Nhiên liệu hóa thạch là nguồn cung cấp năng lượng cho chiếc động cơ kinh tế khổng lồ của nền văn minh nhân loại.
Với một sự gián đoạn nhỏ trong việc cung cấp dầu mỏ và than đá hiện nay, mùa màng sẽ khô héo và chuỗi cung ứng sụp đổ.
Với một sự gián đoạn lớn hơn, một thảm họa nhân đạo có thể nhấn chìm thế giới.
Không có năng lượng, nền văn minh sẽ chết; và vào năm 2020, nhiên liệu hóa thạch vẫn đang tiếp tục cung cấp hơn 80% năng lượng tiêu thụ trên toàn thế giới.
Quý vị có từng lo lắng một ngày nào đó, trái đất của chúng ta sẽ hết dầu mỏ và than đá hay không?
Nhân liệu hóa thạch là nguồn cung cấp năng lượng cho chiếc động cơ kinh tế khổng lồ của nền văn minh nhân loại.
Với một sự gián đoạn nhỏ trong việc cung cấp dầu mỏ và than đá hiện nay,
mùa màng sẽ khô héo và chuỗi cung ứng sụp đổ.
Với một sự gián đoạn lớn hơn, một thảm họa nhân đạo có thể nhấn chìm thế giới.
Không có năng lượng, nền văn minh sẽ chết.
Và vào năm 2020,
nhân liệu hóa thạch vẫn đang tiếp tục cung cấp hơn 80% năng lượng tiêu thụ trên toàn thế giới.
Quý vị có từng lo lắng một ngày nào đó,
trái đất của chúng ta sẽ hết dầu mỏ và than đá hay không?
Theo ấn bản năm 2021 của tạp chí đánh giá thống kê về năng lượng toàn cầu của BP,
nếu mỗi người sống trên trái đất tiêu thụ năng lượng bằng một nửa mức tiêu thụ trung bình của người Mỹ hiện tại,
thì sản xuất năng lượng toàn cầu sẽ cần tăng thêm gần gấp đôi.
Thay vì sản xuất 547 exajoules mỗi năm như hiện tại,
các nhà cung cấp năng lượng trên toàn thế giới sẽ cần sản xuất hơn 1.000 EJ.
Mỗi EJ là 10 mũ 18, nghĩa là 1 tỷ tỷ joules.
Để quý vị dễ hình dung, chân động đất và sóng thần Tohoku năm 2011 ở Nhật Bản
có năng lượng 1.41 EJ và mức tiêu thụ năng lượng hàng năm của nước Mỹ vào khoảng 94 EJ.
Trong khi đó, các loại năng lượng tái tạo hiện đang cung cấp 32 EJ mỗi năm,
tương đương với 6% năng lượng toàn cầu.
Như vậy, nó sẽ cần phải tăng gấp 30 lần để đáp ứng nhu cầu mới.
Liệu điều này có thể hay chăng?
Câu trả lời ngắn gọn là nó không thể.
Bất chấp những kêu gọi mạnh mẽ đòi xóa bỏ nhân liệu hóa thạch của các phong trào cấp tiến,
thực tế là hầu hết các quốc gia trên thế giới sẽ tiếp tục phát triển mọi nguồn năng lượng mà họ có khả năng,
bao gồm cả năng lượng hóa thạch và hạt nhân.
Và họ vẫn đang làm điều đó nhanh nhất có thể, nhất là Trung Quốc.
Các loại năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy chiều, sóng và điện nhiệt, v.v.
có thể đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong việc mở rộng đó.
Nhưng những loại năng lượng này sẽ còn cần nhiều thập kỷ nữa
mới có thể cung cấp hơn một phần nhỏ tổng sản lượng năng lượng toàn cầu.
Chúng ta đang còn lại bao nhiêu?
Lập luận chống lại nhân liệu hóa thạch dựa trên hai cơ sở sau.
Thứ nhất là lượng khí thải carbon dioxide, CO2, do rút dầu mỏ hay than đá
đang gây ra tình trạng khẩn cấp về khí hậu,
gọi là hiện tượng nóng lên toàn cầu bởi hiệu ứng nhà kính.
Lập luận này gây ra khá nhiều tranh cái.
