Trong các nền văn minh nằm trong những khu vực có thời tiết khô cằn như là ở Trung Đông, các cổ vật được bảo tồn tương đối tốt trước sự tàn phá của thời gian. Nhưng ở những vùng ẩm ướt hơn, chẳng hạn như là ở Trung Quốc và Nam Á, cổ vật và tàn dư văn hoá do các nền văn mình cổ đại để lại đã bị ảnh hưởng bởi khí hậu xấu.
Những thành tựu văn hoá của người Trung Quốc thời tiền sử còn lại tương đối ít. Ngoại trừ đồ gốm thời kỳ đồ đá mới và các di tích được tìm thấy tại các khu mộ có niên đại từ đầu thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên. Gần đây, một kho báu đồ sộ từ Đế chế nhà Tần đã dược khai quật gần lăng mộ của Tần Thuỷ Hoàng, ở gần Tây An - miền trung Trung Quốc và tại các lăng mộ nhà Hán gần đó. Nhưng văn học cổ của Trung Quốc còn lại rất ít, còn hội hoạ, kiến trúc và âm nhạc đều gần như là không còn.
Trong các nền văn minh nằm trong những khu vực có thời tiết khô cằn như là ở Trung Đông,
các cổ vật thường được bảo tồn tương đối tốt trước sự tàn phá của thời gian.
Nhưng ở những vùng ẩm ứt hơn, chẳng hạn như là ở Trung Quốc và Nam Á,
cổ vật và tài như văn hóa do các nền văn minh cổ đại để lại đã bị ảnh hưởng bởi khí hậu xấu.
Những thành tụ văn hóa của người Trung Quốc thời tiện sử còn lại tương đối ít.
Ngoài trừ đồ góm ở thời kỵ đồ đá mới và các di tích được tìm thấy
tại các khu mộ có niên đại từ đầu thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên,
gần đây một số kho báu đồ sộ từ đế chế nhà Tần đã được khai quật gần lăn mộ của Tần Thị Hoàng
ở gần Tây An, miền trung của Trung Quốc và tại các lăn mộ nhà Hán gần đó.
Nhưng văn học của người Trung Quốc còn lại rất ít, còn hội họa và kiến trúc âm nhạc gần như không còn.
Từ những khám phá tại các địa điểm khảo cổ, người ta đã phát hiện ra rằng Trung Quốc cổ đại
là một xã hội giàu về thành tụ văn hóa.
Tại địa điểm khảo cổ thời kỵ đồ đá mới, đồ góm long sơn và dương thiều được tìm thấy.
Những món đồ cho thấy gốc nhìn tươi mới của người Trung Quốc cổ đại.
Các đồ trang sức như là nhẫn, chuỗi hạt thể hiện rõ gu thẩm mỹ của thời đại.
Bên cạnh đó còn có đồng đúc.
Tốc độ phát triển của văn hóa Trung Quốc bắt đầu tăng từ trong triều đại của nhà thương cai trị ở miền Bắc của Trung Quốc,
kéo dài từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 11 trước công nguyên.
Vào thời điểm đó, những món đồ được đúc bằng đồng bắt đầu xuất hiện.
Nhiều loại bình được làm bằng đồng có kiểu diến khác nhau được tìm thấy.
Có thể chúng được dùng trong những nghi lễ thờ cúng Tổ tiên.
Những chiếc bình này về sau được dùng để trang trí hoặc là để ở trong các yến tiệt của cung đình.
Đồ đồng ở thời kỷ nhà thương có chất lượng thuộc hàng cược phẩm là do phương pháp đúc đồng.
Rèn đúc đồng đã trở thành một ngành kinh doanh có quy mô lớn và kiếm ra được rất nhiều ngân lượng.
Hơn 10.000 chiếc bình với nhiều kiểu diến khác nhau vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Những sượng đúc đồng khổng lồ xuất hiện ở thung lũng sông Hoàng Hà
và còn ở những tỉnh như là Tứ Xuyên thuộc miền nam của Trung Quốc.
Nghệ thuật chế téc đồ đồng tiếp tục phát triển đến thời kỷ nhà chu, nhưng chất lượng có phần giảm súc.
Đồ đồng thời kỷ nhà thương vẫn là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo ở Trung Quốc cô đại.
Một trong những lý do mà nghệ đúc đồng bị mai một đó là do đồ sắt đã trở nên phổ biến.
Nghệ rèn sắt đã trở nên phổ biến vào thế kỷ thứ 9 hoặc là thứ 8 trước Cộng nguyên,
muộn hơn nhiều so với ở Trung Đông vì họ đã làm chủ khả năng chế téc sắt sớm hơn khoảng một thiên niên kỷ.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà người Trung Quốc bị thụt lùi.
Khi họ đã thành thạo với kỹ nghệ chú tỏ sắt, họ đã nhanh chóng đi đầu trong lĩnh vực này.
Những người thợ sắt ở châu Âu và Trung Đông rèn sắt với một quy trình công kền và tôn kém.
Đó là do họ thiếu công nghệ để nâng nhiệt độ lên đủ cao để có thể nấu chảy quảng sắt một cách hoàn hảo.
