#VietnamDiscovery#VănHóaViệtNam #Ramưwan#LễhộiRamưwan#NgườiChăm#Ninh Thuận Vietnam Discovery là kênh khám phá văn hóa du lịch truyền thống của đất nước Việt Nam. Kênh sẽ giới thiệu đến bạn bè thế giới về nét độc đáo của 54 dân tộc Việt Nam. Tại đây, những câu chuyện chưa từng được kể, hoặc được kể chưa đầy đủ trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ được tái hiện một cách hoàn chỉnh.
Với chủ đề đa dạng và phong phú, được chia thành các lĩnh vực như vùng đất, sự kiện, con người, văn hóa,… Vietnam Discovery sẽ đem đến cho quí vị những thước phim thực tế nhất, ghi lại những hình ảnh, những cảm xúc chân thực nhất của từng người, từng nhân vật được đề cập trong mỗi chương trình. Mời các bạn đón xem!
Director: Nguyễn Trường Sơn --------------------------------------- Subcribe: https://bit.ly/3pvFcUw
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Chăm, hay còn có tên gọi khác là người Chảm,
là tộc người có số dân khá đông, khoảng trên 145.000 người,
sống rải rác tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Tập trung chủ yếu tại Ninh Thuận và Bình Thuận,
theo hai nhóm tín ngưỡng chính là Chăm Bà Là Môn và Chăm Bà Ni.
Người Chăm có đời sống văn hóa tín ngưỡng rất độc đáo,
thể hiện thông qua trang phục, tập quán sinh sống,
và đặc biệt là hệ thống các lễ hội đặc sắc.
Trong khuôn khổ chương trình này, chúng tôi xin giới thiệu một lễ hội truyền thống hết sức ấn tượng
và có ý nghĩa to lớn trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận,
lễ hội Ramuwan.
Có thể nói, Hồi giáo du nhập vào nước ta muộn hơn so với Phật giáo,
nhưng đã có ảnh hưởng khá mạnh đối với cộng đồng dân tộc Chăm.
Tuy nhiên, trong quá trình giao thoá ấy,
Hồi giáo cũng chịu tác động ngược trở lại từ văn hóa Chăm
và trở thành một tôn giáo mang dấu ấn riêng của người Chăm Bà Ni.
Người Chăm gọi Đạo Hồi là Bà Ni,
vì thế chúng ta có thể hiểu Chăm Bà Ni là cộng đồng người Chăm theo Đạo Hồi.
Người Chăm Bà Ni có đời sống văn hóa tín ngưỡng rất phong phú và thú vị,
thể hiện qua tập quán sinh sống, trang phục, các hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội.
Một trong số đó là lễ hội Ramuwan,
một biểu hiện sinh động và rõ nét về sự hiện hữu của Đạo Hồi
trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Chăm Bà Ni.
Ramuwan là cách phát âm từ Ramadan trong tiếng Chăm,
có nghĩa là tháng ăn chay của các tu sĩ Hồi giáo,
và là dịp để các tín đồ người Chăm cúng tế ra tiên tưởng nhớ người thân đã mất.
Hàng năm, cứ vào cuối tháng 8 đầu tháng 9, theo lịch Hồi giáo,
người dân trong 8 làng Chăm Bà Ni lại náo nước chuẩn bị cho mùa lễ hội Ramuwan.
Các chức sắc chuẩn bị, kinh kệ, trang phục và các công cụ làm lễ.
Phụ nữ mua sắm nguyên liệu chuẩn bị để làm bánh trái, lễ vật và may sắm trang phục mới cho trẻ em.
Trước khi lễ hội Ramuwan diễn ra,
người Chăm phải tổ chức lễ cúng tổ tiên tại các gia đình,
sau đó mới bắt đầu tháng chay tịnh Ramuwan trong các thánh đường.
Đây là thời gian quan trọng nhất của người Bà Ni.
Các tu sĩ phải tu ở thánh đường, không được về nhà và phải nhiện ăn 3 ngày đầu của tháng Ramuwan,
sau đó chỉ được ăn những lễ vật dân cúng.
Khi ăn cơm, chỉ được dùng tay và chỉ ăn nửa bên phải.
Tu sĩ phải tắm rửa sạch sẽ, ít nhất mỗi ngày một lần.
