Vận dụng phương pháp so sánh trong nghị luận văn học đòi hỏi người viết thực hiện đồng thời nhiều hoạt động tư duy: đọc sâu để phát hiện vấn đề, xác lập tiêu chí đối chiếu, lựa chọn dẫn chứng, tổ chức lập luận và khái quát ý nghĩa. So sánh chỉ thực sự có giá trị khi giúp người viết nhận ra những mối liên hệ có ý nghĩa giữa các tác phẩm, lí giải được nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt, từ đó khám phá đặc điểm tư tưởng, nghệ thuật của từng văn bản.
Đối với học sinh giỏi văn, yêu cầu không dừng ở việc nhận diện điểm giống và khác. Điều quan trọng hơn là biết đặt câu hỏi, phát hiện vấn đề từ văn bản, xây dựng trục so sánh hợp lí và đưa ra những nhận xét có căn cứ. Các bước rèn luyện dưới đây hướng đến việc hình thành năng lực ấy, từ quá trình đọc hiểu đến khi hoàn thành bài nghị luận văn học.
1. Đọc sâu và phát hiện vấn đề
1.1. Đọc để phát hiện tầng nghĩa ngầm
Ở trình độ học sinh giỏi văn, đọc văn không chỉ dừng ở việc nắm cốt truyện, thông tin bề mặt mà cần phát hiện những lớp nghĩa ngầm ẩn, những trầm vỉa ý nghĩa dưới bề nổi ngôn từ. Chẳng hạn, khi đọc Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp, 1987), người học không thể chỉ tóm tắt việc ông tướng trở về quê mà cần hiểu sâu bi kịch tâm thế, quá khứ hào hùng đối lập với thực tại khắc nghiệt, mối quan hệ gia đình rạn nứt phản ánh sự lung lay, bất ổn của các giá trị vốn được mặc định là chân lí truyền thống. Tương tự khi tìm hiểu Nhật ký người điên (Lỗ Tấn, 1918), độc giả phải thấy nỗi sợ xã hội bệnh hoạn, tàn nhẫn và khát vọng phá vỡ vòng trói quẩn quanh của kiếp người…
Ví dụ khác, khi tiếp cận Bến quê (Nguyễn Minh Châu, 1985), người đọc tinh ý sẽ phát hiện hình ảnh bến sông là ẩn dụ cho khao khát hướng về nguồn cội, khao khát thỏa mãn xúc cảm nội tâm. Khi đặt tác phẩm này cạnh truyện Chiếc lá cuối cùng (O. Henry, 1907), chúng ta có thể thấy sự tương đồng trong cách hai tác giả lựa chọn những biểu tượng thẩm mĩ tinh tế, bình dị nhưng chất chứa nhiều thông điệp nhân sinh sâu sắc…
1.2. Đọc để phát hiện mâu thuẫn và điểm nhấn
Đọc sâu còn phải tìm ra mâu thuẫn tiềm ẩn, điểm nhấn nghệ thuật làm nên sức bật tư tưởng. Trong hành trình tiếp cận và phân tích truyện ngắn của thời kì văn học hiện đại, “đọc sâu” đòi hỏi người đọc phải khám phá những mạch ngầm tư tưởng của tác phẩm. Nếu chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hay tóm tắt số phận nhân vật, độc giả sẽ bỏ lỡ những xung đột tinh vi mà nhà văn gửi gắm giữa các lớp nghĩa. Chẳng hạn, Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) là minh chứng cho mâu thuẫn ẩn giữa một không gian thiên nhiên Nam Bộ phóng khoáng, hoang sơ và số phận con người bị như bị giam cầm trong sự tăm tối và nỗi cô đơn bất tận. Cánh đồng mênh mông, sông nước bao la, những cánh cò giang cánh trên đồng gợi mở cho khát vọng tự do, nhưng cha con Điền lại quẩn quanh trong những chuyến lênh đênh, chạy trốn xã hội và chạy trốn chính mình. Những con người bé nhỏ, lầm lụi và dường như câm lặng với vết thương lòng âm thầm đang bị mắc kẹt ngay giữa không gian mênh mông, bất tận đó…
Tác phẩm Thương nhớ đồng quê của Nguyễn Huy Thiệp cũng chứa đựng những tầng vỉa ngầm đầy trăn trở. Vẫn là không gian làng quê Bắc Bộ với con sông, những bãi bồi, lũy tre xanh, đồng ruộng mênh mông bát ngát gợi lên một miền kí ức tưởng như êm đềm, bất biến. Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong vẻ đẹp yên ả ấy là một thực tại bất an: tham vọng mưu sinh, những toan tính để đổi đời, tình cảm gia đình với những dấu hiệu rạn nứt, con người dần bị cuốn vào cơn lốc thị trường, đã và đang xa rời nguồn cội. Trong truyện, hình ảnh đứa trẻ lạc lõng “thương nhớ đồng quê” trở thành tiếng vọng hoài niệm. Điều đó thể hiện khá rõ nghịch lí, thiên nhiên vẫn xanh tươi, đồng quê vẫn có vẻ bình yên, nhưng tâm hồn con người thì dường như đang bị kìm chặt giữa nhịp đổi thay chóng mặt.