Vào thế kỷ thứ 4 trước Cộng nguyên, người Trung Quốc đã phát minh ra lò cao,
được dùng trong kỹ thuật luyện kim mà chỉ cần có một người là có thể vận hành ống bể.
Do đó mà họ có thể sản xuất được các bình trang trí được dùng ở trong các nghi lễ và các nông cụ.
Phải đến vài thế kỷ sau thì các nước phương Tây mới có một hệ thống tương tự như vậy.
Một lý do khác dẫn đến những món đồ đồng ở Trung Quốc không còn được ưu chuộng như trước kia nữa.
Là do sau đó đồ gớm sứ và đồ sơn mài đã xuất hiện với giá thành rẻ hơn nhiều.
Sơn mài được làm từ nhựa thu được từ nước ép của cây thù du bản địa.
Sơn mài được sản xuất từ thời kỳ đồ đá mới đến thế kỷ thứ 2 trước Cộng nguyên.
Người ta phủ một lớp sơn mài cứng lên các món đồ được làm bằng gỗ để tạo ra đồ sơn mài.
Đồ gớm sứ cũng vậy đã tồn tại từ rất lâu.
Nhưng nhờ có những tiến bộ của công nghệ mà gớm sứ càng về sau thì chất lượng càng cao.
Người ta phủ một lớp men màu nâu hoặc là màu xanh xám lên gớm, sau này được biết đến là màu ngọc bích.
Vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Cộng nguyên, cả đồ làm bằng sơn mài và làm bằng gớm sứ đã thay thế đồ động,
giống như là đồ nhựa đã thay thế cho các vật liệu đắt tiện hơn trong thời đại của chúng ta.
Vào năm 1974, một khám phá động trời đã làm khuấy động khắp nơi.
Những người nông dân khi đào diến tại Tây An cách 35 dặm về phía đông đã khai quật được những bức tượng làm bằng đất nung
trong một cái hố ngầm cách hầm mộ của Tân Thị Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc vào khoảng một dặm về phía đông.
Các nhà kháu cổ của Trung Quốc đã được cử đến để khảo sát và nghiên cứu địa điểm này.
Họ đã phát hiện ra một quân đội khổng lồ được làm bằng đất nung.
Họ tin rằng những bức tượng này tái hiện lại quân đội cầm vệ hoàng gia của Tân Thị Hoàng,
những người sẽ tháp tùng hoàng đế trong chuyến hành trình đi sang thế giới bên kia.
Một trong những điểm đáng chú ý của quân đội đất nung đó chính là quy mô.
Đội quân được bảo quản trong 4 cái hố lớn.
Ban đầu có những khung gỗ bao quanh mỗi hố nhưng sau đó đã bị phân hủy.
Có hơn 1.000 bức tượng được khai quật trong hố thứ nhất cùng với ngựa,
chiến xa bằng gỗ và 7.000 vũ khí được làm bằng đồng.
Các nhà khảo cổ ước tính chỉ riêng trong cái hố đó đã có hơn 6.000 bức tượng.
Bên cạnh đó, chất lượng của những tác phẩm từ tượng người lính cho đến vũ khí và chiến xa đều rất tốt.
Các bức tượng lớn hơn một chút so với kích thức thật.
Chúng được làm bằng đất xét, bùn và sau đó được nung lên rồi sân phủ.
Các chi tiết trên quân phục đều được khắc chi tiết.
Nhưng điểm nổi bật nhất vẫn là trên tầng khung mặt đều có những nét riêng của các chiến sĩ.
Có ít nhất 10 dạng khung mặt khác nhau, cùng những chi tiết đa dạng như là kiểu bàn tay của người chiến sĩ,
tạo ra sự đa dạng ở trong cách thể hiện.
Những bức tượng được làm bằng đất nung mô phỏng lại tính cách khác nhau
và đa sắc tộc của từng người lính trong quân đội dưới triều đại của nhà tầng.
Lăn mộ của Hoàng đế hiện nay vẫn chưa được khai quật.
Nó được chôn sâu trong một gò đất cao gần 76 mét,
được bao phủ bởi một bức tượng thành hình chữ nhật dài gần 6,5 km.
Theo nhà sử học người Hán Tư Mã Thiên, bên trong lăn mộ phía trên là trần nhà tượng trưng cho bầu trời,
phía dưới là sàn nhà tượng trưng cho toàn bộ vương quốc của Tân Thủy Hoàng.
Có những dòng sông được làm bằng thuyện ngân.
Theo cách làm truyền thống của Hoàng gia Trung Quốc Cổ Đại,
bên trong lăn mộ sẽ có những cái bẫy để ngăn chặn người ngoài đi vào bên trong.
Để tránh thông tin về vị trí của những chiếc bẫy này được đặt và cách nó hoạt động như thế nào bị rò rỉ ra bên ngoài.
Những người thợ xây dựng lên những cái bẫy đó đã bị chôn sống ở bên trong của lăn mộ.
Người ta không biết ở Trung Quốc chữ viết khi nào được xuất hiện.