Bên cạnh những người ủng hộ giả thuyết,
một số người cho rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu này
chỉ đơn giản là hư cấu, không hề tồn tại.
Trong khi đó, một số người khác không phản đối sự tồn tại của biến đổi khí hậu.
Nhưng họ thấy rằng nó không hề đáng lo ngại
để thực hiện nhiều chính sách năng lượng cực đoan như hiện tại.
Nhưng chúng ta sẽ không đi sâu vào những tranh cái rắc rối này.
Lập luận thứ hai để chống lại nhân liệu hóa thạch
đó là sự khẳng định rằng chúng ta thực sự đang đạt đến một thứ gọi là đỉnh dầu
và nói chung là không còn đủ để mà sử dụng lâu hơn được nữa.
Dầu mỏ khi đốt tự nhiên và than đá
đều là những nguồn tài nguyên không thể tái sinh với chữ lượng hữu hạn.
Lập luận này thích hợp để chúng ta xem xét lâu hơn.
Trước tiên, chúng ta đến với một biểu đồ
thể hiện mức sản xuất và giữ chữ nhân liệu hóa thạch toàn cầu năm 2020.
Trong biểu đồ, thanh màu xanh chỉ lượng nhân liệu hóa thạch còn lại trên thế giới
ở dạng chữ lượng đã được chứng minh.
Còn thanh màu đỏ, chỉ lượng nhân liệu đã được sử dụng hết vào năm 2020.
Như quý vị có thể thấy, nó rất là ngắn.
Vào năm 2020, đã có khoảng 174 exajoules dầu được tiêu thụ trên toàn thế giới.
Với 10.596 exajoules dầu còn lại
và với tốc độ tiêu thụ như hiện tại, đó là nguồn cung cấp trong 60 năm nữa.
Tương tự như vậy, chúng ta cũng có nguồn cung cấp than dự trữ trên toàn thế giới
trong 208 năm và nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên trong 50 năm.
Tuy thế, chữ lượng đã được chứng minh này không nói lên toàn bộ câu chuyện
bởi vì thực tế là còn có sự tồn tại của chữ lượng chưa được chứng minh.
Nếu những chữ lượng chưa được chứng minh này một ngày nào đó được chứng minh
thì năng lượng sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch có sẵn để khai thác
rất có thể sẽ tăng gấp đôi hoặc là còn hơn thế nữa.
Để hiểu điều này, trước tiên quý vị lưu ý rằng
các dự đoán về cái gọi là đỉnh dầu đã luôn sai trong quá khứ.
Chúng ta sẽ đưa ra một ví dụ nổi tiếng nhất.
Vào năm 1956, nhạc kinh tế học người Mỹ ông Marilyn King Hubert
đã đưa ra khái niệm đỉnh dầu này trong khi trình bày một bài nghiên cứu
cho Viện Dầu Mỏ Hoa Kỳ. Khi đó ông Hubert ghi nhận rằng
tốc độ tiêu thụ các loại nhiên liệu này lớn hơn tốc độ giữ chữ mới được phát hiện.
Hubert dự đoán sản lượng dầu của Mỹ sẽ đạt đỉnh vào những năm 1970
và thực sự đã đạt đỉnh vào năm 1971 với hơn 10 triệu thùng mỗi ngày.
Đến năm 2008, tổng sản lượng dầu của Hoa Kỳ
đã giảm xuống còn 4 triệu thùng một ngày. Nhưng nhờ sự ra đời
của kỹ thuật thủy lực cắt phá, fracking và việc bãi bỏ nhiều quy định
dưới thời Tổng thống Donald Trump, sản lượng khai thác dầu của nước Mỹ
đã tăng lên mức đỉnh mới với hơn 12 triệu thùng một ngày vào năm 2019.
Như vậy có thể thấy, các công nghệ mới và thăm dò mới
khẳng định sẽ dẫn đến việc mở rộng đáng kể chữ lượng nhiên liệu hóa thạch đã được chứng minh.
Trong một báo cáo năm 2022 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ
cho thấy một dấu hiệu khác về chữ lượng chưa được chứng minh đang chờ được khai thác.
