi Vương Ngô quyền mất.
Em vợ là Dương Tam Kha cướp Ngôi tự xưng làm vua, thù hào ở các nơi không phục. Nhưng sau đó,
nhờ Ngô xưng văn cùng đỗ cảnh thạc và Dương Cát Lợi chuốt phế Dương Tam Kha khôi phục lại
Vương Triều Ngô nên chỉ có một vài nơi không thần phục như Đình Bộ Lĩnh ở Hóa Lừ năm 951,
hay Chu Thái ở Thao Giang không rõ thời gian, và hai thôn đường Nguyễn ở Thái Bình năm 965.
Nàm Tấn Vương đi đánh giặc bị trúng tên độc mà chết. Vào năm 965 thì triều đinh cổ loa như rắn
không đầu. Ngay tại Kinh Đô, Tham Miu Lữ xử Bình, Thứ xử Châu Phong Kiều chi hữu, Thứ xử Châu Vũ
Ninh Dương Huy và tướng đỗ cảnh thạc tranh giành quyền binh Thái tử Ngô Xưng Xí còn Thiền sách Vương Ngô
Xưng Ngập tự thấy không đủ sức cạnh tranh nên chạy về quê ngoại ở Thanh Hóa.
Từ đó các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ các quận ấp để tự giữ, hình thành nên
tình trạng gọi là 12 sứ quân. Gồm có Ngô Xưng Xí giữ Bình Kiều thuộc Triệu Sơn Thanh
Hóa ngày nay, Kiều Công Hãn xưng là Kiều Tam Chế giữ Phong Châu tức Phú Thọ ngày nay,
Nguyễn Khoan xưng là Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái thuộc Vĩnh Thường Vĩnh Phúc ngày nay,
Ngô Nhật Khánh xưng là Ngô Lãm Công giữ Cành Lâm thuộc Ba Vì Hà Nội, đỗ cảnh thạc xưng là
đỗ cảnh công giữ Đỗ Động Giang thuộc Tây Ngoài Quốc Oai Hà Nội ngày nay, Lý Khuê xưng là Lý Lã Công
giữ Siêu Loại viện Thuận Thành Bắc Đinh ngày nay, Nguyễn Thủ Tiệp xưng Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du
viện Tiên Du Bắc Đinh ngày nay, Lã Đường xưng là Lã Tá Công giữ Tế Giang viện Mỹ Văn Hương Yên ngày nay,
Nguyễn Siêu xưng là Nguyễn Hiệu Công giữ Tây Phủ Liệt thanh trì Hà Nội ngày nay, Kiều Thuận xưng là
Kiều Lệnh Công giữ Hồi Hồ thuộc Cẩm Khê Phú Thọ ngày nay, Phạm Bạch Hổ xưng là Phạm Phòng át giữ Đằng Châu
Hương Yên ngày nay, Trần Lãm xưng là Trần Minh Không giữ Bố Hải Khẩu thị xã Thái Bình ngày nay.
Năm 906 năm, Ngô Xương Văn đi đánh Thôn Đường và Thôn Nguyễn bị phục binh bắn nỏ chết. Trong giai đoạn này,
Lý Khuê đóng quân ở Siêu Loại, chiếm giữ vùng đất phía nam sông Đuống của tỉnh Bắc Đinh gồm các huyện Thuận Thành,
Lương Tài, Gia Bình, một phần các huyện Văn Lâm, tỉnh Hương Yên, một phần huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội ngày nay. Căn cứ và thần tích và di vật còn lại ở Siêu Loại, Lý Khuê từng cho sửa lại
thành lưu lâu làm đại bản doanh, nhưng thực chất chỉ là cái bẫy cho đối phương. Sự thật,
ông đã bí mật cho đại quân kéo về ấp côi. Này thuộc làng Thư Đôi xã Nguyễn Đức huyện Thuận Thành,
xây dựng căn cứ chính. Tại đây, Lý Khuê đã cho xây dựng ấp thành căn cứ quân sự, đảo ào toàn bộ
xung quanh ấp, đắp lưỡi cao rồi trông che gai thật dày. Cả ấp chỉ để hai cổng ra vào,
riêng cổng ở ngõ dưới hướng lên phía bắc, ông cho xây dựng rất kiên cố. Bên ngoài cổng cho đắp một
cái bãi hình mũi Mark chĩa ra đường cái gọi là bãi Mark. Cạnh đấy, ông còn cho xây một đồn canh có
hình thù rất kỳ dị và độc đáo, đồn nửa chim nửa nổi. Phân nổi có hình như một cái bụng người nên
gọi là đồn bụng. Riêng đồn bụng sau này đã bị quân mình tàn phá nên đổi tên gọi là vườn bụng ở
giữa ngõ ngoài và ngõ giữa. Còn bên trong đắp những gò đống để khi bí thế thì rút quân vào đấy. Chỗ này
gọi là tầm bùi. Ông còn cho đào một cái ao khá lớn, xung quanh còn trông che gai dày đặc. Dưới ao cũng
thả rau muống, rau ngộ cho lên cao tốt. Ở giữa ao cho đắp một cái gò khá rộng để họp bộ chỉ huy. Chỗ
này gọi là vườn phủ. Những ghi chép cho thấy địa bàn hoạt động của sứ quân Lý Khê nằm ở bờ nam sông
