Vua Duy Tân – Giấc Mộng Buồn Của Vị Vua Nhỏ Tuổi Nhất Triều Nguyễn
Trước tấm gương mà vua Thành Thái đã để lại, người Pháp vẫn cho rằng việc lập một vị vua nhỏ tuổi rồi sau đó giáo dục sẽ là cách thức hữu hiệu nhất để có được một ông hoàng bù nhìn về sau. Kết quả là Nguyễn Phúc Vĩnh San đã được chọn lên ngôi với niên hiệu Duy Tân khi vừa tròn 7 tuổi. Thế nhưng, người Pháp lại thêm một lần nữa với mộng khi vị vua thiếu nhi cứ 5 lần 7 lượt tìm mọi cách đánh đuổi họ. Nhưng vẫn như hai vua Hàm Nghi và Thành Thái, chỉ vì giấc mộng độc lập bất thành mà ông trở thành vị vua thứ 3 của vương triều Nguyễn bị lưu đày và trở thành vị vua thứ hai chết nơi xứ người.
Duy Tân giấc mộng độc lập và cái kết buồn của vị vua nhỏ tuổi nhất Triều Nguyễn.
Trước tấm gương mà vua Thanh Thái đã để lại, người Pháp vẫn cho rằng việc lập một vị vua nhỏ tuổi rồi sau đó giáo dục sẽ là cách thức hữu hiểu nhất để có được một ông hoàng bù nhìn về sau.
Kết quả là Nguyện Phúc Vĩnh Sang đã được chọn lên ngôi với niên hiệu Duy Tân khi vừa tròn 7 tuổi.
Thế nhưng người Pháp lại thêm một lần nữa vỡ mộng khi vị vua Thiếu Nhi cứ 5 lần 7 lượt tìm mọi cách đánh đuổi họ.
Nhưng vẫn như hai vua Hàm Nghi và Thanh Thái, chỉ vì giấc mộng độc lập bất thành mà ông đã trở thành vị vua thứ 3 của Vương Triều Nguyễn, bị lưu đầy và trở thành vị vua thứ 2, chết nơi xứ người.
Kế hoạch thao túng của người Pháp
Vua Duy Tân tên huy là Nguyện Phúc Vĩnh Sang khi lên ngôi đổi thành Nguyện Phúc Hoảng, sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý, tức 19 tháng 9 năm 1900 tại Huế.
Ông là con thứ 8 của vua Thanh Thái và bà Hoàng Phi Nguyễn Thị Định.
Sau khi vua Thanh Thái phải thoái vị với lý do bệnh thực và bị đưa đi đầy ở Vũng Tàu, thực dân Pháp và Triều Nguyễn bàn bạc việc lập người kế vị.
Nhằm xoa dịu phản ứng từ nhân dân và sĩ phu yêu nước, Viện Không Sứ Pháp, Levesque buộc phải lựa chọn con của vua Thanh Thái để lên núi ngôi.
Vua Thanh Thái rất đong con Viện Không Sứ đề nghị viện cơ mật cho dẫn các hoàng tử tới để lựa chọn.
Các hoàng tử có mặt đầy đủ vì hoàng tử Úc Vĩnh Sang khi đó 17 tuổi đang chui dưới gầm giường bắt dế khiến cho mọi người phải nháo nhau đi tìm.
Khi ra hỏi thì Vĩnh Sang nói, ta đang tìm con dế vừa mới sống.
Vì sợ bị quộ phạt, người lính đi tìm Vĩnh Sang không đưa ông đi tắm rửa mà đưa thẳng ra trình diện quan Pháp.
Thấy Vĩnh Sang nhỏ tuổi lại tỏ ra nhút nhát, sợ tây, người Pháp rất là ưng ý và chọn để tấn phong.
Sách Vua Duy Tân của thác giả Hoàng Hiển xuất bản năm 1995 viết rằng các anh em của Vĩnh Sang bị loại với nhiều lý do.
Trong đó quan trọng nhất là các trẻ thương kế mang những tật xấu của bố tức là vua Thành Thái đều có bộ mặt khó coi, tài chân lỏng khổng, vẻ mặt thâm hiểm.
