HUYẾT CHIẾN BÌNH LỆ NGUYÊN, VUA TRẦN SUÝT BỊ GIẶC NGUYÊN BẮT SỐNG

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#BLVHảiThanh #History #BìnhLệNguyên #NguyênMông
#TrầnNhânTông #NhàTrần
#tuluyen #daophat
#Mongnguyen
#Su7 #Sử7 #Su7VietNam
HUYẾT CHIẾN BÌNH LỆ NGUYÊN, VUA TRẦN SUÝT BỊ GIẶC NGUYÊN BẮT SỐNG
#Mongolia #MôngCổ #Empire
Hãy tưởng tượng, vào một ngày cuối năm 1257,
khi bầu trời phương Bắc bị nhộm đen bởi vó ngựa quân Mông Cổ.
Đó không phải là một đội quân bình thường mà là cơn ác mộng thực sự của cả thế giới.
Đội quân từng quét sạch cả châu Âu, Trung Á và Trung Đông.
Nhưng tại Đại Việt, một quốc gia nhỏ bé nằm bên bờ Biển Đông, câu chuyện đã khác đi.
Trận bình lễ nguyên là trang mở đầu cho khúc ca kháng chiến chống nguyên mông đầy hào hùng của Nhà Trần.
Nơi mà trí tuệ và lòng dũng cảm đã chiến thắng sức mạnh vũ bão của đội quân được coi là bất khả chiến bại.
Nhưng cũng trong trận này, vua Trần, thiếu chút nữa, đã bị bắt sống.
Năm 1257, Đế quốc Mông Cổ đang trong giai đoạn Hoàng Kim.
Sau khi thôn tính Đại Lý, quân Mông Cổ tiến sát biên giới Đại Việt dưới sự chỉ huy của Ngột Lương Hợp Thai.
Cha của Ngột Lương Hợp Thai là danh tướng Tốc Bất Đài, một trong tư dũng của thành các tư hãn.
Sinh ra trong một gia đình quý tục quân sự, Ngột Lương Hợp Thai được huấn luyện để trở thành một chiến binh từ nhỏ.
Ông ta kế thừa không chỉ tài năng của cha mà còn cả lòng trung thành với các khả hãn Nhà Mông Cổ.
Ngột Lương Hợp Thai đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng lãnh thổ của Mông Cổ tại phía Nam Trung Quốc và Đông Nam Á.
Một số chiến dịch đáng chú ý bao gồm chiến dịch chinh phục Đại Lý thuộc Vân Nam bây giờ.
Đó là năm 1253, Ngột Lương Hợp Thai được cử làm phó tướng dưới quyền hốt tất liệt trong chiến dịch tấn công Đại Lý.
Đại Lý nhanh chóng bị chinh phục, trở thành ban đạp để Mông Cổ tiến xuống các nước Đông Nam Á, bao gồm Đại Việt.
Ngột Lương Hợp Thai tiếp tục được cử chinh phục Đại Việt.
Quân Mông Cổ không chỉ muốn cướp bóc mà còn muốn biến Đại Việt trở thành một quốc gia trư hầu, cống nạp ngựa, vang bạc và nhân lực.
Triều Đình Nhà Trần, đứng đầu là vua Trần Nhân Tông, nhận được thư đòi thần phục từ quân Mông Cổ.
Nhưng hãy nhớ rằng, Nhà Trần không phải là triều đình cuối đầu cầu hòa.
Câu trả lời của Đại Việt rất rõ ràng, không.
Quân Mông Cổ tiến quân như một cơn bão, mỗi người lính đều là kỵ binh thiện chiến, nhưng Đại Việt không phải là kẻ yêu thế.
Dưới sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông và các tượng lĩnh tài ba, quân đội Đại Việt đã lên kế hoạch chú đáo.
Các làng mà gần biên giới được lệnh sơ tán, người dân dỡ bỏ nhà cửa, giấu lương thực vào rừng, để quân Mông Cổ tiến vào chỉ thấy một vùng đất trống rỗng.
Sâu trong lãnh thổ, Đại Việt đã chọn Bình Lệ Nguyên làm nơi để tiếp dặn.
Bình Lệ Nguyên ngày nay thuộc huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc, một vùng đất đang phát triển với nhiều khu công nghiệp và đô thị.
Dù thời gian đã làm phai nhòa dấu tích cụ thể của trận chiến, nhưng kỷ ức về nơi đây vẫn còn sống trong lịch sử dân tộc như một biểu tượng cho lòng quả cảm và tinh thần mưu trí của người Việt.