Đuống thuộc tỉnh Bắc Ninh và một phần nhỏ ở Gia Lâm, Hà Nội ngày nay. Ông không xâm chiếm lãnh địa
của các sứ quân khác mà hành động theo kế tọa sơn quanh hồ đấu, tức là ngồi trên núi xem hồ đánh nhau
chứ chưa thực sự nổi dậy, trách hùng và mở rộng lãnh thổ. Theo thần tích ở một số xã ở huyện Thuận
Thành Bắc Ninh thì Lý Khê đánh nhau với lực lượng của đinh bộ lĩnh bị thua và mất ở làng Dương Xá,
nay thuộc xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội. Thần tích đến lưu cơ ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng,
tỉnh Hương Yên cho biết nơi đây cũng thuộc đất siêu loại cũ và là địa điểm tướng lưu cơ của đinh tiên
hoàng đóng quân để đánh dẹp sứ quân Lý Khê. Xét về lợi ích quốc gia, việc cắt cứ của các sứ quân,
Lý Khê đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc. Nhưng có thể thấy trong bối cảnh đất nước
rơi vào tình trạng vô chủ, việc ông cùng các hào trường khác có thế lực quân sự mạnh, thiết lập chính
quyền, duy trì trật tự tại địa phương để nhân dân có thể sống yên bình trong vùng đất của họ là điều
cần thiết và thuận lòng dân, dù việc này không có tính toàn cục và chỉ diễn ra trong vòng thời gian ngắn.
Điều đó lý giải vì sao các sứ quân vẫn được nhân dân trong vùng chiếm đóng lập để thờ.
Sự sách cho rằng đây là thời loạn lạc của lịch sử Việt Nam, vì các sứ quân đem binh chém giết
lẫn nhau làm cho dân khổ sở. Nhưng ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu lại có ý kiến khác. Có người cho rằng
các sứ quân nổi dậy không phải vì lý do tranh bá đổ vương mà vì lý do kinh tế. Có người cho cuộc diện
cắt cứu dưới Vương Triều Ngô đã bắt đầu từ năm 1951 với Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư và Đường Nguyễn
ở Thái Bình. Loạn 12 sứ quân thực sự xảy ra toàn diện từ năm 1965 tới năm 1967 sau khi Nam Tấn Vương
chết. Trong 12 sứ quân cũng có sứ quân tham chiến, cũng có sứ quân tự giữ. Trong tình hình ấy,
nổi lên Đinh Bộ Lĩnh, trước đây là một đội quân mới nhóm họp và ngay từ buổi đầu,
đội quân này đã phải đứng đầu với quân của Vương Triều Ngô ở Hoa Lư.
Thế thì giữa thôn này với cái thôn Dương Đanh này, lăng mộ của cụ là ở chỗ giữa khoảng
2 làng này này. Nó ở phía cạnh đường này thôi. Khi mà Hòa Bình năm năm tư năm năm rồi
vẫn còn cái lăng mộ của cụ ở chỗ cách đây một chút ít này nhưng mà sau này nó hư hỏng
người ta không tu sửa gì nữa. Bây giờ bị sát phẳng rồi hả? Vâng. Mà khi tôi bé, rõ nhất cái lăng này nó có
4 cái cột lìm giữa, cái kiểu nó hình vương 8 mái mà trên nó có 2 tầng. Trên này cũng 4 mái,
trong dưới này cũng 4 mái. Có 4 cái cột to chính thức giữa thế này. Thế nâng cao lên thì làm cái hình
4 mái ở trên. Xong ở phía đến cách một đoạn hơn 1 mét gì đấy, xuống thì bắt đầu với lại
chung quanh này có cái hàng mỗi một cạnh là cạnh vương này là 4 cái cột con. Có 4 cái cột con
thế là nó vương như thế. Thì bắt đầu từ cái cột cái mới thò ra để đỡ những cái cột con này. Đấy,
2 tầng mái. Tôi hồi mà năm năm tư tôi cũng còn biết có người người ta trong xã người ta buôn than
về người ta ấy người ta làm ở đấy. Ở đấy nó có một cái mái hình chữ nhật ngay cạnh đường ngay đây thôi
lên này. Cách đây là khoảng 300 mét. Chỗ vòng cong cong cái đường của xã lên này. Cái chỗ vòng
cong cong đấy. Nó bây giờ có một cái cổng trường. Ngày xưa đấy nó còn có một cây gạo như thế này
ở gần đấy. Thế còn một cái thoải đất làm mộ của ngài. Ví dụ hình chữ nhật trên cái sân bóng này
thì làm ở một đầu. Còn một đầu bị trống những cái cây lặt vặt. Khi mà tôi nhỏ còn đi học
thì cứ vào đấy nghịch chơi cái bãi ấy. Nó có cái cây lùm xùm nhỏ để đuổi bắt ve bắt bướm.