Mưu đồ của Pháp là đưa một ông vua chưa biết gì về vận nước, không có tinh thần chống Pháp để dễ bề sai khiến về sau, càng nhỏ tuổi càng dễ uống nắng.
Ngày 28 tháng 7 năm đêm mùi 1907, Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh Sang, 7 tuổi, sự sách thường ghi là 8 tuổi, chính thức lên làm vua.
Cuốn chuyện những ông hoàng triều nguyện ghi chép.
Khi đó áo quần chưa kịp may, Vĩnh Sang phải quàng chiếc áo lông bào của Thành Thái có đủ cân đai, nặng đến 5kg.
Mặc áo vào, nhà vua đi không nổi phải ngồi một chỗ.
Khi chọn niên hiệu Vĩnh Sang lấy chữ Duy Tân có nghĩa là thuật cải cách hoặc là nhà vua canh tân, đổi mới.
Được chọn vì tuổi nhỏ trông có vẻ ngờ nghệch ốm yếu.
Nhưng ngày sau lễ Tôn Vương một ngày, Vĩnh Sang tỏ thay đổi khác hẳn.
Ông không hề tỏ ra sợ tây, nói năng đúng khẩu khí vương quyền.
Tiếp toàn quyền Đông Dương và không xứ Trung Kỳ, ông nói thẳng bằng tiếng Pháp.
Một nhà báo tường thuộc buổi lễ Tôn Vương đã kết thúc bài báo bằng câu tiếng Pháp.
Một ngày trên ngay vàng đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của một cậu bé lên tám.
QUYẾT ĐẤU VỚI THỰC DÂN PHÁP
Lúc vua Duy Tân lên ngôi, việc nước do tòa khâm sứ điều khiển.
Vì thế ngoài những buổi lễ tế và cúng dỗ tổ tiên hay là đón quốc khách,
ông dành hết thời gian cho việc học.
Với tham vọng đào tạo vua Duy Tân trở thành một người biết tiếng Pháp
và văn minh văn hóa phương Tây để làm bù nhìn.
Khâm sứ Pháp đã cử tiến sĩ khoa học Philippe Eberhardt sang dạy cho nhà vua.
Tuy nhiên họ cũng muộn lòng phải chấp nhận cho triều đình Huế
mời thêm một nhà nho Việt Nam phụ đạo chữ Hán.
Vua Duy Tân đã chọn ông Mai Khắc Đôn, đang giữ chức tuần vũ tỉnh Quảng Trị,
nổi tiếng là một ông quan thanh niêm và biết lo cho dân.
Duy Tân được người Pháp tạo điều kiện để vui chơi nhằm quên đi việt nước.
Nhưng trái lại, ông miệt Mai học tập để am hiểu nhiều lĩnh vực
như tiếng Pháp, triết học, chính trị học, luật lệ.
Ông sử dụng thanh thạo nhiều nhạc cụ như đàn nguyệt, đàn tranh
và tiếp thu kiến thức văn hóa thanh tựu của phương Tây.
Giáo sư Eberhardt thế thế tháng phục.
Vị thiêu đế này sẽ là nhân vật không thầm thường.
Khoảng năm 1912, Khâm sứ George Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vang ráo riết.
Mahé lấy tượng vang Đức từ thời Chúa Nguyện Phúc Chu trên tháp Phước Duyên của Chùa Thiên Mụ,
đào lăng vua tử Đức và đào sới lung tung trong đại nội để tìm vang.
Vua Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không thiếp ai.
Khi tòa Khâm sứ Pháp làm áp lực, ông đe dọa sẽ tuyệt giao với các nhà đơn cục ở Huế lúc bấy giờ.
Cuối cùng, toàn quyền Albert Pierre Saurot từ Hà Nội vào giải quyết.
Vua Duy Tân mới cho mở hoàn thành.
Năm vua 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt Pháp đã ký.
Tòa Ý muốn cử người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước Paternus.
Nhưng cả triều đình không ai dám nhận.
Năm 15 tuổi, vua đã triệu tập cả sáu ông đại thân trong vụ chính,
bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân vua cầm qua trình với tòa Khâm sứ.
Nhưng các đại thân sợ người Pháp giận nên từ chối không ký và phải xin ý kiến Thái Hậu để nhờ bà can gián nhà vua.
