Chiến Tranh Lạnh - Cuộc Đối Đầu Không Tiếng Súng Giữa Liên Xô Và Mỹ Thế chiến 2 vừa kết thúc, nhân loại tiếp tục bước vào một cuộc chiến khác - không tiếng súng nhưng cực kỳ căng thẳng - đó là Chiến tranh Lạnh (Cold War). Trong phút chốc, thế giới bị phân chia làm hai thái cực, một bên là Mỹ, một bên là Liên Xô. Dù mang danh là cuộc chiến không tiếng súng như Chiến tranh Lạnh vẫn khiến nhiều quốc gia kiệt quệ vì chạy đua vũ trang hay khủng hoảng kinh tế. Thế nhưng, ở một góc độ nào đó, nó vẫn có ý nghĩa tích cực đối với một số nước.
======= Bạn có thể nghe nội dung audio của video này trên ứng dụng Sách Tinh Gọn.
Sách Tinh Gọn là ứng dụng đọc sách dành cho người bận rộn, giúp mọi người tiếp thu được những tinh hoa tri thức của thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Những gì tinh túy nhất của quyển sách được gói gọn bằng những nội dung mà chúng tôi gọi là nội dung tinh gọn, thể hiện dưới dạng text hoặc audio (chỉ với thời lượng 30 phút).
Nội dung tinh gọn từ những đầu sách mới nhất trên thế giới, được đội ngũ sản xuất có kinh nghiệm chọn lọc, biên dịch một cách kỹ lưỡng. Nội dung mới được cập nhật mỗi ngày.
Chiến tranh lạnh – Cuộc đối đầu không tiến súng giữa Liên Xô và Mỹ
Thế chiến thứ 2 vừa kết thúc, nhân loại tiếp tục bước vào một cuộc chiến khác, không tiến súng nhưng cực kỳ căng thẳng, đó là chiến tranh lạnh, Cold War.
Trong phút chốc, thế giới bị phân chia làm hai thái cực, một bên là Mỹ và một bên là Liên Xô.
Dù mang danh là cuộc chiến không tiến súng, nhưng chiến tranh lạnh vẫn khiến cho nhiều quốc gia kỵt quệ vì chạy đua vũ trang hay khủng hoảng kinh tế.
Thế nhưng ở một góc độ nào đó, nó vẫn có ý nghĩa tích cực đối với một số nước.
Ra đời sau thế chiến 2
Thế chiến 2 kết thúc vào năm 1945, để lại một châu Âu bị tàn phá nặng nề.
Trong hoàn cảnh đó, Mỹ và Liên Xô với tư cách là liên minh thắng trận đã nổi lên như siêu cường thế giới, giao có về kinh tế và hung mạnh về quân sự.
Hai quốc gia này nhanh chóng vươn lên nắm quyền, chi phối toàn bộ hệ thống chính trị thế giới.
Thế nhưng sự đối lập ý thức hệ đã khiến Mỹ và Liên Xô nhanh chóng trở mặt, đứng trên hai chiến tuyến trái ngược nhau.
Sau đó một loạt xung đột liên tiếp nổ lên, tuy không dẫn đến khói lửa binh đao, nhưng lại là khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử mà về sau chúng ta thường nhắc đến với tên gọi chiến tranh lạnh, Cold War.
Nhưng ai là người đặt ra thuật ngữ chiến tranh lạnh?
Theo đa phần ý kiến, người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Bernard Baruch, một nhà tài Việt và là cố vấn cho nhiều đời Tổng thống Mỹ.
Từ Woodrow Wilson tới Harry S. Truman, ngày 16 tháng 4 năm 1947, ông đã nhắc đến chiến tranh lạnh trong bài phát biểu trước Hạ viện bang Nam Carolina.
Đừng để chúng ta bị đánh lừa, chúng ta hiện đang ở giữa một cuộc chiến tranh lạnh.
Đến tháng 9 năm 1947, nhà báo nổi tiếng Walter Lippmann đã khiến thuật ngữ này trở nên phổ biến thông qua bài viết Cold War đăng trên tờ New York Herald Tribune.
Theo đó, chiến tranh lạnh được hiểu là thời kỳ căng thẳng về mặt chính trị và quân sự giữa Mỹ và Liên Xô sau khi kết thúc Thế chiến II.