Phá là do con người hay là do cái thời văn hóa?
Sau khoảng cái thời gian năm tư năm năm. Năm tư Hòa Bình năm năm năm sáu. Khoảng thời gian
năm năm năm sáu. Thì bị phá đi. Thì tôi đoán đã nhân dân ngày xưa người ta đã xây lăng ở
đấy. Chắc cũng không phải là người ta xây ngay được. Sau rồi khoảng một số năm thì người ta xây bé.
Thế có khi sau sửa chữa to thì có điều kiện người ta mới làm được. Lớn như thế. Sau nó bị hư hỏng đi.
Thì chắc tôi đoán chắc là mộ phần đấy đã làm lăng ở đấy là chắc là mộ phần ở đấy. Thế sau
cách đây một số thời gian cứ thấy khôi phục lại rồi. Nhưng mà chẳng thấy đề xuất gì cái chuyện.
Mình thì cán bộ cũng không phải. Không thấy khôi phục lại. Coi như là thôi. Chắc là như thế.
Lý Khuê. Sinh nằm bao nhiêu không rõ. Mất năm 967. Hầy Lý Lãng Công là một trong 12 sứ quân
vào thế kỷ thứ 10 trong lịch sử Việt Nam. Ông là người thuộc vùng giáp danh Bắc
Ninh Hương Yền. Vào năm 967, ông bị tướng, lưu cơ và đinh bộ lính ở Hoa Lư dẹp tàn,
một bước trong quá trình chấm dứt tình trạng cắt cứ lập ra nhà nước đại Cổ Việt trong lịch sử.
Theo thần phả Thờ Đỗ Tướng Công, cuốn thần phả được viết vào năm canh ngọ tức là năm 970.
Thì dựa vào lời tâu của Đỗ Cảnh Thạc, tháng riêng năm Nhâm Tý tức năm 952,
thiền sách vương Ngô Sương Ngập phong tước cho các công thần, trong đó Lý Khuê làm ngự sử tuận
thành, chấn giữ cận đông thành Cổ Loa. Đó chính là vùng đông ngàn, trong đó có Hoa Lầm,
ngay ngã bà sông Hồng sông Đuống, một vị trí ít hầu của thành Cổ Loa.
Khi được thiền sách vương ra phong ngự sử tuận thành, chấn giữ cận đông kinh thành Cổ Loa,
đại bản doanh của Lý Khuê là thành Cổ Lưu Lâu, miền siêu loại Bắc Ninh.
Theo thần tích ở xã Bình Sơn thuộc tuận thành Bắc Ninh thì Lý Khuê đánh nhau với đình bộ lĩnh bị
thua và mất ở làng Dương Xá, thôn Dương Đành của làng Dương Xá, thờ Lý Lãng Công là thành hoàng
của làng. Theo thần phả thờ Đỗ Tướng Công thì sau khi lên ngôi, thiền sách vương Ngô Sương Ngập xuống
chiếu phong thưởng cho các công thần, trong đó Lý Khuê làm ngự sử tuận thành, chấn giữ cận đông.
Hiện tại một số tác giả đưa ra giả thuyết sứ quân Lý Khuê là ông nội vua Lý Thái Tổ.
Nội dung trích lược là qua nghiên cứu thân sử của bà Lý Triều Quốc Mẫu Thánh Thiện Phạm Thị Tiền,
mẹ của Hiển Khánh Vương, có thể rút ra một số tiêu chí về phu quân của Phạm Mẫu Hoa Lâm.
Thứ nhất, phu quân họ Lý từng là một hùng trưởng miền cận đông thành Cổ Loa,
nơi Dương Bình Vương, Dương Tam Kha hoặc nhà hậu Ngô đóng đồ.
Dinh cơ của ông tọa lạc ở Hoa Lâm, tức Mai Lâm Đông Anh hiện nay.
Di tích còn lại là bãi tổng binh Ao Sao Dinh.
Phu quân họ Lý này là một đại quan nhà Ngô, từng hậu Pháp nhiều chùa ở Cổ Pháp siêu loại,
trong đó có chùa Linh Ứng ở Hương Phu Động, nơi cô Phạm Thị Tiền đang làm Phật sự.
Đại quan họ Lý Phải Lòng Thiện Nữ Phạm Thị Tiền khoảng 22 tuổi,
xinh đẹp, đang làm Phật sự ở chùa Linh Ứng, Làng Phu Động, gần chùa Kiến Sơ.
Do có mối quan hệ ấy, cô Phạm Thị Tiền sớm trở thành phu quân của đại quan họ Lý.
