KỲ THI OLYMPIC TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XX, NĂM 2026
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10
Thời gian 180 phút (Không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 05 tháng 8 năm 2026
Đề thi gồm 01 trang
Câu 1 (8,0 điểm)
Hãy trình bày suy nghĩ về thông điệp có ý nghĩa nhất đối với anh/chị từ câu chuyện dưới đây:
Một nhà khoa học khi đi ngang qua chuồng gà trong một trang trại đã rất ngạc nhiên vì thấy trong đàn gà có một con đại bàng. Nó mổ thức ăn trên mặt đất giống hệt một con gà.
Nhà khoa học hỏi chuyện chủ trang trại thì được biết, năm ngoái, trong lúc đi săn, ông ta nhặt được con đại bàng khi ấy còn non rơi khỏi tổ và đem về nhà nuôi. Vì không có chỗ nuôi thích hợp, ông đã nhốt nó sống chung với gà, cho nó ăn thức ăn của gà và dạy nó như dạy gà. Con đại bàng, do đó, đã sống như gà, quên mất nó là ai đến nỗi không còn biết bay nữa.
Nhà khoa học nói: “Xét cho cùng, nó vẫn là một con đại bàng. Tôi nghĩ chỉ cần dạy, nó sẽ biết bay.” Và ông đề nghị chủ trang trại cho phép mình thực nghiệm việc này. Lần thứ nhất, ông đặt nó lên cánh tay và nói: “Mày thuộc về trời xanh, không phải là mặt đất này, hãy dang rộng đôi cánh và bay đi!” Nhưng con đại bàng nhìn nhà khoa học với vẻ khó hiểu và nhìn bầy gà đang cặm cụi mổ thức ăn trên sân, nó nhảy xuống và hòa mình vào bầy đàn.
Không bỏ cuộc, nhà khoa học tiếp tục đặt con đại bàng lên mái nhà và nói với nó những lời tương tự như lúc trước. Con đại bàng nhìn lên bầu trời, thấy như thể đó là một thế giới xa lạ đầy sợ hãi. Nó lại tìm cách nhảy xuống đất, cùng đàn gà tiếp tục mổ thức ăn.
Lần thứ ba, nhà khoa học đưa con đại bàng lên ngọn núi cao gần trang trại. Ông hướng nó về phía mặt trời, nói với nó những lời ông từng nói. Và chuyện kỳ lạ đã xảy ra: cảm nhận được những tia nắng rực rỡ, thân con đại bàng rung lên, nó từ từ mở rộng đôi cánh, cất lên tiếng kêu chiến thắng và lao thẳng lên bầu trời.
(Biên tập theo “Đại bàng tung cánh”, in trong Con sẽ không dựa dẫm – Những câu chuyện truyền cảm hứng, Yunan biên soạn, Ngọc Hữu dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2025, trang 218-223).
Câu 2 (12,0 điểm)
Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà, “... sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, biến cải được con người là vì nó hấp dẫn, vui tươi. Ở đây, dường như giáo dục, giải trí, vui chơi là một”.
(Lê Ngọc Trà, Lý luận và văn học [tái bản lần thứ nhất], NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2005, trang 111).
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn luận về nhận định trên.
----------------HẾT------------------

HƯỚNG DẪN CHẤM
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo chấm đúng như đáp án, biểu điểm của Ban Tổ chức.
- Nếu thí sinh có cách trả lời khác đáp án nhưng đúng thì giám khảo vẫn chấm theo biểu điểm của Hướng dẫn chấm.
- Giám khảo không quy tròn điểm thành phần của từng câu, điểm của bài thi.
II. ĐÁP ÁN, BIỂU ĐIỂM
Câu 1. Nghị luận xã hội – Câu chuyện “Đại bàng tung cánh” (8,0 điểm)
1. Yêu cầu chung
- Thí sinh được quyền lựa chọn một thông điệp mà bản thân cho là có ý nghĩa nhất, miễn là thông điệp đó được rút ra hợp lí từ câu chuyện và được lập luận thuyết phục.
- Không áp đặt một thông điệp duy nhất. Chỉ cần thông điệp được rút ra hợp lí từ văn bản và được bảo vệ bằng lập luận thuyết phục.
- Không chấm theo “đáp án ý”. Trọng tâm đánh giá là chất lượng lập luận, khả năng phân tích và sức thuyết phục của bài viết.
- Khuyến khích những bài viết có tư duy phản biện.
2. Yêu cầu về kiến thức (7,0 điểm)
2.1. Giải thích (1,5 điểm)
- Giải thích, cắt nghĩa câu chuyện: Câu chuyện xoay quanh tình huống con đại bàng được người nông dân nuôi trong chuồng gà và quên mất mình là đại bàng; nhà khoa học kiên trì dạy và đánh thức được bản năng bay của đại bàng.
