"Dãy Himalaya – dãy núi cao nhất thế giới – trải dài hơn 2.400 km, quanh năm phủ đầy tuyết trắng và bao trùm trong giá lạnh khắc nghiệt. Nổi bật nhất trong dãy núi hùng vĩ này là ngọn Chomolungma, hay còn gọi là Everest – “Đỉnh Thánh Mẫu” – với chiều cao 8.848 mét, được xem là nóc nhà của thế giới. Đối với những người đam mê leo núi, chinh phục Everest là mục tiêu tối thượng, biểu tượng cho khát vọng vượt qua giới hạn bản thân.
Thử hình dung, giữa môi trường khắc nghiệt nơi núi cao 4.000, 5.000, thậm chí 6.000 mét phủ đầy băng tuyết, lại có những bậc đại sư đang sinh sống. Họ huyền bí hơn nhiều: sống ẩn dật trong hang động, có người quanh năm không mặc quần áo, và thậm chí sở hữu những năng lực siêu phàm khó ai tin nổi. Bạn có tin được điều đó không?
Trong số những bậc kỳ nhân ấy, Swami Rama (斯瓦米·拉玛) là một ví dụ đặc biệt. Ông đã tu hành hơn 40 năm tại vùng Tây Himalaya, theo học nhiều vị du-già ẩn cư nơi đây. Sau đó, ông viết cuốn sách Living with the Himalayan Masters, ghi lại những trải nghiệm quý báu cùng những bài học được các bậc Thánh giả truyền trao.
----------------- Kênh Ngẫm Radio được lập ra với mong muốn chia sẻ với quý khán giả những kiến thức mới mẻ từ nhiều góc độ về những chủ đề như: dự ngôn, bí ẩn, lịch sử, tâm linh huyền bí cùng những câu chuyện nhân sinh cảm ngộ, khám phá thế giới. Hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa, đồng thời được truyền cảm hứng để luôn sống tích cực và thiện lương.
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Để không bỏ lỡ những nội dung thú vị khác, hãy kết nối với chúng tôi qua: ✿ YouTube: www.youtube.com/c/NgẫmRadio ✿ Liên hệ và góp ý qua hòm thư: [email protected]
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Ngẫm Radio! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người! #NgamRadio#bian#tientri"
Người tu hành dãi Himalaya hé lộ khai thị cuối cùng vượt thoát sinh tử.
Dãi Himalaya, dãi núi cao nhất thế giới, trài dài hơn 2.400 km,
quảnh nằm phụ đầy tuyết trắng và bao trùm trong giát lạnh khắc nghiệt.
Tên gọi Himalaya xuất phát từ tiếng Phạn, trong đó Hima nghĩa là tuyết,
Laya nghĩa là ngôi nhà, nên Himalaya được hiểu là ngôi nhà của tuyết trắng.
Tuyệt vật nhất trong dãi núi hùng vĩ này là ngọn Chomolungma hay còn gọi là Everest,
đỉnh thành mẫu. Với chiều cao 8.848 m, được xem là nóc nhà của thế giới,
đối với những người đam mê leo núi, chinh phục Everest là mục tiêu tối thượng,
biểu tượng cho khát vọng vượt qua giới hạn bản thân.
Tuy nhiên, không ít người đã phải đánh đồi mạng sống trên hành trình ấy,
biến nơi đây thành thử thách khắc nghiệt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần của con người.
Thử hình dung, giữa môi trường khắc nghiệt nơi núi cao 4.000, 5.000,
thậm chí 6.000m phụ đầy băng tuyết, lại có những bậc đại sư đang sinh sống.
Họ không phải là đại sư toán học hay đại sư vật lý như chúng ta thường nghĩ,
cũng chẳng giống những pháp sư trong tôn giáo thông thường.
Họ huyền bí hơn nhiều, sống ân giật trong hang động,
có người quanh năm không mặc quần áo,
và thậm chí sở hữu những năng lực siêu phàm khó ai tin nổi.
Bạn có tin được điều đó không?
Trong số những bậc kỳ nhân ấy,
Svarmirama là một ví dụ đặc biệt.
Ông đã thu hành hơn 40 năm tại vùng Tây Himalaya,
theo học nhiều vị du gia ẩn cư nơi đây.
Sau đó, ông viết cuốn sách Living with the Himalayan Masters,
được tạm dịch là sống cùng các bậc thầy Himalaya.