Như vậy, đặt hai truyện ngắn bên nhau, ta nhận ra nếu mâu thuẫn xã hội, gia đình, tâm lí vẫn bị dồn nén bên trong thì không gian mở cũng không cứu rỗi được đời sống con người thuần hậu. Những mạch ngầm ẩn phía sau câu chữ và tình huống đã khiến người đọc phải lấp đầy những khoảng trống bằng chính kinh nghiệm văn hóa và chiêm nghiệm riêng. Bởi thế, khi văn học gợi ra được những tầng vỉa, đó cũng là lúc tác phẩm vượt lên trên ranh giới thời đại.
1.3. Đọc liên văn bản
Đọc sâu còn đồng nghĩa với khả năng đặt người đọc luôn đặt văn bản này cạnh văn bản khác (đôi khi dòng chảy tự nhiên của kí ức) để phát hiện tương đồng, dị biệt, tạo nên những khoái cảm thẩm mĩ độc đáo. Ý nghĩa liên văn bản chính là bản chất của sự đọc. Khi tham gia vào quá trình tìm hiểu văn bản, người đọc cần trang bị cho bản thân vốn liếng về mã ngôn ngữ và vốn từ vựng giàu có. Bằng vốn kiến thức sẵn có, khi tiếp xúc với văn bản mới, người đọc sẽ hình thành các lựa chọn ngữ nghĩa lên hệ thống ngôn từ của tác phẩm, bổ sung những ý nghĩa, khoảng trống của hình tượng, nền tảng các diễn ngôn… Đây cũng là phương pháp đọc phổ biến đối với việc đọc hiểu thể loại truyện ngắn trong thời kì hiện đại.
2. Xác định tiêu chí và nội dung so sánh phù hợp
Một trong những yêu cầu quan trọng khi vận dụng phương pháp so sánh là phải thiết lập tiêu chí rõ ràng và lựa chọn bình diện phân tích phù hợp. Theo Phạm Vĩnh Cư: so sánh văn học không chỉ là thao tác đối chiếu đơn thuần mà còn là một phương pháp nhận thức mang tính khoa học, đòi hỏi người viết phải xây dựng hệ tiêu chí nhất quán để đảm bảo tính khả thi và tính thuyết phục.
Việc xác định bình diện phù hợp sẽ giúp người viết tránh sa đà vào kể lại cốt truyện, đồng thời phát huy khả năng tư duy khái quát hóa.
Ví dụ, khi so sánh truyện ngắn Thương nhớ đồng quê (Nguyễn Huy Thiệp) với Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), học sinh cần định rõ tiêu chí phân tích chủ đề nông thôn hậu chiến, hình ảnh con người trước biến động thời cuộc và xung đột giữa truyền thống với hiện đại. Thương nhớ đồng quê gợi nỗi ám ảnh về một miền quê hoài niệm, với những nhân vật day dứt trong nỗi nhớ về làng mạc, trong khi Bước qua lời nguyền khắc họa không gian làng xã Việt Nam đương đại đầy những lời nguyền tâm linh như một biểu tượng của bế tắc tinh thần.