Đã là hùng trường một vùng cái nôi Phật Pháp lưu lâu, siêu loại, Cổ Pháp,
nên phu quân của mệnh phụ Phạm Thị Tiền tất yếu được giới Phật tử và sư sãi
của chùa Cổ Pháp siêu loại hậu Tuấn. Vào thời loạn thập nhị xứ quân,
nhà Ngô mất ngôi, các xứ quân bị đinh bộ lĩnh đánh bại, át vị đại quan,
phu quân của bà Phạm Thị Tiền phải bị hại, gia đình thân thuộc của phu quân bà Phạm
Thị Tiền phải siêu tán, mai danh ở tích, đổi họ Lý sang họ Nguyễn.
Rời dinh cơ ở Hoa Lâm từ những năm loạn lạc cực điểm từ năm 1966 tới năm 1968.
Đi về phía bắc, đông bắc Hoa Lâm, nghĩa là tránh xa những thủ phủ như Đại Là,
Cổ Lòa, v.v. để tới vùng rừng Bán, Tiêu Sơn hay vùng sông Cà Lổ.
Một bộ phận vào chùa làm sư hoặc làm thủ hộ ở chùa, một số trốn trong rừng,
thậm chí trong hàng đá. Đặc biệt bà Phạm Thị Tiền có thể cải dạng thành một sư bà đứng tuổi,
một người có công sức tôn tạo chùa ở Thụy Lâm, Bắc Hoa Lâm và ẩn tụ ở đây,
sau khi đã đưa các con ở độ tuổi thanh niên, thiếu niên lên chùa Cổ Pháp hay chùa Tiêu Sơn
để tránh tai mắt quân lính của lưu cơ, một cánh tay đắc lực của Đinh Tiên Hoàng đế và Lê Đại Hành Hoàng đế.
Sau khi phu quân họ Lý bị hại có khả năng bà Phạm Thị Tiền cùng gia tộc họ Lý đã bí mật tổ chức
ăn táng vị phu quân tại Hoa Lâm, gần như chú quán của gia đình, tức Lý gia lăng và mộ của chồng bà
về sau gọi là mộ Hùng Công, một hình thức che giấu thông minh. Nếu có người hỏi thì gán chủ nhân
ngôi mộ là thân phụ của Hùng Linh Công chẳng hạn. Những bộ tướng, những quân lính của Hùng Công đã
tử trận có thể được hương khói tại biếu âm hồn ở Hoa Lâm. Khi làm cuộc vận động Lý công
quận lên ngôi Hoàng đế, họ Lý giấu tông tích vị phu quân của bà Phạm Thị Tiền nên cũng huyền
thoại hóa cái chết của bà Phạm Mẫu, tức giấu tình tiết bà là vợ của Hùng Công họ Lý.
Giả thuyết sứ quân Lý Khuê tức Lý Lãng Công của miền siêu loại thuận thành Bắc Ninh ngày nay là ông
nội của Lý công quận, chính xử cung cấp những thông tin, dù hiếm hoi nhưng đã thấy sứ quân Lý Khuê thỏa
các tiêu chí đã nêu ở trên. Bởi vì Lý Lãng Công từng đóng bản doanh ở thành cổ Lưu Lầu,
trong khi quân của tướng Lưu Cơ đóng quân ở làng Đại Từ ở mặt nam của thành Lưu Lầu. Khi vỡ mặt
trận, sứ quân phải tháo chạy theo hướng Tây Thành Lưu Lầu. Qua phía bắc làng Dương Xá và ông đã
bị tử trận ở thôn Dương Đanh, một thôn phía đông bắc của làng Dương Xá, phía đông nam làng Phù Đồng.
Thần tích làng Đại Từ có chép về Lý Khuê và thôn Dương Đanh lại tôn thờ sứ quân Lý Khuê làm
thành hoàng. Nhưng thôn Dương Đanh cũng như làng Dương Xá chẳng có mộ thật hoặc mộ vọng. Quả vị
thành hoàng làng Lý Lãng Công, một hùng trưởng như Lý Khuê được lòng dân Bắc Ninh xưa ủng hộ mà
chẳng có một truyền ước nào về bộ phần. Hậu ruệ của ông là một điều lạ trước khi có những
uẩn khúc mà nhân dân cần phải giấu. Sự kiện nào đây? Chỉ có sự kiện sau khi Lý Khuê tử trận,
con cháu phải mai danh ẩn tích, họ Lý vận động chính trị để con cháu Lý Khuê lên sự nghiệp đế vường.
Bằng cách khoác áo con thần cháu thánh, tránh sự truy nã của quân tướng nhà Đình, nhà tiền lề,
và khi Lý Công nguồn công thành danh tọại, họ Lý tiếp tục giấu hậu sự của Lý Lãng Công vậy.