Yếu tố chiến tranh ở đây thể hiện sự đối đầu sâu sắc về mặt quyền lực và ý thức hệ giữa hai nước.
Trong khi đó, từ lạnh phản ánh việc Liên Xô và Mỹ không sử dụng vũ khí nóng, tức là các loại vũ khí truyền thống trong mối quan hệ kinh địch này.
Thay vào đó, họ sẽ chạy đua vũ trang, nổi bật là vũ khí hạt nhân.
Trên thực tế, chiến tranh lạnh là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tồn tại hệ thống hai cực mà Mỹ và Liên Xô chính là đại diện.
Mâu thuẫn giữa hai siêu cường cũng đại diện cho mâu thuẫn giữa phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô khởi xướng.
Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường
Năm 1946, lãnh tụ của Liên Xô khi đó là Joseph Stalin đã khẳng định sự thành công của chủ nghĩa Cộng sản.
Điển hình là việc Liên Xô đã lôi kéo được các quốc gia Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa của mình.
Mỹ và các nước đồng minh ngay lập tức bác bỏ tuyên bố trên và họ đã thúc đẩy các hành động giải cứu châu Âu khỏi Liên Xô Cộng sản.
Đầu tiên, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO được thành lập năm 1949 gồm Mỹ và các thành viên đồng minh phương Tây bắt nguồn từ ý tưởng của Bộ trưởng Ngoại giao Canada Louis St. Lawrence.
Về cơ bản, họ muốn thành lập một khối các quốc gia dân chủ giúp châu Âu chống lại sự chi phối của Liên Xô.
Để đáp trả mối đe dọa đó, Liên Xô cùng các nước đồng minh trong phe xã hội chủ nghĩa cũng nhanh chóng thành lập khối hiệp ước Vác-Xa-Va năm 1955.
Sự ra đời của hai khối quân sự đã chính thức xác lập cuộc diện hai cực và đánh dấu chiến tranh lạnh chính thức bao trùng thế giới.
Cả hai khối đều duy trì lực lượng quân sự lớn và các loại vũ khí hiện đại để đảm bảo khả năng đáp trả khi đối phương tấn công.
Sau đó, cuộc chạy đua vũ trang lớn nhất trong lịch sử đã bắt đầu trên các lĩnh vực tên lửa liên lục địa, công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhân tạo, kinh khí cầu gián điệp.
Và quan trọng hơn cả là vũ khí hạt nhân, mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình an ninh thế giới, cũng là nguyên nhân lớn nhất để chiến tranh lạnh phát triển đến cao trào.
Chính quyền Mỹ đã tăng số lượng đầu đạn hạt nhân từ 1.000 năm 1953 lên 18.000 đầu năm 1961.
Ở thời điểm này, Mỹ có số bom và đầu đạn hạt nhân lớn gấp 8 lần liên xô, 27.297 so với 3.332.
Tuy nhiên, liên xô lại thắng thế trong cuộc chạy đua vào không gian với việc phóng tàu Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên, sau đó là máy bay không người lái.
Trong thời kỳ căng thẳng, chiến trường của chiến tranh lạnh có thể được phân chia thành châu Âu và các vùng ngoại vi, bao gồm các nước vừa giành được độc lập tại châu Á, châu Phi và Trung Đông.
Sau đó, cuộc chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến 1953 diễn ra, đánh dấu sự thay đổi trọn tâm của chiến tranh lạnh từ châu Âu sang Đông Á.
Lúc này, hai siêu cường Mỹ và liên xô đều cố gắng thu hút thêm đồng minh bằng những lời hứa hẹn viện trợ về tài chính, quân sự, ngoại giao cho các nước.
Làm sao để từ bỏ một thói quen xấu, trở thành một nhà lãnh đạo xuất sắc hay thành công trên thị trình tài chính?
Tất cả sẽ có trong sách tin gọn, ứng dụng cung cấp phiên bản tin gọn của hàng nghìn quyền sách.
Với mỗi quyền sách, chúng tôi đã trác lọc những ý tin tuy nhất giúp bạn thiết kiệm thời gian mà vẫn nắm bắt được tròn vẹn nội dung của quyền sách.
Bạn có thể tải ứng dụng tại website sáchtinggọn.com.
Hòa hoãn rồi lại căng thẳng
Sau giai đoạn kèm cửa nhau khắp mọi mặt trận, chiến tranh lạnh bắt đầu đi vào giai đoạn hòa hoãn với nhiều sự thay đổi.