Việc phân tách tiêu chí này giúp học sinh phát hiện ra điểm tương đồng (đều phản ánh nông thôn Việt Nam), đồng thời chỉ ra khác biệt ở bút pháp. Nguyễn Huy Thiệp thiên về lối tự sự giàu chất trữ tình và dư ba hoài niệm, còn Tạ Duy Anh chọn lối trần thuật nhuốm màu huyền ảo, ẩn chứa tính phản tư xã hội sâu sắc.
Khi viết bài văn nghị luận văn học sử dụng phương pháp so sánh thì người viết cần luôn ghi nhớ rằng: tiêu chí càng cụ thể, bình diện so sánh càng rõ thì lập luận càng sắc sảo và giàu tính thuyết phục. Vì vậy, bước xây dựng tiêu chí và bình diện phải được luyện tập bài bản từ những ví dụ gần gũi, rồi mở rộng sang những cặp tác phẩm phức tạp hơn.
3. Tổ chức lập luận và viết đoạn
3.1. Xác định bố cục đoạn so sánh chuẩn mực
Một đoạn so sánh hoàn chỉnh gồm:
(1) Nêu vấn đề.
(2) Trích dẫn tác phẩm A.
(3) Trích dẫn tác phẩm B.
(4) Chỉ ra điểm tương đồng – khác biệt
(5) Kết - bình luận.
Ví dụ: (1) Nêu vấn đề:
Cả Thủy Nguyệt và Vịnh cánh cung đều phản chiếu vẻ đẹp mong manh của kí ức và ảo ảnh, soi chiếu kiếp người bé nhỏ trong cõi vô thường.
(2) Trích dẫn A:
Trong Thủy Nguyệt, hình ảnh Kyoko soi gương, soi giếng, ánh trăng loang mặt nước - tất cả như chiếc gương tâm linh…
(3) Trích dẫn B:
Vịnh cánh cung kể về Muranô - người phụ nữ tìm chốn neo đậu tinh thần qua hình bóng Kasumi. Quá khứ và hiện tại hoà tan, hư thực lẫn lộn…
(4) Điểm gặp & khác:
Giống: Đều sử dụng hình ảnh phản chiếu - soi - nước - gương, gợi vẻ đẹp tinh khiết mà rất khó nắm bắt.
Khác: Thủy Nguyệt giàu thiền vị, nghiêng về sự buông bỏ; Vịnh cánh cung lại day dứt khát vọng bấu víu, gắn bó với một hình bóng lí tưởng của tâm lí…
(5) Kết:
Hai truyện cho thấy Kawabata đã nâng truyện ngắn lên tầm thơ ca và thiền luận, để lại dư vang về những gì mong manh nhất. Đó là tình yêu, kí ức và vẻ đẹp vĩnh cửu của tâm hồn con người.
Đoạn mẫu: Trong kho tàng truyện ngắn Nhật Bản hiện đại, Kawabata Yasunari được coi là bậc thầy của nghệ thuật kết hợp thi pháp tượng trưng và cảm quan thẩm mĩ đậm màu thiền. Mỗi truyện ngắn của ông được đánh giá vừa như một bức tranh thủy mặc vừa như một chiếc gương soi chiếu tận tầng sâu thẳm của thế giới nội tâm con người. Thủy Nguyệt và Vịnh cánh cung là hai truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách này, hai truyện đều gợi mở nhiều suy nghiệm về kiếp người, những suy tư về hạnh phúc hay nỗi niềm ảo vọng mênh mang. Thủy Nguyệt kể về Kyoko - người phụ nữ lặng lẽ bên người chồng đầu bị ốm năng. Hình ảnh chiếc gương thật được Kyoko trao cho chồng tựa như tấm gương tâm linh đa diện, phản chiếu cả chiều sâu tâm lí khó định hình. Hình ảnh chiếc gương soi gắn với những cảm xúc, tâm tư của nhân vật trong dòng chảy đồng hiện cả kí ức khiến cho truyện ngắn này giàu chất thiền, khơi dậy triết lí vô thường của nhân sinh, tinh thần buông bỏ dục vọng và những chấp niệm của con người.