Từ đó không những nhà vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với cả triều đình.
Càng lớn vua Duy Tân càng có những lời nói và cử chỉ tỏ rõ ý chí chống Pháp.
Sách gần 400 năm vua chú Triều Nguyễn ghi chép rằng hàng năm nhà vua và hoàng mẫu đều ra nghỉ mát tại cử tung.
Một lần vua vừa xây xong một thanh lũy bằng cát, quàng thị vệ bưng chỗ nước tới cho vua rửa tay.
Vua Duy Tân chỉ vào thanh lũy hỏi rằng,
Tai nhớp dùng nước để rửa, thế nước nhớp thì lấy gì rửa đây?
Viện quàng thị vệ hiểu ý nên không dám thốt ra lời nào, chỉ ấp uống.
Vua Duy Tân liền nói, nước nhớp thì chỉ có cách lấy máu để rửa đi mà thôi.
Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bụi Châu thành lập từ năm 1912.
Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang Phục Hội quyết định móc nối.
Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên đã bỏ tiền vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc
để thay Phạm Hữu Khánh, một thành viên của hội vào vị trí đó.
Tháng Tư năm 1916, khi vua Duy Tân ra bãi tắm cửa tung nghỉ mát, Phạm Hữu Khánh đưa cho vua một bức thư của hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên.
Duy Tân đọc thư xong, thấy đã tìm được người cùng chí hướng.
Nên ngày hôm sau, khi ba người cùng đến câu cá ở Hậu Hồ, vua Duy Tân đồng ý cùng tham gia khởi nghĩa.
Khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5.
Lực lượng chủ yếu là một số lính Việt bị Pháp bắt dồn về Huế chuẩn bị đưa sang Pháp làm lính đánh thuê.
Nhưng cuối tháng Tư, một thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội ở Quảng Ngãi đã làm lộ tin.
Chiều ngày 2 tháng 5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi bật điện cho không sứ trung kỳ biết tin.
Nghe tin, không sứ trung kỳ ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt và cấm trại không cho một người lính Việt nào ra ngoài.
Đêm 2 tháng 5, vua Duy Tân rời khỏi Hoàng Thành, ra điểm hẹn Phu Văn Lâu.
Được hai vị Trần Quang Siêu và Tôn Thất Đề hộ về đến làng Hà Trung để chờ nghị quân phát báo hiệu báo thành công.
Nhưng đến 3 giờ sáng vẫn không thấy động tỉnh gì.
Bàn chỉ huy Khởi Nghĩa biết rằng việc đã bị bài lộ, vội đưa vua Duy Tân ngược thuyền lên biển núi Tây Nam, trú tại xóm Ngũ Tây, thôn An Cựu, Thừa Thiên.
Nhưng mọi việc không qua được mắt của Tây Sai Pháp.
Sáng ngày 6 tháng 5, vua Duy Tân và hai thủ lĩnh Thái Phiên Trần Cao Vân cùng nhiều chí sĩ cách mạnh đã bị bắt.
Tòa không sứ Pháp chỉ thị cho viện cơ mật phải nhanh chóng xét xử thật nặng những người liên quan đến cuộc binh biến kể cả nhà vua.
Bản án thảo ra Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thích Đề và Nguyễn Quang Triêu đều bị sự chém.
Nhà vua được xem trẻ người non dạ, bị nghĩa quân lôi kéo nên không bị triều đình kết án.
Nhưng người Pháp đã bí mật thảo một bản án khác cho ông.
Sách kể chuyện các vua Nguyễn viết rằng khi bị nham ở Mang Cá, dù rất muốn duy trì thú vui đọc sách, tập thể dục, đánh đàn và nghe hòa nhạc như thời trong cung,
vua Duy Tân vẫn quyết không hạ mình đòi Pháp một sự chiếu cố nào.
Đến ngày thi hành án, một viên đại diện của Không Sứ đến thăm và hỏi rằng,
nhà vua có một quỹ tiền riêng lưu trữ tại kho nội vụ, ngài có cần lấy một ít để đi đường hay không?
Vua Duy Tân mới đáp, tiền đó để cấp cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải là của tôi một người tù.