- Rút ra thông điệp: Học sinh nhìn nhận nhiều phía để tự rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất, song thông điệp đưa ra phải dựa trên sự cắt nghĩa, suy luận hợp lí từ câu chuyện. Có thể chấp nhận chọn một hoặc kết hợp các thông điệp sau:
+ Xem xét mối quan hệ tương tác giữa môi trường sống với đại bàng: Môi trường sống ảnh hưởng sâu sắc tới con người; Không để hoàn cảnh quyết số phận; Muốn phát huy năng lực cần có môi trường phù hợp…
+ Xem xét mối quan hệ giữa chủ thể tác động (người nông dân, nhà khoa học) đối với đại bàng: Vai trò của niềm tin, sự khích lệ làm thay đổi cuộc đời; giáo dục có ý nghĩa đánh thức tiềm năng của cá nhân…
+ Xem xét giá trị của bản thân đại bàng: sống đúng với giá trị tự thân; những nỗ lực vượt khỏi vùng an toàn để làm chính mình; giá trị của đời sống mỗi người phụ thuộc vào những mục tiêu mình tự đặt ra…
2.2. Bàn luận (2,5 điểm)
- Lí giải thông điệp (…)
- Phân tích biểu hiện của thông điệp (…)
- Đánh giá về giá trị của thông điệp (…)
2.3. Chứng minh (1,5 điểm)
- Lấy dẫn chứng phong phú, đa dạng từ lịch sử, đời sống, trải nghiệm cá nhân.
- Phân tích, đánh giá gắn liền với luận điểm, làm sáng tỏ được thông điệp.
2.4. Phản biện – mở rộng (1,5 điểm)
- Nhìn nhận đa chiều, chỉ ra giới hạn của thông điệp, điều kiện vận dụng thông điệp. Có thể có những góc nhìn phản biện tùy thông điệp đưa ra như sau:
+ Với thông điệp “không để hoàn cảnh quyết định số phận” có thể thấy: Không phải ai cũng phát huy được tiềm năng nếu thiếu điều kiện xã hội.
+ Với thông điệp về vai trò của giáo dục, của sự động viên, khuyến khích đối với việc giải phóng tiềm năng có thể phản biện: Đại bàng không chỉ bay bằng lời động viên mà còn cần môi trường phù hợp, cần có tiềm năng sẵn có.
+ Với thông điệp về giá trị tự thân, bản năng bay sẵn có của đại bàng, cần nhận thấy: Vai trò của nhà khoa học và môi trường quan trọng không kém ý chí của đại bàng.
+ Với thông điệp về giá trị của sự nỗ lực cá nhân, khẳng định ý chí của đại bàng, cần thấy: Câu chuyện quá nhấn mạnh nỗ lực của cá nhân mà không chú ý đầy đủ đến điều kiện khách quan.
- Mở rộng vấn đề hợp lí (…).
3. Yêu cầu về kĩ năng tạo lập văn bản, lập luận, diễn đạt (1,0 điểm)
- Bố cục chặt chẽ.
- Diễn đạt mạch lạc, dùng từ chuẩn xác.
- Ít hoặc không mắc lỗi diễn đạt.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)
“Sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, biến cải con người vì nó hấp dẫn, vui tươi. Ở đây, dường như giáo dục, giải trí, vui chơi là một”.
1. Yêu cầu chung
- Thí sinh xác định đúng yêu cầu của đề bài bàn về chức năng giáo dục đặc biệt của văn học.
- Không áp đặt một cách làm.
- Không chấm theo “đáp án ý”. Trọng tâm đánh giá là chất lượng lập luận, khả năng phân tích và sức thuyết phục của bài viết.
- Khuyến khích những bài viết có tư duy phản biện.
2. Yêu cầu về kiến thức (11,0 điểm)
2.1. Giải thích (2,0 điểm)
- Giải thích từ ngữ:
+ Tác động, biến cải con người: khả năng của nghệ thuật trong việc thay đổi nhận thức, tình cảm, hành vi của con người trong quá trình hoàn thiện nhân cách.
+ Hấp dẫn, vui tươi: sức hút, sức lôi cuốn, khoái cảm thẩm mỹ mà văn chương đem đến.
+ Giáo dục, giải trí, vui chơi là một: khẳng định sự thống nhất giữa các chức năng của nghệ thuật. Trong tác phẩm chân chính, giáo dục không tách rời thưởng thức; con người được cảm hóa ngay trong quá trình tự nguyện bước vào thế giới mà người nghệ sĩ sáng tạo ra.
- Nhận diện vấn đề: Bàn về chức năng giáo dục của nghệ thuật trong đó nhấn mạnh phương thức giáo dục đặc thù của nghệ thuật: không áp đặt chân lí có sẵn mà tác động thông qua hình tượng, cảm xúc, tưởng tượng và trải nghiệm.