Lúc này, các ve bắt đầu lục lục nội bộ. Mỹ bất đồng với Pháp, Đức và Nhật vì các nước này đang dần thua hẹp khoảng cách về kinh tế với Mỹ.
Trong khi đó, Liên Xô lại mâu thuẫn với Trung Quốc.
Thêm vào đó, những mối lo về sự mở rộng và phổ biến vũ khí hạt nhân, vấn đề ngân sách đầu tư cho quốc phòng,
cộng với tình hình kinh tế bất ổn trên toàn thế giới cũng là những nguyên nhân khiến cho các nước muốn duy trì sự hòa hoãn.
Sau đó, Tổng thống Mỹ Richard Nixon và lãnh đạo Liên Xô Leonis Brezhnev đã ký Hiệp ước Salt I-1972 để hạn chế sự phát triển các loại vũ khí chiến lược,
bên cạnh các hiệp ước khác như Hiệp ước Không gian vũ trụ OST-1967, Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT-1968, Hiệp ước Chống tên lửa đàn đạo ABM-1972.
Hai bên cũng đã tiến hành nhiều chuyến viến thăm và làm việc song phương, thúc đẩy giải quyết vấn đề đức đức, giải trừ quân bị ở Trung Âu.
Dù vậy, trong giai đoạn này, sự cạnh tranh giữa Mỹ và Liên Xô trong việc dành ảnh hưởng tại các nước thứ ba giàu tài nguyên,
đặc biệt là tại khu vực Trung Đông và Nam Phi, vẫn tiếp tục diễn ra.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên cuộc chiến Afghanistan-Liên Xô năm 1979,
làm bùng lên giai đoạn đối đầu tiếp theo của hai siêu cường được ví như cuộc chiến tranh lạnh lần thứ hai.
Theo đó, Liên Xô ủng hộ chính phủ Afghanistan theo phe Cộng sản,
trong khi Mỹ, Pakistan và các quốc gia Hồi giáo khác ủng hộ phe đối lập lợp độ chính quyền nước này.
Tổng thống Mỹ khi đó là Jimmy Carter cho rằng, hành động triển khai quân đến Afghanistan của Liên Xô là mối đe dọa nghiêm trọng nhất tới hòa bình kể từ sau Thế chiến thứ hai.
Đồng thời, việc Liên Xô đưa số lượng quân đông đảo đến gần khu vực vùng vịnh nhiều dâu mỏ cũng khiến căng thẳng gia tăng.
Thời kỳ hòa hoãn chính thức chấm dứt.
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn nên kinh tế Liên Xô đã lâm vào cảnh khó khăn.
Một trong những nguyên nhân chính là do phí tuộn quốc phòng quá lớn.
Cuộc chiến tại Afghanistan đã không đem lại hiệu quả như mong đợi, khiến Liên Xô bị sa lầy tại đây trong suốt 10 năm.
Ngày 15 tháng 5 năm 1988, Liên Xô bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan và một lần nữa căng thẳng Đông Tây hạ nhiệt.
Kết thúc 4 thật kỷ kèn cửa căng thẳng
Mikhail Gorbachev, tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô lên cầm quyền từ năm 1985, được xem là một trong những nhân tố thúc đẩy sự chấm dứt chiến tranh lạnh.
Thập niên 1980, nền kinh tế Liên Xô rơi vào tình trạng tri trệ do dầu mỏ thế giới rụt giá.
Nguồn thuốc ngoại tệ của nước này cũng giảm rút, quan trọng hơn cả là Liên Xô đã tốn những khoản chi phí khổng lồ để phát triển vũ khí và quốc phòng.
Gorbachev đã bắt đầu những cuộc cải cách của mình nhằm vực dậy kinh tế đất nước với nhiều kế hoạch táo bạo.
Một trong số đó là ngừng chạy đua vũ trang với phương Tây để tập trung phát triển kinh tế nội địa, tiết kiệm ngân sách và tái định hướng đầu tư các nguồn tài nguyên.
Kế hoạch cải tổ của Gorbachev cũng cho phép tăng cường tiếp xúc quan hệ giữa công dân Liên Xô và công dân các nước phương Tây.
Đây là một trong những tiên đề cho Hiệp ước Kiểm soát Vũ khí START I được Liên Xô và Mỹ ký kết vào năm 1985.