Nếu Thủy Nguyệt nghiêng về cái đẹp của sự tĩnh lặng thì Vịnh cánh cung lại mở ra một không gian khác, phức tạp hơn, ảo mộng hơn, nhưng cũng không kém phần mong manh. Muranô là một người phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân đã một lần nữa để trái tim mình neo tựa vào hình bóng Kasumi, một nhà văn, hình tượng lí tưởng do chính khao khát và hồi ức mơ hồ của bà tưởng tượng nên. Bà đã đi tìm Kasumi để mong nhận được một lời yêu thương, một cử chỉ gần gũi, nhưng tất cả chỉ là ước mơ vời vợi. Mối quan hệ giữa Muranô và Kasumi, người tình trong mộng ảo của bà không bao giờ rõ ràng, giống như vịnh biển uốn cong ôm lấy cánh cung, mà bến bờ thực sự ở đâu không ai có thể biết được. Ở đây, Kawabata tiếp tục triển khai hệ thống hình ảnh đồng hiện: quá khứ - hiện tại, thực - mộng, kí ức - ước vọng hòa trộn, đan cài như những vòng sóng lan mãi trên mặt biển, không bờ bến. Nếu Thủy Nguyệt mời gọi con người hướng tới sự buông bỏ, thì Vịnh cánh cung lại thấm đẫm day dứt của một linh hồn khao khát điểm tựa, tự cứu rỗi tâm hồn mình bằng ảo ảnh mông lung…
Giữa hai truyện, điểm gặp gỡ nghệ thuật nổi bật nhất chính là việc Kawabata sử dụng nhất quán những biểu tượng nước, gương, ánh sáng. Những yếu tố gắn liền với tính chất phản chiếu, soi chiếu và hư ảo. Hình ảnh gương trong Thủy Nguyệt soi trăng, soi người, soi cả tâm hồn. Hình ảnh vịnh cánh cung trong Vịnh cánh cung mở ra không gian cong, lượn, quanh co mơ hồ như chính tâm tưởng người đàn bà cô đơn. Hai truyện cũng thống nhất ở nhịp kể chậm rãi, giọng văn tinh tế, hạn chế tối đa những sự kiện gay cấn bề mặt để dồn nội lực vào tầng sâu suy tưởng. Dẫu vậy, chiều hướng cảm xúc lại phân chia rất rõ, Thủy Nguyệt nhẹ như một khúc thiền ca về sự buông xả và giác ngộ còn Vịnh cánh cung gợn lên những nhịp sóng tâm tư đầy dằn vặt khôn nguôi của khát vọng được yêu, được chia sẻ, được kết nối…
3.2. Hướng kết thúc bằng bình luận mở rộng và liên hệ
Đoạn văn nghị luận văn học của học sinh giỏi văn thường có kết thúc tạo dư ba bằng cách có những bình luận, liên hệ tự nhiên xoay quanh trục: Khẳng định → Tái nhắc vấn đề → Nhắc tác phẩm/tác giả → Mở ra giá trị nhân sinh → Chèn câu hỏi, lời nhắn, liên hệ → Dư ba.