Báo cáo ước tính tổng chữ lượng khí đốt tự nhiên đã được chứng minh của Hoa Kỳ
là 473.000 tỷ fit khối. Nhưng ước tính
chữ lượng khí đốt tự nhiên bổ sung chưa được chứng minh có thể đạt tổng cộng
2.867.000 tỷ fit khối, nghĩa là gấp hơn 6 lần.
Cuối cùng, chúng ta hãy xem bản đồ của vùng Châu Phi hạ Sahara.
Châu Phi là một lục địa khổng lồ với chiều ngang
rộng nhất lên đến hơn 4.600 dặm, đồng thời sở hữu
một chữ lượng rất lớn về dầu mỏ và khí đốt. Bản đồ này cho thấy
các khu vực đầy hứa hẹn cho việc thăm dò dầu khí trên đất liền và ngoài khơi
trong khoảng diện tích lên đến hàng trăm nghìn dặm vuông. Mặc dù có tiềm năng
to lớn, thế nhưng theo báo cáo về giữ chữ khí đốt tự nhiên xếp theo
từng quốc gia, đất nước vùng hạ Sahara đầu tiên trong danh sách là Angola
chỉ đứng thứ 40 trên thế giới, với chữ lượng khí đốt đã được chứng minh
bằng 0,14% tổng chữ lượng toàn cầu. Đó có lẽ
là một phần nhỏ so với những gì châu Phi có được. Tuy vậy lục địa đen
không phải là nơi duy nhất mà chữ lượng nhiên liệu hóa thạch hầu như không được
khai thác. Kỳ vọng bồi tích sẽ được tìm thấy khi cần thiết ở hầu hết
mọi nơi, từ các vùng cực trái đất cho đến vô số các địa điểm ngoài khơi
thêm lục địa và những nơi khác. Theo các nhà quan sát, cuộc khủng hoảng
năng lượng đang diễn ra hiện nay được cho là sẽ gây hại cho các quốc gia
ở châu Phi và các khu vực đang phát triển khác, nhiều hơn là cho
các quốc gia phương Tây. Điều đó nói lên rất nhiều điều khi chúng ta xem
xét vấn đề thời tiết lạnh giá tác động đến người dân ở những nơi như là Berlin
hay Copenhagen nếu khí đốt của Nga bị cắt vào mùa đông này.
Nhưng ở các quốc gia châu Phi, nguồn năng lượng giá cả phải trăng nhất
đơn giản chính là sinh khối, hay dễ hiểu hơn là củi đun, cỏ khô
và vỏ chấu như chúng ta vẫn biết. Nói một cách nhẹ nhàng thì cho đến
thời điểm hiện tại, hàng trăm triệu người châu Phi vẫn đang phải liều lĩnh phá rừng
để lấy nhiên liệu, lào gỗ củi để nấu nướng thức ăn. Họ vốn
có thể phát triển năng lượng giá cả phải trăng nếu không bị cản trở bởi các ý tưởng
cấp tiến toàn cầu nhân danh hạn chế nhiên liệu hóa thạch nhằm mục đích ngăn chặn
thảm họa khí hậu. Đó là cái bẫy về năng lượng đối với vùng đất mênh mông
vẫn đang đói nghèo nhất thế giới. Năm 1950, có 227 triệu người sống
ở châu Phi. Ngày nay có 1,4 tỷ người ở châu Phi.
Và đến năm 2050, dân số lục địa đen dự kiến
sẽ lên đến 2,5 tỷ người. Trên nền dân số ổn định trong nhiều
thập kỷ, sự bùng nổ dân số của châu Phi đã được tạo điều kiện thuận lợi
bởi những hỗ trợ quốc tế, giúp giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh,
cung cấp viện trợ lương thực và chăm sóc sức khỏe nói chung là tốt hơn trước.
Nhưng thực tế thì vấn đề nhân đạo lại có nhiều mặt. Chính thế giới bên ngoài
giàu có đã viện trợ cho các quốc gia châu Phi, giờ đây lại đang từ chối
họ được tìm kiếm sự thịnh vượng và khả năng tự cung tự cấp đi kèm
với năng lượng giá cả phải chăng của chính mình. Tất cả đều nhằm mục đích ngăn chặn
sự nóng lên toàn cầu ở lục địa vốn đã qua nóng. Điều vô lý này
đã bỏ qua tác động thảm khốc của việc dân số đang phát triển bị từ chối
tiếp cận với phân bón, công nghiệp hóa nông nghiệp và lưới điện đáng tìm cậy.