Còn những người theo Bà Ni không phải nhiện ăn vào ban ngày như luật Hồi giáo quy định.
Lễ hội Ramuwan sẽ diễn ra với hàng loạt các nghi lễ truyền thống và bắt đầu bằng lễ tảo mộ,
thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và sự trí ân trước tổ tiên của đồng bào Chăm Bà Ni.
Người Chăm Hồi giáo có tập quán khi chết trôn đầu về hướng Bắc,
chân ở hướng Nam, mặt ngoảnh hướng Tây là hướng của thánh địa Hồi giáo.
Vào ngày đầu của lễ hội, bà con mặc trang phục truyền thống, mang theo lễ vật và cùng nhau đi tảo mộ.
Khi nghĩa địa của từng dòng họ đã được rễ cỏ, vun đất, những vị tu sĩ của dòng họ bắt đầu làm lễ.
Dòng họ nào không có tu sĩ thì công việc này do ông trưởng tộc đạp nhậm.
Người tu sĩ thực hành nghi thức tẩy ô ế, vừa đọc kinh, vừa tưới lên các ngôi mộ mới được đắp lại.
Với mục đích tẩy rửa mọi ô ế trong năm qua, để người quá cố được mát mẻ và hưởng an lành trong năm mới.
Lúc này, tất cả các thành viên trong dòng họ đều thành kính công lễ cầu khấn,
thể hiện sự quan tâm chăm sóc của con cháu trong dòng họ đối với tổ tiên nguồn cội,
đồng thời mời tổ tiên và những người thân đã khuất về dự lễ hội.
Khi bài kinh Coran vừa dứt, những A-cha đặt miếng trầu dưới các bia đá để vong linh người thân ăn dọc đường
khi trở về Trần Gian dự lễ hội cùng con cháu.
Sau khi hoàn tất lễ tảo mộ, mọi người nhanh chóng về nhà chuẩn bị lễ cúng ra tiền.
Lễ cúng ra tiền có ý nghĩa rất quan trọng, vì vậy bà con chuẩn bị rất kỹ lưỡng với nhiều lễ vật truyền thống
như chuối, bánh tét, bánh cổ gừng, các loại hoa quả và rượu.
Lễ cúng ra tiền được tiến hành theo hai giai đoạn.
Thứ nhất là lễ cúng tạm do một người đàn ông lớn tuổi trong dòng họ thay mặt dòng họ dân lễ trình lên tiên tổ bằng ngôn ngữ trăm.
Ngay sau đó, thầy A-cha sẽ làm chủ lễ chính thức.
Thầy A-cha có thể là người đàn ông lớn tuổi trong dòng họ
hoặc do một ông thầy giỏi kinh Co-ran và thông thạo cung lễ đạt nhận.
Lễ cúng chính thức cho mỗi lượt vong linh gồm hai loại lễ vật mặn và ngọt
biểu trưng hai yếu tố âm và dương trong thuật ẩm thực của người Trăm.
Sau mỗi lượt cúng cho một vong linh,
người chủ lễ đốt miếng chầm thơm và tụng một hồi kinh rồi đến lượt vong linh khác
Thứ tự chi tiết cụ thể sao cho không được xót tên bất kể ai.
Tất cả những thân nhân của gia đình đã khuất đều được mời về dự lễ hội.
Sau hai ngày làm lễ cúng ra tiên, lễ Ramayuan chính thức diễn ra.
Các thu sĩ cấm mình trong thánh đường đọc kinh Co-ran và cầu nguyện.
Trong thời gian này, các thu sĩ sẽ thực hiện năm lần thánh lễ trong một ngày đêm
và chỉ được ăn hai lần trong ngày do gia đình của họ đội lên trên những mâm chân cao
và những thời gian khi không còn ánh nắng mặt trời.
Người Trăm Bà Ni coi tháng Ramayuan là tháng ép xác
vì họ luôn tin rằng có đói ăn khát uống mới dễ cảm thông với những cảnh thiếu thốn khổ cực của người nghèo khổ
mới cảm nhận được sự thiệt hòi của những người có số phận kém may mắn.
Đây cũng là dịp tạo cho họ có thêm nguyện lực để chế ngự những ham muốn vật chất cũng như dục vọng tầm thường.
