Đây là câu thành ngữ có thể giúp bạn phân biệt được người quân tử và kẻ tiểu nhân

Huyền Bí TV
611 Người theo dõi
12 Lượt xem video·15 thg 11, 2024
[Huyền Bí TV] - Câu thành ngữ “Điểu tận cung tàng” có xuất xứ từ “Sử ký – Việt thế gia”, hàm nghĩa là: khi chim đã chết thì người ta cất cung đi một nơi mà không dùng đến nữa… Trong cuộc sống, để chỉ những hiện tượng dùng người mà phụ người, thậm chí đến độ vong ân bội nghĩa lợi dụng người ta xong thì loại bỏ giống như trường hợp Việt Vương Câu Tiễn đối đãi với hai công thần tướng quốc là Văn Chủng và Phạm Lãi thì người ta thường hay nhắc đến câu thành ngữ: “Điểu tận cung tàng” hoặc: “Thố tử cẩu phanh”. Hãy cùng Huyền Bí TV theo dõi và khám phá bạn nhé!
Đây là câu thành ngữ có thể giúp bạn phân biệt được người quân tử và kẻ tiểu nhân.
Câu thành ngữ Điểu Tận Cung Tàn có xuất xứ từ Sử Ký Việt Thế Gia,
tham nghĩa là khi chim đã chết thì người ta cất cung đi một nơi mà không dùng đến nữa.
Phiên âm Hán văn nguyên câu là
Dạo Thố Tử, Tậu Cậu Vanh, Cao Điểu Tận, Lương Cung Tàn, Địch Quốc Phá, Mưu Thần Vong.
Ý tứ là thỏ cung chết, chó săn bị mổ làm thịt,
chim bay cao hét, cung tốt, vứt bỏ, nước địch phá sông, mưu thần bị giết.
Chuyện Việt Vương Câu Tiển vông ân bội nghịa, bức hại công thần.
Chuyện cũ kể rằng vào đời Xuân Thu từ năm 722 đến năm 479 trước công nguyên,
nước Việt và nước Ngô giao tranh, vua Ngô là phù sai thất bại,
thế lực cùng tận và bị bao vây uy hiếp nên có ý định xiên làng.
Phù sai, biết hai bệ tôi có uy quyền dưới trướng của Việt Vương Câu Tiển là Tướng Quốc Phạm Lãi
và đại phu Văn Chủng có thể giúp được mình việc này nên bàn viết một bức thư buộc vào mũi tên
bắn vào thành Việt, mong hai người tôi giúp vua Việt cho hàng.
Quân nước Việt lượm được đệ trình lên Phạm Lãi và Văn Chủng từ ấy nói,
tôi nghe dạo thỏ chết thì chó săn tất bị mổ, địch quốc đã giết thì mưu thần cũng chẳng còn,
sao quán đại phu không mưu, lưu được cho nước Ngô tôi còn lại một chút để làm cái dư địa sau này.
Nhưng Phạm Lãi và Văn Chủng không cho hàng, cuối cùng vù sai đành phải tự vẫn.
Việt Vương Câu Tiển chiếm được nước Ngô, bày tiệc rượu trên văn đài nước Ngô,
các quan vui say đánh chén nhưng Câu Tiển lại có vẻ không vui.
Phạm Lãi biết ý nhà vua không muốn nói đến công của kẻ hậu hà,
đã gì được Ngô mà lòng vua lại mang mối nghi kỳ nên liền xin từ quan trí sĩ.
Nhưng trước khi bỏ nước đi chui du ngủ hồ, Phạm Lãi có viết thư gửi lại cho bạn là Văn Chủng thì nói,
Vương Ngô có nói, giảo thỏ đã chết thì chó săn tức bị mổ, địch quốc đã giết thì mưu thần cũng chẳng còn.
Ngài không nhớ hay sao, vua Việt môi dài, mỏ quả, là người nhẫn nhục mà ghét kẻ có công.
Cùng ở lúc hoạn nạn thì được, chứ cùng ở lúc an hoạt thì không toàn. Nên ngài không đi ác có thai vã.
