Năm 1783, khi John Quincy Adams, người sau này trở thành Tổng thống thứ sáu của Mỹ, theo cha sang châu Âu, mẹ ông là Abigail Adams đã viết trong thư gửi con: “Cha mẹ yêu thương chăm sóc con cái, lo lắng và vất vả vì chúng, rốt cuộc mong muốn gì ở chúng? Không gì khác hơn là mong chúng trở nên thông tuệ và có đức hạnh, nhân ái và lương thiện.”

Trước đó, Abigail cũng từng nhắc con rằng nếu học vấn và năng lực không gắn với đức hạnh, danh dự, sự thật và chính trực thì dù tài giỏi đến đâu cũng khó có được sự tôn trọng thật sự.

Quan niệm ấy không chỉ riêng bà. Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, George Washington hay Samuel Adams đều coi việc giáo dục nhân cách là nền tảng của giáo dục. Samuel Adams từng cho rằng khi đức hạnh và tri thức được lan tỏa rộng rãi trong dân chúng, con người sẽ khó bị nô lệ hóa. Với các bậc khai quốc Mỹ, một người chỉ thực sự độc lập khi bên trong họ có đủ phẩm hạnh để tự chủ chính mình.

Trong khoảng 150 năm sau Tuyên ngôn Độc lập, trường học Mỹ vì thế không chỉ dạy đọc, viết hay tính toán. Sách khai trí, văn học và lịch sử còn được dùng để giúp học sinh hiểu thế nào là đúng sai, danh dự, trách nhiệm và lòng chính trực.

Khi giáo dục thiếu đi phần đạo đức

Hình ảnh: John Quincy Adams, người sau này trở thành Tổng thống thứ sáu của Mỹ

Năm 2003, William J. Bennett, cựu Bộ trưởng Giáo dục Mỹ, kể rằng trong thời gian làm việc tại Nhà Trắng, ông thường nghe giáo viên, phụ huynh, cảnh sát và thẩm phán đặt cùng một câu hỏi: Ai đang dạy trẻ em về đạo đức?

Một thẩm phán ở Detroit từng hỏi những thanh niên phạm lỗi rằng chẳng lẽ không ai dạy họ phân biệt đúng sai hay sao. Khi họ trả lời “không”, ông cho rằng xã hội đang tồn tại một “khoảng trống đạo đức”.

Đó cũng là điều khiến cách giáo dục của các gia đình thời lập quốc đáng để nhìn lại. Họ không xem nhân cách là một bài học phụ, càng không cho rằng chỉ cần con học giỏi là đủ. Muốn một đứa trẻ sau này biết tự lập, trước hết phải giúp chúng hình thành khả năng tự chủ, ý thức trách nhiệm và một chuẩn mực đúng sai bên trong mình.

Cho trẻ khoảng trời để tự lớn lên

Gia đình Adams rất coi trọng học tập, nhưng con cái họ vẫn có thời gian câu cá, đọc sách, chơi cờ hay đi dạo cùng cha.

Ngày nay, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy vui chơi tự do có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của trẻ. Khi không phải lúc nào cũng có người lớn đứng bên cạnh hướng dẫn, trẻ phải tự nghĩ cách chơi, tự giải quyết bất đồng, tự đưa ra lựa chọn và chịu trách nhiệm cho những quyết định nhỏ của mình.

Chính những trải nghiệm tưởng như đơn giản ấy dần hình thành sự tự tin và khả năng suy nghĩ độc lập.

Một đứa trẻ nếu việc gì cũng được người lớn sắp xếp, khó tránh khỏi cảm giác lúng túng khi phải tự bước đi. Ngược lại, được trao một khoảng tự do phù hợp cũng là cách cha mẹ nói với con rằng: cha mẹ tin con có khả năng tự học cách trưởng thành.

Việc nhà cũng là một phần của giáo dục

Bốn người con của gia đình Adams đều phải dành thời gian làm việc trong nhà và trên nông trại.