Ghi lại những trải nghiệm quý báu,
cùng những bài học được các bậc thánh giả truyền giao.
Trong giai đoạn tu luyện,
ông đã trải qua những điều mà người bình thường cả đời,
thậm chí nhiều đời, cũng khó có cơ hội chạm tới.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng bước vào hành trình kháng phá
những câu chuyện huyền bí
mà Rama từng trải qua giữa dãy Himalaya.
Tuổi thơ và hành trình học đạo
Năm 1925,
Rama chào đời trong một gia đình thuộc giai cấp Balamon
ở miền Bắc Ấn Độ.
Balamon muốn được xem là tầng lớp cao nhất
trong hệ thống đẳng cấp Ấn Độ,
bên cạnh 3 giai tầng khác
gồm Sát Đế Lợi, Phệ Xá và Thủ Đà La.
Trong chế độ giai tầng này,
nếu cha là Thủ Đà La,
thì con cái, dù có trí tuệ siêu phàm
với trí số IQ lên tới 180,
cũng chỉ có thể sống kiếp nô lệ,
không cách nào thay đổi số phận.
Nghe có vẻ bất công,
nhưng bởi người Ấn Độ tin sâu vào Luật Nhân Quà và Luân Hồi,
họ cho rằng đời sống hiện tại
chỉ là kết quả của nghiệp báo từ kiếp trước.
Vì vậy, mặc dù sau khi Ấn Độ giành độc lập,
hệ thống giai tầng đã bị xóa bỏ
trên phương diện hiến pháp,
nhưng trên thực tế,
ảnh hưởng của nó vẫn còn hàn sâu
trong xã hội tới ngày nay.
Rama sinh ra trong giai cấp Balamon,
đồng nghĩa với việc
ông được xem là đã tích lũy phước phần từ kiếp trước,
mở ra chỗ ông một cuộc đời
với nhiều trải nghiệm phi thường.
Ngay từ thủa nhỏ,
Rama đã được nhiều vị thầy nơi núi rừng truyền dạy.
Khi bạn bè đồng trang đứa
còn mài mít học hành ở trường lớp,
ông đã yêu thích lang thang
cấp giải Himalaya
để tìm gặp các ẩn sĩ, đại sư
và học hỏi từ họ.
Suốt cuộc đời mình,
Rama đã tham vấn hơn 120 bậc thánh giả và ẩn sĩ.
Trong giai đoạn từ năm 1939
đến 1944,
khi mới 14 đến 19 tuổi,
ông đã bắt đầu giảng dạy áo nghĩa thư
của Ấn Độ Giáo
cùng các kinh điển Phật Giáo
tại nhiều trường học và tu viện.
Việc có thể trở thành giảng sư
khi mới 19 tuổi
đủ cho thấy sự thu luyện và trí tuệ của Rama
khác thường đến mức nào.
Trong lĩnh vực tôn giáo,
đặc biệt là Phật Giáo Tây Tạng,
người ta rất quan trọng luân hồi truyền thế.
Đơn cử được đặt lại Lạt Ma
hiện nay được xem là hóa thân đời thứ 14
tức đã trải qua 14 lần tái sinh.
Trong một cuộc phỏng vấn cách đây vài năm,
Ngài Tương Bày tỏ nỗi khổ tâm rằng
bản thân không còn mong muốn tiếp tục tái sinh nữa.
Những bậc như vậy
dường như vẫn giữ lại được phần nào ký ức từ tiền kiếp.
Rama cũng thế.
Một phần ký ức của ông được hé mở,
kết hợp với trí thức phong phú
khiến ông dễ dàng lấy dài tâm cảnh
và bản chất sâu xa của con người.
Dẫu vậy,
thời trẻ Rama cũng từng vấp phải một sai lầm lớn.
Ông say mê nghiên cứu thần thông.
Có lần,
ông quen biết một vị du già
có khả năng biến ra bất cứ thứ gì
từ món ăn trong khách sạn sang trọng
cho đến những chiếc đồng hồ thụy sĩ đắt tiền.
Một lần,
Rama thử thách vị này
bằng cách yêu cầu một chiếc hamburger kiểu đức
và kết quả quà thật chiếc bánh xuất hiện.
Ban đầu,
Rama vô cùng ấn tượng
cho rằng theo học vị thời này
thì mọi thứ đều có thể có được.