Ngày 3 tháng 11 năm 1916, gia đình vua Thành Thái và Duy Tân lên tàu Woodiana ở Cap St. Charles, Vũng Tàu.
Đến ngày 20 tháng 11, họ tới bến Pont de Gallais của đảo La Reunion lúc 7 giờ rưỡi sáng.
Tại đây từ chối một biệt thử sang trọng người Pháp dành cho, gia đình cựu hoàng sống trong một căn nhà thuê lại của một người dân ở thành phố St. Denis,
sống ăn mặc và sinh hoạt như bao người dân bình thường khác ở đảo này.
Do không hợp tính tình với thái thượng hoàng Thành Thái, ông cắt đứt liên lạc với gia đình.
Duy Tân ghi tên học về vô tuyến điện và mở tiệm Radio Laboratory bán hàng sửa chữ máy.
Đồng thời ông thi tu thai ở trần trung học Le Cône de Lislet và học thêm ngoại ngữ, luật học.
Duy Tân ít quan hệ với người Pháp, chỉ giao du với một nhóm bạn bè.
Ông tham gia hội yêu nhạc, học cưỡi ngựa và thắng nhiều cuộc đua.
Cựu hoàng Duy Tân còn viết nhiều thơ đăng trên tờ báo Dân Chúng, Tiến Bộ dưới biệt hiệu George Dry.
Bài Những Tiết Thấu của Một Cây Đàn Lia Gãy Vỡ được giải nhất văn chương
của Biện Hàng Lâm Khoa Học và Văn Chương La Reunion năm 1924.
Duy Tân còn là hội viên của Hội Tam Điểm Franck Marcon
và Hội Địa Phương Bảo Vệ Nhân Quyền và Quyền Công Dân.
Một số lần ông đã xin chính quyền cho phép ông đến sống tại một quốc
từ 1936-1940 thì xin phục vụ trong quân đội Pháp.
Tất cả các đơn đều bị bác bỏ vì bộ thuộc địa phê trong tờ lý lịch cá nhân của Duy Tân
được giải mật sau này rằng có vẻ khó mua chuột, rất độc lập,
mua đồ rời khỏi đảo La Reunion để tái lập ngôi báo ở An Nam.
Sách Chuyện Tình Vua Chú Hoàng Thọc Việt Nam kể rằng
khi Duy Tân 16 tuổi, tiều đình đục rịch bàn chuyện nạp phi cho ông.
Nhưng ông nói vận nước còn đang gai gắt thì việc lấy vợ chưa gấp, càng chậm càng thuốc.
Nghe được nơi ấy, mẹ ông là bà Nguyễn Thị Định sốt ruột nên nhiều lần năng nỉ con lấy vợ.
Không muốn mẹ buồn, cuối cùng ông đồng ý nạp phi.
Biết được tên ấy, các đại thân đua nhau vào chầu hoàng mẫu để nhắc tên tưởng con cháu mình.
Một danh sách dài được các thái giám lập và dân lên cho vua chọn nhưng ông đều từ chối.
Cuối cùng người ông chọn là Mai Thị Vàng, con gái đầu lồng của quan phụ đạo Mai Khắc Đuông.
Bà Vàng sinh năm 1899, hơn vua một tuổi, quê ở thôn Kim Long, xã Hưng Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Đến ngày 30 tháng 1 năm 1916, lễ nạp phi được tổ chức trọng thể ở bộ lễ.
Bà Mai Thị Vàng được phong làm đệ nhất giai phi của vua Duy Tân.
Tuy nhiên ít người biết rằng trước đó nhà vua đã có lễ hỏi bà Hồ Thị Chỉ, con gái quan thượng thư Hồ Đắc Trung.
Những lần vua nghỉ hè, ra lệnh cho Hồ Đắc Trung tìm một số bạn cùng lứa để chơi cùng.
Thế là ông nhân cơ hội cho hai của con gái đi theo.
Cứ thế tình cảm lớn dần, thậm chí vào năm 1915, vua đã sửa soạn ca lệ đến hôn.
Nhưng bất ngờ vào cuối năm 1915, vì không muốn bà bị cuốn vào kế hoạch khởi nghĩa chống Pháp, vua Duy Tân buộc phải từ hôn.