Cuộc sống ngày nay khác xa thế kỷ XVIII, nhưng ý nghĩa của việc nhà vẫn không thay đổi. Một đứa trẻ nhỏ có thể tự cất đồ chơi; khi lớn hơn có thể phụ việc bếp núc, giặt giũ, chăm em hay chia sẻ những công việc phù hợp với tuổi.

Điều quan trọng không nằm ở việc cha mẹ tiết kiệm được bao nhiêu công sức, mà là đứa trẻ dần hiểu rằng mình cũng có trách nhiệm với mái nhà đang nuôi dưỡng mình.

Sự tự lập không bắt đầu vào ngày một người đủ 18 tuổi. Nó được hình thành từ những việc rất nhỏ, khi một đứa trẻ biết tự làm điều mình có thể làm thay vì chờ người khác phục vụ.

Học điều thiện, nhưng cũng phải nhận ra cái ác

Noah Webster từng viết rằng đức hạnh của một con người đối với xã hội quan trọng hơn nhiều so với tài năng, vì thế việc tu dưỡng tâm hồn phải được coi trọng không kém rèn luyện trí tuệ.

Abigail Adams cũng dùng lịch sử để dạy con điều ấy. Trong thư gửi John khi cậu còn nhỏ, bà nhắc đến những nhân vật như Nero, Caligula và Cesare Borgia, qua đó cảnh báo rằng cái ác ban đầu có thể khiến người ta ghê sợ, nhưng nếu tiếp xúc lâu mà mất cảnh giác, con người có thể dần trở nên quen thuộc với nó.

Đồng thời, lịch sử cũng đem đến những tấm gương đáng kính để trẻ noi theo.

Ngày nay, trẻ em dễ biết đến người nổi tiếng, ngôi sao thể thao hay thần tượng mạng hơn những con người thật từng sống một cuộc đời can đảm và có trách nhiệm. Nhưng những tấm gương lịch sử có một giá trị khác: chúng cho trẻ thấy một con người bình thường có thể trở nên đáng kính nhờ lựa chọn, ý chí và nhân cách của mình.

Độc lập không chỉ là được tự do

Hình ảnh minh hoạ: Độc lập không chỉ là được tự do

George Washington nhận công việc đo đạc khi mới 16 tuổi; John Adams vào Harvard lúc 15 tuổi; Thomas Jefferson chưa đầy 17 tuổi khi đến Đại học William & Mary; Abigail kết hôn năm 19 tuổi.

Người trẻ ngày nay không nhất thiết phải trưởng thành sớm như họ. Nhưng khi bước vào tuổi trưởng thành, một người vẫn cần biết tự lo cho cuộc sống, giao tiếp với thầy cô hay cấp trên, quản lý tiền bạc và chịu trách nhiệm với những quyết định của mình.

Bởi độc lập chưa bao giờ chỉ có nghĩa là được làm điều mình muốn.

Thomas Jefferson từng nói: “Không có đức hạnh thì không thể có hạnh phúc.” Tự do nếu thiếu khả năng tự chủ rất dễ biến thành buông thả, còn quyền lợi nếu tách khỏi trách nhiệm thì khó có thể tạo nên một con người thật sự trưởng thành.

Nhìn lại cách những gia đình thời xưa nuôi dạy con, điều đáng học hỏi có lẽ không nằm ở việc đưa trẻ trở lại cuộc sống của hơn hai thế kỷ trước, mà ở một nguyên tắc vẫn còn nguyên giá trị: muốn con đủ sức đứng bằng đôi chân của mình, cha mẹ không chỉ truyền cho con kiến thức, mà còn phải giúp con xây dựng nhân cách.

Và có lẽ lời Abigail Adams gửi cho người con trai đang tuổi trưởng thành đã nói trọn vẹn điều bà mong đợi ở giáo dục:

“Một khi có được năng lực tự chủ, tự lập ấy, con sẽ có cơ hội theo đuổi hạnh phúc của chính mình và đóng góp cho nhân loại.”

Tiểu Hoa biên dịch

Theo: aboluowang.com