Nhưng vào thời nhà Thương, trên những mảnh xương dùng để bối toán, những chữ viết được khắc lên đó.
Tuy còn đơn giản, nhưng người Trung Quốc đã phát triển ra một hệ thống chữ viết có đầy đủ những chức năng.
Giống như là ngôn ngữ cổ đại khác,
chữ viết cổ đại của Trung Quốc chủ yếu là những chữ bằng hình ảnh và chữ tường hình.
Chữ viết thời đó còn được gọi là các ký tự.
Chúng được tạo ra để thể hiện một ý tưởng hoặc là để ám chỉ đến một đối tượng nào đó bằng hình vẽ.
Ví dụ như những ký tự ngọn núi, mặt trời, mặt trăng là biểu tượng cho đối tượng, không có yếu tố tường hình.
Còn chữ to lớn có hình dáng như là một người đàn ông đang gian rộng hai tay, đại diện cho một ý tưởng.
Chữ phía đông lại kết hợp giữa chữ mặt trời và những cái cây,
nghĩa là mặt trời mọc đằng sau rạng cây, ám chỉ mặt trời mọc ở phía đông.
Về sau, mỗi ký tự được con người phát âm ra thay vì chỉ vẽ và khắc ở trên đá.
Cho nên trong nhiều nền văn hóa, quá trình biến đổi từ chữ viết thành giọng nói đã dẫn đến việc bỏ đi hệ thống chữ tường hình.
Người ta dần thống nhất với nhau một ngôn ngữ viết dựa trên ký hiệu ngữ âm.
Mặc dù là ngữ âm có những ảnh hưởng đến sự phát triển của ký tự,
tuy nhiên, đối với Trung Quốc, tiếng Trung, việc họ bỏ hoàn toàn kiểu chữ ban đầu là chưa bao giờ xảy ra.
Tính tới thời điểm hiện tại, ngôn ngữ viết của Trung Quốc gần như là độc đáo và độc nhất ở trên thế giới.
Một trong những lý do mà tiếng Trung vẫn còn duy trì và giữ được việc sử dụng chữ tường hình chính là
hầu hết các ngôn ngữ và phương ngữ dùng ở Trung Quốc đều đến từ nguồn gốc của nhà Hán, tức là Hán ngữ.
Nhưng cách phát âm, từ vận và cú pháp đều rất khác nhau.
Để giải quyết vấn đề này, không biết từ khi nào mà người Trung Quốc đã huy ước với nhau rằng
bất kỳ ký tự nào có thể có nhiều cách phát âm tùy vào địa phương,
nhưng khi viết thì phải viết cùng một kiểu, cho dù là ở bất kỳ nơi nào để chăng lưỡng ước.
Do đó mà chữ tường hình vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay.
Dưới thời đại của nhà Tần, việc tiêu chuẩn hóa chữ viết đã được áp dụng rộng rãi,
từ đầu bên này cho đến đầu bên kia của Trung Quốc.
Hệ ai có học đều sử dụng hệ thống chữ viết giống nhau.
Nó đã trở thành ngôn ngữ được quang lại ở trong triều đình sử dụng,
ngôn ngữ dùng trong các bản thông báo, cáo thị,
ngôn ngữ dùng trong văn hóa của Trung Quốc từ Vạn Lý Trường Thành đến biên giới phía Nam,
thậm chí còn xa hơn nữa.
Văn học của Trung Quốc được biết đến khi xuất hiện dưới thời kỳ nhà Chu.
Các tác phẩm được viết trên lụa hoặc là giải tre,
nội dung là thuộc lại các ghi chép về lịch sử như là Nghi lễ của nhà Chu,
các chuyên luận triết học như là luông ngữ, đạo gia,
thơ ca được ghi trong sách ca và những bài hát của phương Nam.
Trong những năm kế tiếp,
các nguyên tắc về nhò giáo đã được nâng lên thành một hệ tư tưởng, được triều đình sử dụng.
Các tác phẩm về trường phái nhò giáo dần xuất hiện và được xem như là kinh điển của nhò giáo.
Trong nhiều thế hệ,
tác phẩm về nhò giáo trở thành các quyển sách mà các sĩ tử Trung Hoa bắt buộc phải học,
để giáo dục hành vi mà một người trưởng thành nên làm như thế nào.
Đây cũng là tập kết thúc của series về Trung Quốc thời kỳ cổ đại cho đến năm 221,
sau khi nhà Hán chấm dứt.
Sau đó là một thời kỳ bạo loạn ở Trung Quốc,
thiên ngạ vô chủ và các quốc gia chia rẽ.
Nội dung của thời kỳ này sẽ được kể lại qua tác phẩm Tâm Quốc Diện Nghĩa,
đang được phát trên kênh Đạo Cảm Xúc.
Ở tập sau, chúng ta sẽ đến với thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc,
từ năm 500 đến những năm 1500,
triều đại của nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên và nhà Minh.
Đừng quên nhấn đăng ký để không bỏ lỡ số ra tiếp theo.
Còn bây giờ thì mình xin cảm ơn và hẹn gặp lại vào video kế tiếp.