Từ đó có thể an tâm chuyên tâm tĩnh tọa tù hành.
Thế nhưng,
theo thời gian,
ông dần phát hiện ra bản chất của những phép lạ ấy.
Chúng không hề được tạo ra từ hư vô,
mà thực chất chỉ là thụ đoạn lấy trộn
từ nơi khác mang về.
Thậm chí,
có lần,
Rama
chính là người giới thiệu
một cửa hàng bán máy may
cho vị du già kia
để thử khả năng biến đồ vật.
Quả nhiên,
chiếc máy may biến mất khỏi cửa hàng
và người bán hàng vô tội kia
bị bắt giữ
vì tang vật mất cáp.
Chính khoảnh khắc đó
khiến Rama bưng tình.
Con đường ấy
không phải chính đạo.
Ông nhận ra rằng,
thần thông
tuy có thể tồn tại,
nhưng kẻ say xưa vào đó
hẽ trở nên tham lam và ngạo mạn.
Việc cố ý tu luyện thần thông
hoàn toàn khác với việc ngộ đạo chân chính.
Trong lịch sử,
Đức Phật,
Chúa Giê-xu
hay các bậc thánh gia khác
từng hiền lộ nhiều phép màu.
Nhưng,
họ không bao giờ làm vì tư lợi
cũng không dùng để phô trương
hay gây sự chú ý.
Người tu hành thần bí
ở Himalaya
và khai thị cuối cùng
để vượt thoát sinh tử.
Năm 1946,
khi mới 21 tuổi,
Rama đến Tây Tạng
để học mật tông,
truyền tâm nghiên cứu kinh điển
và thực hành thiên định
với khát vọng tìm ra chân lý vũ trụ
và ý nghĩa đích thực
của đời sống.
Đến năm 27 tuổi,
ông đã được tồn phòng
làm Sankaracharya
Tăng Khứ Lạc Già
bậc lãnh đạo tôn giáo tối cao
trong Ấn Độ Giáo.
Thế nhưng, chỉ 2 năm sau,
Rama bất ngờ tinh ngộ.
Ông nhận ra bản thân
không còn ham thích quyền vị,
hưởng thụ hay hư vinh nữa.
Sau lần giác ngộ ấy,
Rama dứt khoát tư bò
mọi vinh hòa phú quý,
lựa chọn quay trở lại
dãy Himalaya ẩn tu.
Ông quyết định
tìm về bên cạnh vị Thầy của mình
tiếp tục nhận sự tri dạy
và giáo huấn
để đi sâu hơn
trên con đường tu tập.
Trước khi Rama ra đời,
một điểm lạ đã xảy đến.
Một nhân vật thần bí
bất ngờ xuất hiện
trước cha mẹ ông.
Khi ấy,
cha Rama đã ngoài 60,
con mẹ gần 50 tuổi,
cái tuổi mà
việc sinh nhỏ gần như không thể.
Người bí ẩn ấy nói rằng
nếu 2 người sinh được con trai,
hãy để cậu bé bái tan
và làm thầy.
Cha Rama mịm cười đáp
nếu ở tuổi này
chúng tôi còn có được con trai
thì tất nhiên
không thành vấn đề.
Quả nhiên
8 tháng sau
một bé trai cái tiếng khóc
chào đời
được đặt tên là
Swami Rama.
Ngày ấy,
người thần bí kia lại xuất hiện
ngỏ ý muốn đưa cậu bé đi ngay
nhưng mẹ ông khẩn thiết từ chối.
Vài năm sau,
khi cha mẹ lần lượt qua đời,
Rama đã theo bước người ấy
lên giãi Himalaya
mở ra hành trình tu luyện
và người thần bí đó
chính là Thượng Sư của Rama.
Vị Thượng Sư
chẳng hề giang buộc
mà để Rama
tự mình đi qua
những kiếp sống khác nhau
của trần thế.
Ông từng sống sao hoa
như bậc vườn công quý tộc,
từng nắm giữ
vinh dự tối cao
trong tôn giáo,
thậm chí
có lúc hoàn tục
lập gia đình
rồi lại quay về
với con đường xuất ra.
Suốt chặng đường ấy,
Thầy vẫn lặng lẽ dõi theo
để Rama
tự mình nếm chài
hì nộ ái ố
của nhân sinh,
cho đến khi
ông thật sự giác ngộ
mới đưa trở lại chính đạo.