2.2. Bàn luận (2,5 điểm)
- Con người đến với nghệ thuật trước hết bởi nhu cầu thưởng thức, khám phá, đồng cảm và tưởng tượng. Sự hấp dẫn của ngôn từ, hình tượng, cốt truyện, giọng điệu, kết cấu và phong cách khiến người đọc tự nguyện tham dự vào thế giới nghệ thuật. Khi sự giáo dục diễn ra trong trạng thái tự do và hứng thú, tác động của nó thường tự nhiên, sâu sắc và bền vững hơn sự áp đặt từ bên ngoài.
- Trong nghệ thuật chân chính, giáo dục và giải trí không tồn tại như hai yếu tố lắp ghép. Chức năng giáo dục của văn học không thể hiện dưới hình thức của một bài học được gắn thêm vào tác phẩm sau phần kể chuyện mà nó được hóa thân vào hình tượng và hình thức nghệ thuật. Ngược lại, sức hấp dẫn của tác phẩm cũng không chỉ là phương tiện trang trí để chuyển tải một thông điệp đạo đức có sẵn. Tác phẩm tác động đến con người bằng toàn bộ cấu trúc thẩm mỹ của nó. Vì vậy, thưởng thức cũng là nhận thức; vui chơi cũng có thể là một hoạt động tinh thần nghiêm túc; khoái cảm thẩm mỹ có thể dẫn đến sự biến đổi trong cách con người nhìn mình và nhìn thế giới.
- Nghệ thuật không thể hoàn thành chức năng giáo dục nếu đánh mất tính thẩm mỹ. Một tác phẩm chỉ có chủ đích đạo đức đúng đắn nhưng hình tượng nghèo nàn, ngôn ngữ khô cứng, cách biểu đạt công thức thì khó có sức sống và sức cảm hóa.
2.3. Chứng minh (5,0 điểm)
Thí sinh chủ động lựa chọn tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề. Có thể triển khai theo tác giả, tác phẩm, thể loại hoặc những trải nghiệm đọc khác nhau. Dẫn chứng cần phân tích được cơ chế và ý nghĩa tác động của nghệ thuật:
- Tác phẩm hấp dẫn người đọc thông qua các phương tiện thẩm mỹ hấp dẫn:
+ Bằng một thế giới hình tượng giàu sức sống, từ đó mở ra nhận thức về con người và đời sống, giúp người đọc vượt khỏi những giới hạn của kinh nghiệm cá nhân, biết sống trong hoàn cảnh và số phận của người khác.
+ Vẻ đẹp của những sáng tạo hình thức khiến tư tưởng đạo đức của tác phẩm được cảm nhận chứ không chỉ được thông báo như một mệnh lệnh, một lời răn.
- Nghệ thuật tác động bằng sự đồng cảm: Sự đồng cảm với nhân vật bi kịch, nỗi đau và cái dữ dội trong văn học vẫn có thể đem lại khoái cảm thẩm mỹ, bởi chúng giúp con người nhận thức sâu hơn về tồn tại, thanh lọc cảm xúc hoặc đối diện với những vấn đề khó khăn của đời sống.
- Nghệ thuật tác động qua trải nghiệm của người đọc: Sau trải nghiệm đọc, con người có thể thay đổi cách nhìn đối với một số phận, một cộng đồng, một giá trị hoặc chính bản thân mình.
2.4. Phản biện – mở rộng (1,5 điểm)
- Thí sinh có thể lựa chọn một hoặc một số hướng sau để phản biện, đối thoại:
+ “Vui tươi” cần được hiểu theo nghĩa rộng. Nghệ thuật không phải lúc nào cũng vui vẻ; cái bi, cái đau, cái nghịch dị hay ám ảnh vẫn đem lại một dạng khoái cảm thẩm mỹ và có khả năng cảm hóa con người.
+ Không phải mọi sản phẩm hấp dẫn đều có giá trị giáo dục. Sự hấp dẫn chỉ có ý nghĩa tích cực khi gắn với giá trị thẩm mỹ, chiều sâu tư tưởng và khả năng làm phong phú đời sống tinh thần.
+ Không nên xem giáo dục là mục đích duy nhất của nghệ thuật. Nếu coi tác phẩm chỉ là công cụ chuyển tải bài học đạo đức, người đọc có thể giản lược tính đa nghĩa và quyền tự do của sáng tạo.
- Nêu bài học tiếp nhận và sáng tạo.
3. Yêu cầu về kĩ năng tạo lập văn bản, lập luận, diễn đạt (1,0 điểm)
- Diễn đạt trong sáng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ; dùng từ và đặt câu phù hợp.
- Có cách nhìn riêng, phát hiện hợp lí; biết tổ chức dẫn chứng và lập luận hiệu quả; văn viết có giọng điệu.
- Không cho điểm sáng tạo đối với những ý kiến khác lạ nhưng thiếu căn cứ hoặc phủ nhận nhận định một cách cực đoan.



Bình luận