Nếu Lý Khuê là phu quân của bà Phạm Thị Tiên thì theo thần tích làng Mạnh Tân,
Lý Khuê không những là một hùng trưởng vùng Nam Bắc Sông Đuống mà ông phải là một đại quan của Triều Ngô,
cố y vọng của miền Đông và cận Đông thành Cổ Lòa, kinh thành của các vua hậu Ngô Thiên Sách Vương,
Nam Tấn Vương. Trước năm 965, Nam Tấn Vương tử trận khi đánh phá thôn đường Nguyễn ở Thái Bình,
tức Sơn Tây. Hành trạng của Lý Khuê ứng với câu sớm ký Đại Sơn Long đầu khởi,
trước Lý Công Uổn sự không ghi chép một người nào họ Lý Diên Luận nổi tiếng hùng trưởng một thời
của miền cận Đông thành Cổ Lòa ngoài Lý Khuê. Như thế, sứ quân Lý Khuê là ông nội của Lý Công Uổn
là một khả năng cao nhất cần kiểm chứng. Sau khi Ngô Quyền qua đời vào năm 944,
rừng Tâm Khà cướp ngôi nhà Ngô. Các tướng lĩnh và thổ hào địa phương các nơi không chịu
thuần phục nổi lên các cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Nguyễn Thủ Thiệp tự xưng là
Nguyễn Lệnh Công, chiếm giữ Tiên Du tại đây. Ông trở thành một sứ quân quyền lực với nhiều tài
sản, có trang trại lớn gọi là Nguyễn Xá Tràng. Sau khi hai anh em nhà mình là Nguyễn Khoan và
Nguyễn Siêu lần lượt bị Đinh Bộ Lĩnh đánh tan và giết chết, Nguyễn Thủ Thiệp bèn liên kết với sứ
quân Lý Khuê ở Siêu Loại để chống trả. Theo thần tích của Đình Yên Bình, Đình Dương Đanh,
ở xã Dương Xá huyện Gia Lâm, Hà Nội, thì Lý Khuê bốn là người làng Đại Trạch thuộc tổng Đình Tổ.
Này thuộc xã Đình Tổ thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Lý Khuê là một bậc hào trưởng,
văn võ kiêm toàn, đức độ, được nhân dân trong vùng mến mộ tin tưởng. Vì chán ghét cảnh vua tôi trẻn ép dối
gian, vốn trung thành với nhà ngô nên để phản đối sự cướp ngôi của Dương Tam Kha,
ông đã triệu tập quân sĩ, cắt cứ một vùng rộng lớn. Cuối năm 1967, Đinh Bộ Lĩnh để Đinh Điền cùng
mấy tướng ở lại giữa Vĩnh Tường và Phong Châu, con mình và con cả là Đinh Liễn đem quân
thuyền theo sông Hồng, sông Đuống xuê dòng tiến đánh cả Nguyễn Thủ Tiệp và Lý Khuê.
Cánh quân Đinh Bộ Lĩnh hội cùng các cánh quân của Nguyễn Bậc từ Thanh Oai lên,
tấn công từ Cổ Loa tiến thẳng vào Tiên Dù. Đinh Liễn thì từ sông Hồng theo cánh Nguyệt Đức,
vòng theo phía sau lưng, chặn đường không cho quân của Lý Khuê ở siêu loại đến tiếp ứng.
Thành vỡ, Nguyễn Thủ Tiệp giả làm thầy làng, đèo bọc thuốc chạy trốn,
bị bắt ở bến Đò Nò, sau đó bị Đinh Bộ Lĩnh chám đầu. Tuy nhiên,
theo thần tích làng tiên xá thì Nguyễn Thủ Tiệp bỏ chạy về Cần Hải,
tức cửa đồn Quỳnh Lưu, Nguyễn An, đánh nhau vài trận rồi chết ở Tràng Hương Ái.
Nạn thập nhị xứ quân chấm dứt khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngồi, mở ra một thời kỳ thống nhất
và độc lập tự chủ cho dân tộc, ra nhà nước đại Cổ Việt trong lịch sử.
Trước đây, trong xã này có một số gò đống, người ta vẫn gọi là mả gầm, mả dứa.
Tức là quân lính ngựa hung chết. Cái đình này thì các cụ truyền thuyết trở lại.
Cái đình này cũng không biết xây từ bao giờ, bởi vì ông bà, bố mẹ cũng không biết.
Thứ nhất là cái ngôi đình này cũng vừa mới làm lại cách đến 2-3 năm thôi.
Chứ còn trước thì nó cũng vẫn thế này. Nhưng mà đại khái người ta xây nó hình thù nó khác.
Nó với cái cục bộ nó chật thẹp với mấy cái cục bộ của xã hội ngày xưa ấy.
Thì người ta nó gọi là làng nào biết làng ấy.
Bảo vệ làng thế là chỉ có, tức là hào, lũy này, cổng này.