Đây là một vùng đất Trung Du, cách Hà Nội khoảng 50km về phía tây bắc, nổi bật với địa hình gò đôi sen kẽ với đồng bằng, tạo ra một vị trí chiến lược quan trọng.
Khu vực này không chỉ là cửa ngõ vào đồng bằng, mà còn là tuyến đường chính dẫn quân xâm lược từ biên giới phía Bắc tiến thành đến Kinh Thành Thang Long.
Với những ưu thế địa lý như vậy, Bình Lệ Nguyên được chọn làm nơi đối đầu trực diện với quân đội Mông Cổ, mở mạng cho cuộc kháng triển hào hùng của nhà Trần.
Vào cuối năm 1257, quân Mông Cổ đã dưới sự chỉ huy của danh tướng Ngột Lương Hợp Thai tiến vào biên giới Đại Việt với mục tiêu trình phục nhanh gọn.
Đội quân này gồm khoảng 30.000 người, vốn là lực lượng kỵ binh Tinh Nguệ từng làm mưa làm gió trên khắp lục địa Á Âu.
Tuy nhiên, khi đặt chân đến Bình Lệ Nguyên, chúng không ngờ rằng mình sẽ gấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân Đại Việt.
Đây là vùng đất Trung Du điển hình, vừa có những cánh đồng rộng lớn để tổ chức trận địa, vừa có những gò đồi tự nhiên nơi các đội quân có thể mai phục và rút lui chiến lược.
Vị trí này tạo ra một lợi thế phòng thủ đáng kể cho quân đội nhà Trần trước sức mạnh áp đảo của kỵ binh Mông Cổ.
Cụ thể, vào cuối tháng 12 năm 1257, quân Mông Cổ đã tiến đến Bình Lệ Nguyên, nơi quân đội Đại Việt đã tập kết sẵn, chân ánh mở màn bằng những đợt tấn công trực diện giữa hai bên.
Ban đầu, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của vua Trần Thái Tông và các tướng lĩnh đã tổ chức phòng thủ mạnh mẽ, cố gắng cầm chân kỵ binh Mông Cổ.
Tuy nhiên, quân đối phương với lợi thế về kỵ binh và cung tên bắn nhanh khi cưỡi ngựa đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề cho quân Đại Việt.
Những chiến thuật di chuyển linh hoạt của kỵ binh Mông Cổ khiến quân Đại Việt gặp khó khăn khi giao chiến trực diện.
Binh lĩnh Đại Việt ở trên lưng voi dùng cung tên bắn và dùng kích cầu liêm để đánh giết kỵ binh Mông Cổ, hỗ trợ đắc lực cho bộ binh tấn công trực diện, vào chân và bụng ngựa với những vũ khí như là gươm, đao, rìu, ráo, kích.
Không giáp chiến được với tượng binh, kỵ binh Mông Cổ đã chọn các cụm bộ binh và kỵ binh Đại Việt vào xông vào rồi di chuyển xung quanh tượng binh và bắn tên.
Với chiến thuật này thì kỵ binh Mông Cổ mới chứng tỏ được sự vượt trội của mình.
Cung tên Mông Cổ bắn nhanh, xa và rất chính xác dù người bắn cung cùng ngựa chiến di chuyển liên tục.
Dẫu cho tượng binh Đại Việt đều có trở lính bắn tên ở trên lưng voi, có lợi thế bắn tên từ trên cao nhưng số lượng là rất hạn chế.
Vài trăm thất voi thì cũng chỉ khoảng ngàn tay cung và tỏ ra không còn ưu thế trước kỵ binh Mông Cổ.
Nhiều voi chiến bị trúng tên vào những chỗ yếu huyệt như mắt và vòi.
Voi đau đớn, hoảng sợ, quay đầu chạy loạn, dẫm cả vào người và ngựa của quân Đại Việt.
Như vậy thế trận của ta đã lỗ sợ hở.
Quân Mông Cổ đã chấp lấy thời cơ, theo đường voi chạy mà đánh thọc sâu vào trận tuyến Đại Việt.
Quân ta kiên cường chống trả, gây cho địch khá nhiều thiệt hại.
Tuy vậy đại binh Mông Cổ đã dần chiếm thế chủ động nhờ giáp tốt, ngựa khỏe, di chuyển nhanh.