Và chung với kết cục dở dang của cuộc khởi nghĩa, chuyện tình và cuộc đời của cả ba người cũng đều có những cái kết vô cùng buồn.
Hoàng Phi Mai Thị Vàng ban đầu theo ông đi đầy, nhưng được hai năm bà sinh về Việt Nam vì không chịu được khí hậu ở đó, cũng như muốn giảm gánh nặng cho gia đình.
Thời gian ở La Reunion, ông có chung sống với ba người vợ ngoài giá thú, vì Hoàng Phi Mai Thị Vàng từ chối ly hôn.
Về phần bà Hồ Thị Chỉ, vì muốn có một người biết tiếng Pháp để tiện thông ngôn, vua Khải Định đã đưa bà vào cung phòng lạm ân Phi.
Tuy vậy, bà vào cung không bao lâu thì Khải Định mất, từ đó bà sống trong ưu ước cho đến năm 1982 thì qua đời.
Nạn nhân của một âm mưu chính trị
Ngày 25 tháng 6 năm 1940, sự kiện nước Pháp đầu hàng phát xích Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do De Gaulle đứng đầu, được thành lập ở Anh, trở về tái chiếm đất Pháp, đã có thác động rất lớn đến tư tưởng tình cảm của cựu Hoàng.
Ông xem De Gaulle là thân tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình, nên dốc lòng phục vụ.
Ban đầu, ông thu thập tin tức bên ngoài để chuyển cho lực lượng kháng chiến tự do Pháp.
Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền Larry Union giam lỏng trong 6 tuần.
Sau đó ông phục vụ 3 tháng với cấp bực hạ sĩ vô tuyến trong phe kháng chiến, bị dạy ngủ vì lý do sức khỏe.
Duy tân nhờ thống đốc Larry Union can thiệp cho ông vào bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Cadou với cấp bực binh nhì.
Một thời gian sau thì ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu.
Duy tân đến Pháp vào tháng 6 năm 1945 khi Đức đã đầu hàng.
Ông được đưa qua phục vụ tại bộ thăm mưu của Sưu đoàn 9 bộ binh thuộc địa đóng ở Forenois của Đức.
Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Charles de Gaulle đã ký một xác lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tiếp của Duy tân trong quân đội Pháp.
Ông lên chức thiếu tá vào ngày 25 tháng 9 năm 1945.
Ngày 14 tháng 12 năm 1945, Charles de Gaulle đã thiếp cựu hoàng Duy tân nhằm bàn về vấn đề Đông Dương.
Trong tập hồi ký chiến tranh, tướng de Gaulle đã ghi rằng
Tôi sẽ tiếp cựu hoàng Vĩnh Sang và sẽ cùng ông xem xét chúng tôi sẽ làm được những gì.
Đó là một nhân vật đầy cương nghị.
Mặc dù bị lưu đầy rồng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mở trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam.
Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Duy tân lấy phi cơ Lockheed C-60 của Pháp,
cất cánh từ Boguette, Paris để trở về La Reunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới.
Ngày 26 tháng 12 năm 1945, máy bay rơi gần làng Basako, thuộc phân khu Mbaiki, Cộng hòa Trung Phi.
Tất cả phi hành đoàn bao gồm cả cựu hoàng Duy tân đều thiệt mạng.
Theo nhiều người thì đây có thể là một vụ mưu sát bởi việc vua Duy tân trở lại Việt Nam
sẽ gây khó khăn cho anh trong việc trao trả các thuộc địa.
Theo người bạn thân của vua kể lại, 10 hôm trước khi tử nạn, vua có linh cảm tính mạng bị đe dọa
nên đã kể cho ông biết khi người Anh đề nghị tặng 30 triệu quang nếu ông không về nước.
Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hai cốt của vua Duy tân được gia đình đưa từ Mbaiki, Trung Phi
về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Vật học Vincennes
và sau đó đưa về An Tán tại An Lăng của Huế, cạnh nơi an nghị của vua cha Thành Thái vào ngày 6 tháng 4 năm 1987.
Cảm ơn bạn đã xem video trên kênh Người Nổi Tiếng.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và xem thêm những video khác để ủng hộ nhóm nha!