Các cái cổng này cũng có cửa sắt, cửa cửa lim, lung ở ngoài hết.
Thế là trước có lũy này, rồi bờ hào này, rồi có cổng này, đằng sau cũng thế.
Nhưng mà chung quanh đây là cũng có tường cao cả.
Nhưng mà quá trình cái giai đoạn nó biến đổi thì nó hư hỏng, người ta phá nó đi.
Thế vừa rồi, cách 2-3 năm mới tu sửa lại.
Thưa quý vị, đình Yên Bình thuộc thôn Yên Bình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Đình có tên gọi gắn với địa danh của làng là đình An Bình.
Nhân dân địa phương còn hay gọi là đình bằng.
Đình Yên Bình đã được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử
kiến trúc nghệ thuật vào ngày 28 tháng 5 năm 2003.
Đình Yên Bình tọa lạc trên một mảnh đất cao, rộng, thoáng mát trong khu vực cư trú của làng.
Tới thăm nơi đây, dù chỉ một lần, du khách sẽ ăn nhớ mãi một ngôi đình cổ ẩn
mình sau tán cây gạo cổ thụ và xoay mình bên dòng nước trong sành.
Các công trình kiến trúc được xây dựng trên một trục chính,
dọc từ ngoài vào trong gồm nghi môn, đại đình, ống muỗng và hậu cung.
Nghi môn của đình kiểu hai tầng tám mái.
Tầng dưới dạng ngũ môn có các cửa hình vòm kích thước dài rộng khác nhau.
Tầng trên xây theo kiểu vọng lâu, dạng tam quan với ba cửa.
Đôi chỗ ở tầng trên và các ô cửa được xếp bằng gạch gốm màu tạo ánh sáng và để trang trí.
Người nói rằng đây là một cái cổng đình cổ nhất và to nhất ở miền Bắc mình.
Thì bác có thể chia sẻ cái cổng này được xây dựng từ thế nào được không ạ?
Cái cổng này thì theo với các ông bà, bố mẹ tôi kể thì
cũng thật ra thì cũng chưa được xây lâu lắm đâu.
Cách đây cũng chỉ khoảng hơn 100 năm.
Ừ, thế thôi.
Vì mẹ tôi năm nay hơn 100 tuổi rồi mà.
Thế thì cũng chỉ biết là, tôi gọi là ông ngoại.
Tôi gọi là ông ngoại đấy.
Ngày xưa gia đình nhà ông ngoại là công đức.
Không phải là công đức cả đâu.
Một công đức cái phần, từng phần một.
Thế là công đức cát.
Thế cũng có một cái ao ở đằng kia kìa.
Thế là cũng lấy cát.
Thế họ hết gia đình rồi thuê mướn người,
khuét cái đất đấy, lấy cát trở về đây để xây cái này thôi.
Chứ không phải là công đức mọi thứ.
Đấy chỉ công đức một phần là đấy thôi.
Vâng, thế là mỗi người góp một chiếc như vầng...
Vâng, thế là khoảng hơn 100 năm nay.
Thế cái năm ấy đâu nó vào?
Cái năm vỡ cái đê, cái đê dốc lại cái chỗ trên này.
Thế khi mà thấy kể chuyện lại là vỡ đê,
cái hồi năm ấy là vào tháng 8 âm lịch.
Vừa muộn rồi.
Thế mà đảo móng xong rồi là
bị nước nó tràn vào xong rồi còn phải đắp
đắp chung quanh tát nước ra.
Thế là chính thức nó là khoảng hơn 100 năm.
Thế còn cái đình này xây từ bao giờ thì
nó là trước, không biết.
Đại đình là một nếp nhà năm gian
làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngài, mái lợp ngói tà.
Hai đầu hồi đắp đầu kìm hình rồng hướng vào nhau.
Phía trước gian giữa đại đình mở cửa bức bàn.
Sáu cánh cửa đều được trang trí tứ quý.
Bộ khung nhà đại đình làm bằng gỗ với sáu bộ vỉ triệu lực đỡ mái.
Các vỉ đều sử dụng kiểu giá chiêng trồng rường.
Bốn hàng chân với vỉ nóc có kết cấu kiểu giá chiêng trồng rường con nhị.
Kết cấu này gồm ba thanh rường dài gắn khác nhau.
Kề trên nhau qua những đấu vương nhỏ, thót đáy.
Hệ thống kẻ trong vì ăn bộn qua các cột cái, cột quần,
đặt trên các thanh kẻ chắc khỏe là hệ thống hoành phân theo kiểu thượng tứ hạ tứ,
lối giải hoành phổ biến của kiến trúc thời Nguyễn.
Hậu cung là một nếp nhà kiểu bốn mái xây trên mặt bằng gần vuông.
Nhà lợp mái ta bởi giải đắp hình đầu kim nhìn vào nóc mái.
Bộ khung nhà bằng gỗ với hai bộ vỉ làm theo kiểu trồng rường con nhị.