Văn Chủng xem thư xong vài ngàn về Phạm Lãi, cho rằng họ Phạm xử trí như thế là khí khái quá, quả thực y như lời của Phạm Lãi nói.
Sau khi thành đại sự, cô tiễn không chia cho các quan một thức đất nào, lại có ý kinh rẽ công thần.
Văn Chủng buồn bã, cao ốm rồi con bò triều. Cô tiễn muốn biết tài của Văn Chủng, nghĩ thầm,
Ngô đã giết, còn dùng hắn chi nữa, một khi hắn làm loạn thì sao chỉ nổi, nên muốn trừ giết Văn Chủng đi.
Một hôm cô tiễn lấy cớ đến thăm bệnh tình của Văn Chủng và bảo,
ta nghe người chí sĩ không lo cái thân mình chết mà lo cái đạo mình không được thực hành.
Nhà ngươi có bảy thuật, ta mới thi hành có ba, mà Ngô đã giết, còn thừa bốn thuật.
Nhà ngươi định dùng để làm gì? Văn Chủng đáp, tôi cũng không biết dùng để làm gì cho được.
Cô tiễn nói, nhà ngươi hãy đem bốn thuật ấy mà mưu hộ cho tiền nhân của nước Ngô ở dưới ông phủ, phỏng có nên chăng.
Đó xong cô tiễn lên xe đi về, bỏ lại thành kiếm đeo tại chỗ ngồi.
Văn Chủng cầm lấy xem thấy vỏ kiếm có đề hai chữ, chút lâu, đây cũng chính là thành kiếm mà Ngô Phương Phù sai.
Đã từng đưa cho ngũ viên tự tử, Văn Chủng ngửa mặt lên trời thang,
cổ nhân có nói, ân to thì không báo nữa, ta không nghe lời phạm lại, đến nỗi bị giết, chẳng cũng ngu lắm ru.
Văn Chủng nói xong, cầm kiếm tự tử, có nói dạo thố tử, tẩu cầu phanh,
cao điểu tận, lương cung tàn, địch quốc phá, mưu thần vong.
Sau này đã được nhiều người nhắc lại như là một bài học lịch sử và được đúc kết thành câu thành ngữ.
Điểu tận cung tàn, hàm chứa nhiều giá trị triết lý nhân sinh sâu sắc, lời bàn trong cuộc sống,
để chỉ những hiện tượng dùng người mà phủ người, thậm chí đến độ vong ân bội nghĩa, lợi dụng người ta xong,
thì bỏ, loại bỏ giống như là trường hợp Việt Vương cô tiễn đối đại với hai công thần tướng quốc.
Là văn chủ và phạm lãi thì người ta thường hay nhắc đến câu thành ngữ,
điểu tận cung tàn, hoặc là thố tử cầu phanh, ý tứ là chim hết rồi,
cung tên xếp xó, thọ chết rồi, chó bị phanh thay.
Trong kho tàn thành ngữ, tục ngữ dân dân Việt Nam cũng có những câu thành ngữ như
được chim bẻ ná, được cá quên nơm, hay vắt chạy bỏ vỏ, qua cầu rút ván,
cùng ít nhiều măng nét tương đồng.
Mới hay, biết trọng ân nghĩa, không phụ lòng người cũng là một phẩm đất cao quý,
là biểu hiện của bản tính trần thiện nhẫn trong bộ con người,
đồng thời cũng là thước đo để phân định giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử.
Qua cách hành xử và đối đại tề bạc với các công thần của Việt Vương cô tiễn,
có thể không phải bàn nhiều.
Mỗi người cũng đều có thể nhìn ra nhân vật này là kẻ tiểu nhân hay người quân tử.
Sự lựa chọn ra đi đúng lúc của phạm lãi và ở lại muộn màng của văn chủ
cũng đã lại cho nhân thế nhiều bài học sâu sắc, làm sao để không nhìn nhầm người,
không nhìn nhầm thời, biết nắm giữ và buông bỏ đúng lúc đúng chỗ,
để đưa ra những quyết định thật minh xác, đúng đắn,
đôi khi cũng chính là sự lựa chọn mang tính chất mở ra hay đóng lại cho,
đối với tương lai và sinh mệnh của mỗi con người.