Trong sách,
Rama từng kể rằng
mối liên hệ giữa ông và Thầy
vượt khỏi
mọi giới hạn thường tình.
Sự tri dạy
không chỉ đến từ
thần thể hữu hình
mà còn đến từ
cõi vô hình
như một sợi dây vô hình
kết nối trực tiếp
với bản thể sâu thẳm
trong tâm linh của ông.
Mối liên kết ấy
không chỉ xuất hiện
trong những giờ phút nhập định
mà hiện hữu
từng giây,
từng phút
trong đời sống thường nhật.
Bất cứ khi nào
Rama khởi niệm
hay hành động
dù đúng hay sai
Thầy đều thấu tỏ
ngay tức khác.
Từ bên ngoài nhìn vào
dường như
Thầy sống
trong trạng thái
giác chi thuần khiết.
Vượt ngoài khái điểm thời gian
chẳng còn cảm giác nóng lạnh
cũng chẳng mang
đến thân xác hữu hình.
Giữa băng tuyết lạnh
thấu xương của Himalaya
Thầy có thể cời trần
mà bước đi
hoàn toàn
không bị quy luật
vật chất chói buộc.
Một lần
Thầy xài Rama
đến ga tàu
nhưng không cho ông
mang theo tiền
chỉ rằng
đến đó
tự nhiên sẽ có vé
đừng lo.
Quả nhiên
khi Rama
vừa đến ga
một người bất ngờ
hủy chuyến
và trao lại
chiếc vé cho ông.
Nhờ vậy
Rama
có thể tuận lợi
lên đường.
Lần ấy
nhiệm vụ của ông
là chữa trị
cho một bệnh nhân
bị suất viết não.
Rama
bối dối
không biết phải làm gì
thì Thầy chi bảo
hãy lấy lòng tử bi
mà chạm nhẹ
lên gương mặt ông ấy.
Kỳ lạ thay
dòng máu
đang tuôn ra
từ mũi bệnh nhân
lập tức ngừng lại.
Vị bác sĩ
điều trị khi ấy
cũng chứng kiến tận mắt
không khỏi kinh ngạc
trước phép lạ
hiện hiện
ngay trước mắt mình.
Trong quá trình tu hành
Rama
thường chỉ ăn một bữa
mỗi ngày
một miếng
chapati
ít dầu
và một cốc sữa.
Một hôm
có vị lão tăng
ghé đến xin ăn
Thầy liên bảo
Rama
dâng phần của mình.
Rama lúc ấy
rất so dự
bởi chính ông
cũng đang đói
mà khẩu phần
vốn đã quá ít ỏi.
Sau
một hồi tranh luận
cuối cùng
ông miễn cưỡng
dường lại.
Chỉ sau đó
Rama
mới biết vị sư ấy
đã nhiễn đói
suốt bốn ngày liền.
Khi ăn xong
vị sư mìm cười nói
Thần sẽ phù hộ cho con
từ nay
trừ khi thức ăn
đặt ngay trước mặt
con sẽ không còn cảm thấy đói nữa.
Quả nhiên
từ ngày ấy
Rama học được cách cho đi
thoát khỏi sự giang buộc của cơn đói
và ngộ ra rằng
giữa ý kỳ và vô tư
giữa yêu và ghét
thật ra
chỉ cách nhau một sợi chỉ mỏng.
Một khi vượt qua
được danh giới ấy
con người sẽ cảm nhận
niềm hỷ lạc vô ngã
niềm vui của sự hiến dân
không mong cầu báo đáp.
Đó chính là hạnh phúc lớn lao nhất
cũng là bước tất yếu
trên hành trình tu luyện.
Người còn giữ tâm ý kỳ
thì không thể nào hình dung được
cảnh giới này
bởi họ
vẫn mắc kẹt
trong cái tôi nhỏ bé của mình.
Vô tư
chính là đặc tính chung
của tất cả bậc vĩ nhân.
Nếu thiếu tinh thần phụng sự vô ngã
thì bất cứ việc gì
cũng khó thành tựu.
Ngược lại
nếu mọi hành vi
đều chỉ vì bản thân
thì cho dù có đọc nát kinh sách
cũng chẳng đem lại ý nghĩa gì.
Khi Rama mới 20 tuổi
thầy ông
đã định xà thân nhập Niết Bản.