Trải qua thời gian dài tồn tại, Đình Yến Bình còn bảo lưu được nhiều di vật
mang giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử.
Trong nhiều di vật còn lại của di tích trước hết phải kể đến bộ sắc phong của triều đại phong kiến,
phong cho vị thanh hoàng.
Niên hiệu cụ thể của bảy đạo sắc phong thần này như sau.
Quang Trung ngũ Niên thất nguyệt nhị thập bát nhật tức năm 1792.
Cảnh Thịnh Tứ niên ngũ nguyệt nhị thập thất nhật tức năm 1794.
Bảo Hương Nhất niên ngũ nguyệt thập thất nhật tức năm 1801.
Tựa Đức lục niên ngũ nguyệt thập lục nhật tức năm 1854.
Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt tức năm 1887.
Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật tức năm 1909.
Khải định kiểu niên thất nguyệt nhị nhập ngũ nhật tức năm 1924.
Đặc biệt Đình Yên Bình vẫn còn giữ bốn bức hoành phi bằng gỗ ghi chữ hán sơn son thiếp vàng lộng lẫy
có nội dung như sau.
Thai Sơn Hổ Thị niên đại năm 1923.
Thánh Cung Vạn Tuế Phúc Cư Dân niên đại năm 1916.
Cung Linh Từ.
Hiện chưa thấy tài liệu nào ghi lại năm Đình Yên Bình được khởi dựng như căn cứ vào đạo sắc phong
năm Quang Trung thứ 5 tức năm 1792 và một hương án mang phong cách thế kỷ thứ 18.
Nay còn giữ được thì đình đã có ít nhất từ cuối thời Lê Trung Hường.
Ngoài ra còn các đồ thờ tự quý giá như ba lọ cổ, đôi hạc thờ, ngựa thờ, ba đình đồng,
giá kiếm, tất cả đều được tạo tác vào thời Nguyễn.
Bên cạnh đình, cách một cái ao rộng là đền thờ Đức Thánh Bà Phu Nhân của Lý Lãng Công,
thanh hoa làng Yên Bình, tạo thành một tổng thể hài hòa của khu di tích.
Tương truyền nhân dân trong thôn vẫn gọi là đền thờ mẫu.
Bà là vợ của Lý Khuê.
Một trong 12 sứ quân đã cắt cứ vùng siêu loại thuận thành Hà Bắc.
Đây là một di tích nhỏ nằm trong quần thể kiến trúc đền chùa Yên Bình.
Lai lịch của Đức Thánh Bà cũng không có tài liệu nào nhắc đến.
Chỉ biết bà là người ở thôn Yên Bình, nổi tiếng tài xác hiền thục.
Dân làng Yên Bình lập đền thờ bà nhưng cũng chính thờ mẫu,
những thần linh của cư dân nông nghiệp cầu cho mưa thuận gió hòa.
Thế mà làng này trước đây còn 2 cái cây gạo,
2 cái cây gạo chắc là cũng khi mà xây cái này thì mới trồng.
Trồng thì cũng theo với cái tay ngai kiểu này là vì làng này có cái cửa như thế này,
thì có 2 cái đường đi khuỳnh ra 2 bên như cái tay ngai ý.
Thế thì 2 cây gạo cũ nó mọc vào 2 cái chỗ người ta trồng 2 cái cây xanh cũ đây này.
Đấy, 2 cái cây xanh cũ đây này.
Đấy nó ở đấy cơ, rồi nó dắt với bờ ao.
Xong rồi quá trình cái thời gian cách đây được khoảng mấy chục năm ý thì là
hồi năm 90, 90 mấy đấy.
Thì nó hư hỏng, xong rồi trô bò nó dẫm.
Ngày trước người ta làm nông nghiệp thì nó có trô bò,
thế là nó dẫm rồi cứ lầy lội hư hỏng rồi chả ai trông nó thì nó chết mất.
Thế xong bắt đầu mấy dân làng mới nghĩ trồng lại.
Thế trồng lại thì cứ đi kiếm được về trồng được cái cây này,
thì nó này hỏng ngọt ngọt.
Thế xong bắt đầu nó mới xòe ra mấy cái này,
nó mới không đúng với cái tinh chất của cái ngọn cây gạo.
Thế còn cái cây này cũng trồng 2 bên 2 cây,
thế nhưng mà sau cái cây bên này nó bị hỏng,
thế người ta mới lại sau khoảng mấy năm sau người ta mới lại kiếm một cây khác,
trồng thay cái cây này.
Cái cây này cũng là cái cây trồng mới?
Trồng mới, cách đây là khoảng 20 năm.
Vì cái cây gạo kia nó cũng hỏng mất khoảng 30 năm.
Thế đó 10 năm sau thì người ta mới trồng.
Làng đây, thờ ông Thuận Hoàng làng này,
thường thường là cứ vào ngày 10 tháng 2 âm lịch,
cứ vào cái dịp ấy là hoa gạo nó nở,
gọi là làng hòa hội.