Giả sử, học sinh vừa viết đoạn nghị luận so sánh Luân hồi (Tạ Duy Anh) và Trong rừng trúc (Akutagawa) để bàn về vấn đề ý nghĩa nhân sinh đa chiều của cuộc sống hiện đại được thể hiện trong văn chương. Sau đó kết đoạn như sau:
Như vậy, từ Trong rừng trúc của Akutagawa đến Luân hồi của Tạ Duy Anh, người đọc không chỉ chứng kiến những lớp mặt nạ chồng lên sự thật, mà còn đối diện với nỗi hồ nghi về khả năng con người tự nhìn thấu chính mình. Nếu Akutagawa để lại câu hỏi về bản chất thiện - ác trong bóng tối rừng trúc, thì Tạ Duy Anh khép lại bằng vòng luân hồi của kiếp người không dứt, đầy ám ảnh. Khép lại những trang truyện,đôi mắt ta có thể rời khỏi những con chữ lặng lẽ nhưng tâm tư mang theo nỗi day dứt khôn nguôi về con người, kiếp người… Đó có lẽ cũng là giá trị kín đáo nhưng sâu sắc mà các tác giả mong gửi gắm cho độc giả, những người sẽ đang tự viết tiếp câu chuyện nhân sinh của mình ở cuộc đời bên ngoài trang truyện…
4. Quy trình vận dụng phương pháp so sánh để tạo lập văn bản nghị luận thể loại truyện ngắn
4.1. Xác định đối tượng và phạm vi so sánh
Phương pháp so sánh không chỉ là một “thao tác kĩ thuật” trong phân tích văn học mà còn là nền tảng tư duy quan trọng để hình thành hệ thống lập luận có chiều sâu, chặt chẽ và mang tính phát hiện. Để vận dụng phương pháp này một cách hiệu quả khi viết văn bản nghị luận về thể loại truyện ngắn, người viết - đặc biệt là học sinh giỏi văn - cần nắm vững quy trình các bước cơ bản, từ nhận diện vấn đề, thiết lập tiêu chí, lựa chọn dẫn chứng đến triển khai lập luận và mở rộng ý nghĩa.
Trước hết, bước khởi đầu quan trọng nhất là xác định đối tượng và phạm vi so sánh. Người viết cần trả lời được câu hỏi: so sánh ai với ai? tác phẩm nào với tác phẩm nào? phương diện nào? sẽ được đặt vào mối quan hệ đối sánh. Ví dụ, khi đặt truyện ngắn Bến quê (Nguyễn Minh Châu, 1985) bên cạnh Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu, 1983), học sinh có thể tập trung so sánh cách tác giả xây dựng hình tượng không gian nghệ thuật gắn với triết lí nhân sinh, để từ đó nhận diện quá trình chuyển biến trong tư duy sáng tác của cùng một tác giả - từ góc nhìn hiện thực sang chiều sâu triết luận.
4.2. Xác lập các bình diện so sánh một cách rõ ràng và hợp lí
Tiêu chí phải xuất phát từ đặc trưng thể loại truyện ngắn, tất nhiên song song với đó là gắn chặt với yêu cầu của đề bài và phải phù hợp với mối quan hệ giữa các văn bản được so sánh. Tiêu chí có thể là hình tượng nhân vật, không gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, giọng điệu tự sự, kết cấu mở - đóng, hoặc phong cách ngôn ngữ. Không xác định chuẩn trục so sánh này sẽ dẫn đến sự khiên cưỡng, khó thuyết phục, nhất là trong bài làm văn học sinh giỏi luôn đòi hỏi tư duy ngôn ngữ bậc cao và tư duy lí luận sắc bén, chuyên nghiệp.
4.3. Lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu
Các dẫn chứng cần chính xác, tiêu biểu cho khía cạnh lí luận cần được bàn luận, bám sát văn bản gốc, tránh tình trạng ghi nhớ mơ hồ hoặc sử dụng dẫn chứng mang tính minh hoạ bề mặt. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong các bài thi học sinh giỏi, bởi dẫn chứng là cơ sở quan trọng bậc nhất để lập luận so sánh có sức nặng.
Chẳng hạn để nghị luận cho phương diện: Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn là một thủ pháp đặc sắc, phản ánh khả năng tự ý thức của văn học hiện đại trong việc phá vỡ những mô hình tư duy và diễn ngôn truyền thống, tiêu biểu có thể kể đến Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn được coi là “bậc thầy của giễu nhại” trong văn xuôi Việt Nam cuối thế kỉ XX. Trong truyện ngắn Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã khéo léo giễu nhại hình tượng người anh hùng cách mạng, một biểu tượng thiêng liêng bằng việc đặt nhân vật ông tướng về hưu vào không gian gia đình cá nhân, xung đột lợi ích và lối sống thực dụng. Chỉ một chi tiết “ông tướng về hưu phải đi xin đất xây mộ” đã vừa buồn cười vừa xót xa, đồng thời phơi bày tình trạng tha hóa các giá trị đạo đức thời hậu chiến. Bằng bút pháp giễu nhại, nhà văn buộc người đọc phải đối mặt với thực tại trần trụi, từ đó nhận ra tính phức tạp, đa diện của đời sống và những mâu thuẫn âm ỉ bên trong vẻ ngoài “gia giáo” và “trí thức”.