Rama đào xót ngăn cản
còn tranh biện rằng
trong kinh điển ghi rõ
nếu thầy bỏ lại đệ tử
Ngu Muội nơi trần thế
thì sẽ mang tội
phải đọa địa ngục.
Nghe vậy
thầy Liên ở lại
nhưng 7 năm sau
Rama nhớ lại chuyện ấy
tự thấy hối hận
bởi ông
không thể mãi dựa dẫm vào thầy.
Khi vừa bước đến bên thầy
chưa kịp mở lời
thầy đã mìm cười nói
Nếu con đã chuẩn bị xong
vậy ta có thể thong rong trở về rồi.
Trước khi đi
Rama tha thiết thình cầu
Xin thầy
hãy tiếp tục trợ giúp con
ngay cả khi thầy đã rời bỏ sát phàm
để mỗi khi con cần
vẫn có thể nương tượng nơi thầy.
Thầy gật đầu chấp thuận
rồi an yên thị tịch.
Ngày hôm sau
Rama cùng các đệ tử khác
khiêng nhục thần thầy
lên đỉnh núi để an táng.
Nhưng càng đi
họ càng bị thương
nước mắt tuôn trào không dứt.
Đúng lúc ấy
một điều kỳ diệu xảy ra
thầy bất ngờ sống lại
nghiêm rộng của trách.
Các con vẫn còn cần ta
trong thân xác này.
Chứng tỏ
các con chưa thoát khỏi
sự chấp trước vào hình tướng.
Chính sự bám chấp vào thân thể ta
đã trở thành trướng ngại.
Từ đó
thầy tiếp tục giảng dạy
khai thị cho họ
thấu hiểu mối liên hệ vi tế
giữa thân xác hữu hoạn
và linh hồn bất diệt.
Cuối cùng
trước khi Rama rời Himalaya
thầy đã trao cho ông
lời khai thị tối hậu.
Con người
cùng sống trong một thế giới
cùng chung một mục đích
nhưng
văn hóa Đông và Tây
vốn khác biệt.
Tuy nhiên
lời dạy của các bậc thầy
nơi núi tuyết là vĩnh hàng
vượt ngoài khái niệm
Đông hay Tây.
Nhân loại
vẫn đang không gừng tiến về
một nền văn minh cao hơn.
Nhưng
mọi phương pháp cực đoan
đều vô ích.
Chỉ có sức mạnh nội tâm
tinh thần an lạc
và sự phụng sự vô ngã
mới là nguyên tắc căn bản
của đời sống.
Vấn đề không nằm
ở Đông hay Tây
mà ở chỗ
mỗi người trước hết
phải trở thành
một con người chân chính
một thành viên đích thực
của vũ trụ
siềng sích địa ngục
không thể chia cắt nhân loại.
Trên giãi Himalaya
có vô số du già
và thượng sư
ẩn tu trong thầm lặng.
Thần họ
còn ở trốn nhân gian
nhưng tâm đã vượt ngoài
vòng thế tục.
Thế nhưng
cũng có những người tu hành
ban đầu chân chính
sau lại xa ngã
giữa dòng xoáy danh lợi.
Rama
sau này khi sang Mỹ
chuyên bá triết lý Yoga
cũng không tránh khỏi
định bệnh ấy.
Cuối cùng
vướng vào kiện tụng
khiến thanh danh
bị tồn hại.
Ngẫm lại
nếu thật sự
ở giữa xã hội phức tạp
mà vẫn giữ bát phong
suy bất động
tám ngọn gió
thổi không lay
thì sự siêu vượt tâm linh
và phẩm hạnh cao thượng ấy
mới là biểu hiện
của bậc đại trí.
Suốt hàng ngàn năm
khi nhắc đến tu hành
người ta thường lên tường
đến ẩn sĩ nơi núi sâu
hay bậc tăng đạo chùa triển
tách biệt trần gian
giữ giới thanh nghiêm
để dần xa lề tục lụy.
Thế nhưng
cổ nhân có câu
tiêu ẩn ư lâm
đại ẩn ư thị
ẩn mình trong núi rừng
nhiều khi chỉ là hình thức
chỉ những ai
giữa trốn phổn hoa náo động
vẫn giữ được tâm bình thàn
biết gạt bỏ ồn ào
thong rong tự tại
mới thật sự chạm đến
cảnh giới vô ngã
nơi tâm
và vật đều lặng yên.