Bởi vì đó đều được quy là các sản phẩm phụ của nhiên liệu hóa thạch.
Có nghĩa là dân số châu Phi sẽ tiếp tục bùng nổ cùng lúc với hàng triệu
dân và nhiên liệu sẽ tiếp tục phá hủy các cánh rừng và săn bắt động vật hoang dã
để sinh tồn. Tuy vậy, dường như không có ngoại lệ. Một khi
một quốc gia bắt đầu trải qua sự thịnh vượng, dân số sẽ ổn định
và bắt đầu giảm. Vẫn còn rất nhiều nhiên liệu hóa thạch.
Theo nguồn có thẩm quyền nhất về năng lượng trên thế giới, tổng chữ lượng
đã được chứng minh của nhiên liệu hóa thạch trên trái đất hiện là 49.023 EJ.
Điều này có nghĩa là chỉ với chữ lượng đã được chứng minh
và nếu chỉ sử dụng nhiên liệu hóa thạch và nếu mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu
tăng gấp đôi lên mức 1.000 EJ mỗi năm thì vẫn sẽ có
nguồn cung cấp năng lượng trong 50 năm. Khó mà đoán được chắc chắn còn
bao nhiêu nhiên liệu hóa thạch có thể được khai thác từ các nguồn dự trữ chưa được chứng minh.
Nhưng theo các chuyên gia, có thể đặt cược một cách an toàn rằng
con số đó sẽ là khoảng hơn gấp đôi. Có nghĩa là chúng ta còn có đủ dâu mỏ
và than đá để sử dụng ít nhất là một thế kỷ nữa, ngay cả khi chúng ta không
dùng gì loại năng lượng nào khác để cung cấp cho chất động cơ của nền văn minh.
Lợi ích của nguồn năng lượng dồi dào giá rẻ là rất rõ ràng,
đó chính là sự thịnh vượng và ổn định. Trong những thập kỷ tới,
các dạng năng lượng khác sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển hơn nữa.
Nếu năng lượng tái tạo tăng gấp đôi, trong khi năng lượng hạt nhân và thủy điện cũng đều tăng tương tự
thì cả ba sẽ cung cấp 636 EJ điện năng mỗi năm.
Theo kịch bản đó, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch có thể
vẫn ở gần mức hiện tại và tổng sản lượng năng lượng toàn cầu vẫn sẽ tăng gấp đôi
lên con số 1.000 EJ. Tuy nhiên, điều không thể xảy ra
là chỉ kỳ vọng riêng vào các loại năng lượng tái tạo để đạt được mức tăng trưởng này.
Hơn một nửa năng lượng tái tạo hiện nay đến từ nhiên liệu sinh học và sinh khối
mà chớ treo thay lại đang tàn phá khắp các vùng nhiệt đới
khi hàng trăm nghìn dạng phương rừng nhiệt đới bị đốt để nhường chỗ cho các đồn điền
trong cây Ethanol và dầu khỏ. Và người ta đang phải tranh cãi vì nghịch lý
nhưng lương thực đang được dùng để nuôi ô tô thay vì nuôi hàng triệu người
còn đang thiếu đói. Cùng với đó là những khoáng chất cần thiết phải khai thác
để phục vụ cho các tháp tua pin gió, tấm quang điện và các trang trại pin khổng lồ.
Vậy còn lời giải nào tốt hơn cho bài toán
về năng lượng trong tương lai hay không? Theo nhà nghiên cứu Edward Ring,
nhà sáng lập và cựu chủ tịch của Trung tâm Chính sách California,
thì nếu khí Carbonic CO2 trong khí quyển được cho là chất gây ô nhiễm
khủng khiếp theo những khẳng định của nhiều người, thì chẳng phải là tốt hơn hết
là loại bỏ bớt nó khỏi khí quyển và chuyển thành nhiên liệu lỏng
để chúng ta có thể lái xe tải đi vòng quanh hay sao?
Nhân loại vẫn đang trên đá nghiên cứu và cải tiến để có thể thực sự
thương mại hóa được ý tưởng này. Nhưng cho đến thời điểm đó,
nhiên liệu hóa thạch sẽ vẫn ở bên chúng ta.