Nhưng chiến tranh lạnh chỉ chính thức kết thúc khi Liên bang Soviet tan rã vào năm 1991.
Do lúc này, Gorbachev đã không thể kiểm soát được những cải tổ mà ông đã tiến hành.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, chiến tranh lạnh kết thúc vào thời điểm này là điều hoàn toàn có thể đoán trước.
Liên Xô thật sự đã không thể tiếp tục cạnh tranh với Mỹ trong cuộc đối đầu Đông Tây kéo dài hơn 4 thập kỷ.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết cuộc này của Liên Xô.
Thứ nhất, ngay từ khi bắt đầu chiến tranh lạnh, Mỹ đã chiếm ưu thế hơn.
Nước này chỉ mất 400.000 người trong thế chiến thứ hai, còn Liên Xô thiệt hại đến 27 triệu nhân mạng.
Chưa kể nên kinh tế nước Mỹ cũng hưởng lợi từ cuộc chiến tranh này, trong khi kinh tế Liên Xô hầu như bị hủy hoại.
Thứ hai, Liên Xô không thể theo đuổi những chi phí khổng lồ trong cuộc chạy đua vũ trang,
đặc biệt khi Tổng thống Mỹ Reagan ra lệnh tăng cường khả năng quân sự của nước này những năm 1980.
Và thứ ba, đề xuất xây dựng hệ thống phòng thủ tên lũa.
Chiến tranh giữa các huy sao của Tổng thống Reagan đã chuyển dịch cuộc chạy đua vũ trang
sang một cuộc đua mới về công nghệ hiện đại, điều mà Liên Xô không có lợi thế.
Chiến tranh lạnh kết thúc và chỉ sau một đêm, Mỹ đã trở thành siêu cường duy nhất của thế giới.
Di sản để lại của chiến tranh lạnh là hàng triệu người chết trong các cuộc chiến tranh ủy nhiệm.
Chẳng hạn như tại bán đảo Triều Tiên, khu vực Trung Đông và Châu Phi,
chi phí quân sự mà Mỹ bỏ ra trong thời kỳ chạy đua vũ trang được ước tính đến 8.000 tỷ đô la.
Trong khi đó, tỉ lệ chi phí quốc phòng trên tổng GDP của Liên Xô cao hơn rất nhiều so với Mỹ.
Có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về chiến tranh lạnh.
Các nhà sử học chính thống cho rằng Liên Xô cần chịu trách nhiệm về cuộc chiến này
vì họ tham vọng mở rộng ảnh hưởng ở châu Âu.
Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng hành động của Liên Xô
là nỗ lực xây dựng hệ thống phòng vệ khu vực Đông Âu.
Trong khi Mỹ cố gắng kiến thiết một hệ thống quốc tế có lợi cho mình,
và chiến tranh lạnh chỉ là cây cớ cho sự thống trị của Mỹ dựa trên mối đe dọa Soviet.
Đặc biệt, có tư tưởng cho rằng,
chiến tranh lạnh thật ra đã đem lại một số lợi ích nhất định cho cả hai bên.
Cuộc chiến không tiến súng này cho phép cả Mỹ và Liên Xô giải quyết vấn đề nước Đức
bằng cách đóng băng các diễn biến chính trị xã hội ở châu Âu,
ở cả phía Đông và phía Tây.
Sự tồn tại của nó cũng giúp duy trì trật tựa hạt nhân
giữa các siêu cường và những vệ tinh của mình,
cũng như giữa những quốc gia hạt nhân và các quốc gia phi hạt nhân.
Cuối cùng, xét ở một khí rạnh nào đó,
chiến tranh lạnh cũng giúp củng cố một số lợi ích quốc gia.
Cuộc chạy đuôi vũ trang để giúp Mỹ gia tăng sức mạnh của ngành công nghiệp quân sự,
hợp pháp hóa tham vọng can dự ở nước ngoài,
tạo điều kiện thuận lợi để củng cố an ninh quốc gia và nâng cao vai trò của Tổng thống.
Còn ở bên kia bức màn sách,
chiến tranh lạnh giúp Liên Xô hợp pháp hóa quân sự trong xã hội dân sự
và đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng trong một thời gian dài.
Cảm ơn bạn đã xem video trên kênh Người Nổi Tiếng.
Đừng quên những nút đăng ký và xem thêm những video mới để ủng hộ nhóm nhé!