Trên thế giới, quyền về sức khỏe của hàng triệu người đang ngày càng bị đe dọa. Xung đột đang tàn phá cuộc sống, gây ra tử vong, đau đớn, đói khát và căng thẳng về tinh thần.
Để giải quyết những thách thức này, chủ đề của Ngày Sức khỏe Thế giới 2024 là “Sức khỏe của tôi, quyền của tôi”.
Chủ đề năm nay được chọn để bảo vệ quyền của mọi người, ở mọi nơi được tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và thông tin, cũng như nước uống an toàn, không khí trong sạch, dinh dưỡng tốt, nhà ở chất lượng, điều kiện môi trường và làm việc tốt, tự do thoát khỏi phân biệt đối xử.

Khái niệm “sức khỏe” theo tổ chức y tế thế giới (WHO): là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật.
Như vậy mỗi người sử dụng quyền tự chủ, tự quyết định các vấn đề của cơ thể và sức khỏe bản thân như thể nào để “khỏe mạnh” thực sự, không chỉ đơn giản là không có bệnh; chúng ta hãy cùng khám phá những thông điệp về sức khỏe của người xưa, của văn hóa truyền thống phương Đông qua một vài chữ Hán sau:
Chữ BỆNH (病)
Nếu muốn hiểu được người xưa đối đãi với bệnh như thế nào, thì phải hiểu được hàm nghĩa cấu tạo của chữ bệnh「病」. Bởi vì không giống như chữ viết của phương Tây, hình dạng các chữ viết Thần truyền của Trung Quốc bản thân chúng đều mang theo lượng lớn tín tức.
Trong văn tự Trung Quốc, các chữ Hán có liên quan đến bệnh, gần như đều có bộ nạch「疒」. Chữ giáp cốt của bộ này ban đầu viết là [爿」(pán). Hàm nghĩa phần bên trái của nó là cái giường. Nét sổ bên phải là biểu tượng của một người, thể hiện người và chiếc giường đồng hành, ý nói con người nằm trên giường hoặc dựa trên giường. Từ này sau đó phát triển được thêm vào một nét ngang ở phần bên phải, ý chỉ nằm ở nửa trên của chiếc giường, cuối cùng trở thành thiên bàng Nạch「疒」trong chữ “Bệnh” [病] ngày nay: Sách “Thuyết văn” giải thích: “Ỷ dã, nhân hữu tật bệnh tượng ỷ trước chi hình”, tạm dịch là dựa vào, người mang bệnh có hình giống như đang dựa, dùng để biểu đạt trạng thái không khỏe mạnh của một người. Con người khi bị bệnh chính là có dáng vẻ như này, không khỏe sẽ tìm vật gì đó để dựa vào, hoặc là nằm xuống, vì vậy thiên bàng này mang hàm nghĩa của bệnh tật.

Những người hiểu rõ văn hóa truyền thống đều biết, Bính「丙」là một trong mười thiên can, nằm ở phương Nam, ngũ hành thuộc hỏa, mà trong ngũ tạng thì tâm (心) thuộc hỏa. Điều này thể hiện rõ người xưa từ rất sớm đã nhận thức được bệnh tật có liên quan rất lớn với tâm (心). Nhân tâm bại hoại, làm những việc không tốt, trong tâm tràn đầy điều ác, tư tưởng phụ diện đều có thể tạo ra nghiệp lực, từ đó sinh ra bệnh tật và tai nạn. Như vậy đối diện với bệnh tật, đặc biệt là ôn dịch, con người nên làm thế nào thì văn hóa Thần truyền Trung Hoa đã đưa ra đáp án, ngoài việc trị liệu bằng thuốc ra thì con người càng cần bắt đầu từ trong tâm: sám hối tội lỗi, quy chính nhân tâm.
Ví dụ:
- Các nhà khảo cổ khi giải nghĩa chữ giáp cốt, phát hiện có ghi chép rằng những người cổ đại thời nhà Thương khi đối diện với ôn dịch, vì để mọi người giải thoát khỏi dịch bệnh, người xưa đã tiến hành lễ tế long trọng, hướng về Thần linh mà sám hối. Thiên sư Đạo gia thời Đông Hán là Trương Đạo Lăng từng bảo người nhiễm ôn dịch hồi tưởng lại những việc sai lầm trong cuộc đời, dùng bút viết lại, sau đó thả xuống sông, đồng thời phát lời thề với Thần sẽ không lặp lại những tội lỗi và điều xấu đó nữa. Mọi người lần lượt làm theo cách này, quả nhiên dịch bệnh không còn nữa.
- Phương Tây cũng có các ví dụ tương tự. Năm 1633, Cái chết đen (tên gọi của đại dịch hạch) hoành hành, làng Oberammergau ở vùng Bavaria, nước Đức, cứ mỗi hai hộ dân đều có ít nhất một người chết, dân làng vô cùng lo lắng, sợ hãi. Linh mục khi đó đã dẫn đầu người dân quỳ xuống cung kính thỉnh cầu Thần linh. Nếu như Thần miễn cho họ tai họa dịch hạch sát thân, họ sẽ dùng hành động thực tế để cảm ân và tưởng nhớ Thần linh, cứ mỗi 10 năm sẽ diễn một lần vở kịch chúa Jesus chuộc tội cho loài người. Từ thời khắc mọi người phát ra lời thề, dịch hạch không còn lấy mạng dân làng nào nữa…
Chữ HẢO (好): khỏe, tốt, khỏe mạnh
Kết cấu trái phải, bên trái là chữ Nữ (女), bên phải là chữ Tử (子).