4.4. Triển khai so sánh trong bố cục mạch lạc
Người viết cần đặt các tiêu chí so sánh vào cấu trúc hợp lí, tránh dàn trải hoặc chồng chéo. Một bố cục thường gặp là so sánh song song. Với mỗi tiêu chí, tác phẩm A sẽ được phân tích trước, rồi đặt cạnh tác phẩm B để làm bật lên điểm tương đồng - khác biệt. Ví dụ, khi phân tích nhân vật ông Thuấn (trong Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp) và nhân vật người cha trong truyện Cha tôi (Sương Nguyệt Minh), học sinh có thể lần lượt làm rõ thân phận, bi kịch tinh thần, sự vênh lệch trong những góc nhìn của các thế hệ (mâu thuẫn thế hệ) sau đó chỉ ra sự khác biệt về bối cảnh xã hội - thẩm mĩ - triết học. Cách triển khai này giúp bài viết giữ được logic, mạch lạc, đồng thời thể hiện được chiều sâu phát hiện các tầng ý nghĩa của vấn đề.
4.5. Mở rộng vấn đề về mặt giá trị và ý nghĩa
Việc so sánh không dừng lại ở việc liệt kê điểm giống - khác mà phải dẫn đến khái quát về thông điệp nhân văn, giá trị nghệ thuật của truyện ngắn, cũng như khả năng vận dụng tư duy liên văn bản. Chính thao tác so sánh như vậy mới làm nổi bật vai trò của so sánh như một công cụ phát triển tư duy phản biện, gắn liền với tinh thần triển khai việc tạo lập văn bản nghị luận văn học về thể loại truyện ngắn.
Chẳng hạn với vấn đề nghị luận trên, đoạn văn mở rộng có thể là: So sánh với Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy điểm gặp gỡ là cả ba đều dùng giễu nhại để đặt nghi vấn về những giá trị “thiêng liêng” của cộng đồng, từ lí tưởng cách mạng, luân lí Nho giáo được coi là chuẩn mực hàng ngàn năm qua, cho đến những khát vọng của xã hội tiêu dùng mới. Điều này chứng tỏ giễu nhại trong truyện ngắn không chỉ dừng lại trong giới hạn là dấu hiệu thẩm mĩ mà còn có giá trị phản ánh tinh thần thời đại, tinh thần phản biện, mong muốn tháo gỡ và cấu trúc lại hệ hình văn hóa đang chi phối con người. Chính vì thế, nghệ thuật giễu nhại không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn bút pháp của từng nhà văn mà còn cho thấy truyện ngắn, với dung lượng ngắn gọn nhưng có thể hàm chứa sức công phá ý thức xã hội rất mạnh mẽ.
Kết luận
Rèn luyện phương pháp so sánh là quá trình phát triển đồng thời năng lực đọc hiểu, tư duy phân tích và khả năng lập luận. Người viết cần bắt đầu từ việc đọc sâu để phát hiện vấn đề, tiếp tục bằng việc xác lập tiêu chí và lựa chọn dẫn chứng, sau đó tổ chức các luận điểm theo một trục đối chiếu nhất quán, cuối cùng khái quát ý nghĩa của những tương đồng và khác biệt đã nhận diện.
Điều quyết định chất lượng của bài nghị luận không nằm ở số lượng tác phẩm được đưa vào so sánh hay mức độ cầu kì của lời văn, mà ở khả năng phát hiện những mối liên hệ có ý nghĩa, lí giải chúng bằng căn cứ xác đáng và rút ra nhận định thuyết phục. Khi được vận dụng đúng, phương pháp so sánh giúp người học vượt qua lối đọc và viết thiên về kể lại, ghi nhớ; tiến tới một cách tiếp cận văn học chủ động, có chiều sâu và giàu khả năng phát hiện.
1. Phạm Vĩnh Cư (2004), So sánh văn học: Lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội



Bình luận