À vâng, rất là vui ạ.
Hoạt động xong lễ hội của làng mình thì có các hoạt động gì ạ?
Thời xưa ấy, người ta cũng có ví dụ như chọi gà,
rồi đánh vật hay là thanh niên thì chơi bóng truyền, bóng chung đấy.
Rồi hát chống quân hay quan họ,
rồi là mua sư tử hay mua kỳ lân như đấy.
Đón các đoàn người ta đến,
chứ làng mình thì cũng chẳng có cái thứ ấy.
Như cái tốp người ta mua kỳ lân hay tốp mua rồng chẳng hạn đấy.
Hay là quan họ thì thuê người ta về thôi.
Chứ làng mình thì cũng chưa có được.
Đấy là ngày xưa còn bây giờ thì cũng có những hoạt động đấy.
Bây giờ cũng có,
nhưng bây giờ với cái lý do này,
các cái trò chơi mở ra thì nó bị không gian hẹp.
Ngày trước tức là người thưa các khu vực đất chung quanh,
nên là chưa có người ở, nó còn rộng rãi.
Bây giờ thì nhà cửa đất của người ta người ta xây hết luôn rồi.
Thế chứ các cái trò chơi dân gian mới bây giờ,
người ta có muốn vào người ta đăng ký,
hay là làm các cái nhà hơi đấy chẳng hạn.
Hay là các cái trò quay quay điện tử,
quay quay trả con đấy.
Một số các cái thứ khác nữa.
Thì người ta về thì đây nó không có chỗ nữa.
Thậm chí bóng truyền phải để làm ở sân đây này.
Thế nó không còn.
Thế thậm chí mỗi năm có chỗ còn làm cái bàn cờ tướng,
cái cờ tướng để cắm vào sân này này,
sân cờ tướng đấy,
thì còn người đấy.
Thế thì cũng chẳng có chỗ nữa.
Làng Dương Xá, tên gọi của Làng Dương có từ lâu đời,
nằm trong Tràng Thổ Lỗi, Bắc Ninh.
Tràng Thổ Lỗi sau đổi thành Hương Thổ Lỗi,
Hương Thổ Lỗi sau được đổi thành Hương Siêu Loại,
thuộc bộ Bắc Giang vào năm 1066.
Tới thời nhà Trần thì đổi thành Kinh Bắc,
và vào thời vua Lê Quang Tuận,
triều đình đã lập ra Phủ Tuận An gồm 5 huyện,
Như vậy, Dương Xá xưa đã từng là ly sở của huyện Siêu Loại
và là sở của Phủ Tuận An dưới thời nhà Lý.
Nói đến Dương Xá là nói đến vùng căn cứ địa cách mạng thời chống Pháp
và có truyền thống yêu nước nông nàn
qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ngày nay, Dương Xá là một xã thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Xã nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ,
có nét đặc trưng vùng tam giác sông Hồng, sông Đuống.
Nên địa hình bằng phẳng.
Đến nay, đất đai đồng ruộng Dương Xá còn đậm dấu tích
quá trình bối đắp phù sa của sông Nghĩa Giang,
một nhánh lớn của sông Thiên Đức Xưa, tức sông Đuống ngày nay.
Nay, sông bị triệt dòng, đã và đang biến dạng
thành một dài ao hồ chạy dọc theo đường ỉ làn.
Từ thôn Lơi, xã Đặng Xá, qua xã Phú Thị, xã Dương Quang, xã Dương Xá,
đến huyện Văn Lâm, tỉnh Hương Nghiền.
Trên địa bàn xã Dương Xá có 17 di tích lịch sử văn hóa,
gồm 6 đình, 2 đền, 5 chùa, 2 nghề, 1 nhà thờ họ, 1 di tích canh mạng kháng chiến.
Trong đó có 5 di tích cấp quốc gia, 9 di tích cấp thành phố,
nổi bật nhất là cụm di tích đền chùa Bà Tấm, rộng 5HA, đền thờ Hoàng Thái Hậu ỉ làn,
người phụ nữ tài sát mẹn toàn, trình độ thông tuệ và là người phụ nữ duy nhất trong lịch sử
phong kiến Việt Nam hai lần nhất chính thay chồng và con trông coi việc nước.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi. Hẹn gặp lại quý vị trong những video sắp tới.
Quý vị nhớ nhấn like và chia sẻ để ủng hộ kênh nhé. Đừng quên nhấn
đăng ký kênh youtube để không bỏ lỡ những video mới nhất. Quý vị hãy bình luận ở phía
dưới để góp ý cùng duy những địa điểm, địa danh lịch sử mà quý vị muốn duy tới,
khám phá và trải nghiệm. Cảm ơn quý vị rất nhiều.
Hà Nội Phố, Nhận, Giao Hàng, Toàn Quốc