Để tham dự lễ kinh, người ta phải thực hiện nghi thức tẩy thẻ
nhằm sạch hóa thẻ xác và tâm hồn trước khi chính thức tham dự lễ tại thánh đường.
Họ cầm trên tay mỗi người một cái chén đồng hoặc ấm nước, áo khoác vai
thực hiện các thao tác thánh tẩy, sau đó chỉnh trang lễ phục
và đi vào thánh đường thực hiện những thao tác nhận diện nơi cùng thánh.
Tiếp theo đó là nghi lễ đánh trống và gọi lễ tại chính giữa thánh đường.
Những bài kinh được sướng lên ngân vang lan tỏa khắp thánh đường
tạo không khí vừa nghiêm trang vừa linh thiêng khó tả.
Trong chính vị tham dự thánh lễ có một người làm chủ lễ
có nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện các nghi thức và sướng kinh
để cho các vị khác cùng hòa theo.
Khi lễ cầu nguyện sắp kết thúc, người nhà các tu sĩ
và gia đình các tín đồ đội mâm lễ đến trước thánh đường
chuẩn bị lễ ăn cơm béo của các tu sĩ.
Trong lúc ăn mọi người đều phải cẩn thận tránh đánh đổ
nhất là khi ăn cơm phải dùng tay lấy ra từ từ không làm sụp xuống
nếu không sẽ bị coi là mắc tội với Thượng Đế.
Trong thời gian diễn ra lễ hội Ramayuan,
các tu sĩ phải tuân thủ theo những quy định nghiêm ngặt của giáo hội.
Dù tu sĩ có việc riêng muốn về nhà thì cũng phải được ông chủ lễ cho phép
và chỉ được tạt qua nhà, đứng ngoài sân và trao đổi với gia đình trong dây lát
rồi lại phải lập tức trở lại thánh đường ngay.
Trong tháng Ramayuan, ngoài việc đi tu ở thánh đường là bổn phận của các vị tu sĩ,
còn vợ con cùng gia đình được miễn cổng nguyện tại nhà và được ăn uống tự do.
Sự thay đổi này đã được các vị chức sắc xin phép Thượng Đế
điều chỉnh cho phù hợp với phong tục của đồng bào.
Ngoài ra, trong thời gian diễn ra lễ hội,
nhiều nghi lễ có ý nghĩa đối với cộng đồng sẽ được tiến hành
như Bà Giáng Trần, lễ ban thánh ân cho những cháu bé hay ốm đau,
bệnh tật được tổ chức vào đêm thứ 15 sau thánh lễ.
Bà con tiến đồ dân cúng lễ ngọt gồm chè, xôi, chuối.
Sau nghi lễ này, bà con bắt đầu được phép sắc xin, cúng tế tại nhà.
Vào ngày thứ 27, lễ dân cúng gạo cho thân nhân quá cố được tổ chức.
Số gạo này được phân cho gia đình các tu sĩ, nấu cơm, mời thân nhân, quyến thuộc.
Các vị trưởng lão trong làng đến ăn vào dạng sáng, ngày mùng 1 tháng 10.
Nghi lễ cuối cùng của lễ hội Rama I được tổ chức vào sáng mùng 1 tháng 10
theo hồi lịch nhằm cảm tạ thần Po A Lot cùng các vị trư thần
đã giúp người Hồi giáo Bà Ni hoàn thành tháng chai tịnh Rama I.
Màng lại niềm tin và sức mạnh cho đồng bào vào một năm mới ấm no hạnh phúc
và cùng chờ đợi đến mùa lễ hội Rama I năm sau.
Có thể khẳng định rằng, trong đời sống tâm linh của đồng bào Trăm Bà Ni,
lễ hội Rama I có một vị trí hết sức quan trọng.
Nó mở ra một không gian văn hóa tâm linh rộng mở
để mọi người giao tiếp với lực lượng siêu nhiên, với tổ tiên, ông bà và những người thân đã khuất.
Lễ hội thể hiện tính nhân văn sâu sắc và đạo lý uống nước nhớ nguồn, tránh xác sinh gây nghiệp
để cả cộng đồng cùng nhau hướng tới một cuộc sống an lành, ấm no và hạnh phúc
góp phần to lớn vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống cao đẹp
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.