Địa hình binh Lệ Nguyên lại khá bằng phẳng nên đất cứng thuận lợi cho kỵ binh Thảo Nguyên thi thố hết sở trường.
Chúng dùng chiến thuật chia cắt và giết từng cụ một,
khiến quân đội Đại Việt thiệt hại nhiều mà không thể chặn được đa tiến lên.
Chẳng mấy chốc, những tên lính Mông Cổ đã tràn tới giao chiến với quân hộ vệ của vua Trần Thái Tông.
Vua Trần Thái Tông trực tiếp chỉ huy quân đội trên chiến trường,
nhưng kỵ binh Mông Cổ có tốc độ quá nhanh liên tục áp sát đội hình của Đại Việt.
Theo một số tài liệu, vua Trần đã ở rất gần vùng chiến tuyến
và suýt nữa bị kỵ binh Mông Cổ bắt sống khi quân Đại Việt phải rút lui trong hỗn loạn.
Sử sách không ghi chép chính xác số lượng quân Đại Việt bị bắt sống hoặc thiệt mạng trong trận binh Lệ Nguyên,
nhưng có một số thông tin giám điệp cho thấy tồn thất của quân đội nhà Trần trong trận đánh này là rất đáng kể.
Nhận thấy không thể đối đầu trực tiếp lâu dài với kỵ binh Mông Cổ trên những cánh đồng,
vua Trần Thái Tông đã ra lệnh rút lui chiến lược.
Quân Đại Việt đã rút khỏi binh Lệ Nguyên, lùi về bảo vệ kinh thành Thăng Long.
Đây không phải là một sự thất bại mà là một phần trong kế hoạch lớn hơn, vườn không, nhà trồng.
Khi rút lui, quân Đại Việt đã để lại những cánh đồng hoang vắng, những làng mạc, trống rỗng
và không có một nguồn lương thực nào cho quân Mông Cổ.
Người dân được lệnh sơ tán, mang theo toàn bộ lương thực, đốt sạch những gì không thể mang đi.
Chiến thuật này không chỉ làm quân Mông Cổ mất phương hướng,
mà còn khiến chúng lâm vào tình trạng thiểu hụt lương thực chậm trọng ngay khi tiến vào vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Sau khi giành được chiến thắng ban đầu tại bình Lệ Nguyên, quân Mông Cổ tiếp tục tiến thẳng về thành Thăng Long.
Tuy nhiên khi đến kinh thành, chúng cũng không tìm thấy gì ngoài một kinh thành trống rỗng.
Kinh thành đã được triều đình nhà Trần bỏ lại trong tình trạng vắng bóng người
và tất cả đều đã bị sơ tán hoặc phá hủy.
Chúng chiếm thành Thăng Long, không tận dụng được hành quả.
Sự thiểu hụt lương thực, thời tiết khắc nghiệt và sự quấy rối liên tục từ quân Đại Việt ở vùng ngoại vi
khiến quân Mông Cổ ngày càng suy yếu.
Nhiều binh lính đã chết xuống vì đói, vì bệnh tật, khiến tinh thần chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.
Sau khi khiến quân Mông Cổ rơi vào tình trạng kiệt quệ này, triều đình nhà Trần đã phát lệnh phản công.
Quân Đại Việt nhờ giữ được lực lượng chiến thuật rút lui bất ngờ tấn công quân Mông Cổ từ nhiều hướng.
Những trận đánh phun kích ở vùng ven Thăng Long và trên đường rút lui của quân Mông Cổ
đã gây tổn thất lớn cho đội quân xâm lược.
Không thể chịu đựng được khêm, nguồn lương Hợp thai buộc phải ra lệnh rút quân về Đại Lý vào năm 1258.
Cuộc xâm lược đầu tiên của quân Mông Cổ và Đại Việt kết thúc trong thất bại,
bất chấp lợi thế về lực lượng và danh tiếng của đội quân này.
Trận Bình Lệ Nguyên không chỉ là một chiến thắng về mặt quân sự
mà còn là một bài học kinh điển về chiến lược và nghệ thuật kháng chiến.
Chí tuệ của triều đình nhà Trần kết hợp với sự đoàn quyết của quân dân Đại Việt
đã biến một đội quân mạnh mẽ như quân Mông Cổ thành những kẻ thua trận.
Đây là lần đầu tiên Đại Việt đối đầu trực tiếp với một đế chế hùng mạnh bậc nhất thế giới
và chiến thắng này đã tạo tiền đề cho những thành công vang dội trong hai lần kháng chiến nguyên mông sau đó.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