Từ hình dạng chữ mà xét, bên trái là chữ “nữ”, có thể đại biểu cho người nữ, cô gái. Chữ “tử” bên phải, thông thường có thể hiểu là người nam. Một nam một nữ kết hợp lại thành một gia đình, là điều trăm năm tốt đẹp. Nếu như chữ “nữ” bên trái tượng trưng cho phụ nữ, còn chữ “tử” bên phải có thể hiểu là một em bé, thì một người phụ nữ bế một đứa con cũng có thể xem là tốt, cũng có thể xem là một sự tốt đẹp. Một gia đình tốt đẹp là khi họ có cả con trai và con gái. Những đứa trẻ chính là hiện thân của sự trường tồn và hạnh phúc của gia đình.

Chữ “tử” có thể lý giải là người nam, cậu bé, đứa trẻ; cũng có thể hiểu là con cháu đời sau, có mối quan hệ kế thừa, kế thừa bài học của quá khứ và chỉ đạo cho những hành động trong tương lai (thừa tiền khải hậu).

Kết hợp lại, “hảo” chính là để biểu đạt vẻ ngoài xinh đẹp, nội tâm tu dưỡng tốt đẹp bên trong, dung hợp với thế giới bên ngoài; hơn nữa, còn có thể “thừa tiền khải hậu”.
Chữ “hảo” biểu đạt một tiêu chuẩn đo lường rất rộng, bao gồm bốn nhân tố chính: nhân tố bên ngoài, nhân tố bên trong, mối quan hệ với thế giới bên ngoài, và tính kế thừa, truyền lại cho đời sau.
Để có được sức khỏe tốt (hảo) thì sự cân bằng âm (nữ) - dương (tử) là trong ăn uống, sinh hoạt và vận động là cực kỳ quan trọng. Cơ thể cần được nuôi dưỡng từ các thực phẩm, chất dinh dưỡng lành mạnh, cân bằng, hài hòa âm dương, ngũ vị; không thể nuông chiều theo sở thích, thói quen, khẩu vị. Trong sinh hoạt cũng thế, cơ thể cần sự vận động, rèn luyện để khí huyết lưu thông, tăng cường sự trao đổi chất, cơ bắp được tôi luyện trở nên rắn chắc, khỏe mạnh, dẻo dai; nhưng đồng thời cơ thể cũng cần được nghỉ ngơi, an tịnh, hồi phục bằng ngủ, nghỉ, thiền định,.. Ngoài ra thì mối quan hệ với thế giới bên ngoài như nắng gió, cây cỏ, thiên nhiên, quan hệ xã hội,.. cũng rất cần thiết cho sự phát triển sức khỏe toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội.
Chữ THỌ (壽): sống lâu
Theo ‘Thuyết văn giải tự’: “Thọ, cửu dã”, nghĩa là: “Thọ chính là lâu dài vậy”. Thế nên khi nói con người thọ nghĩa là sinh mệnh được kéo dài, cũng gọi là trường thọ. Bí quyết để đạt được trường thọ nằm ở ngay cách viết chữ Thọ này.
Chiết tự chữ Thọ (壽) là: Sỹ Nhất Công Nhất Thốn Khẩu (士一工一寸口), nghĩa là kẻ sỹ (士) có trí tuệ, tri thức lý trí hiểu đạo lý quy luật tự nhiên, một mặt (一) làm việc (工), cống hiến cho nhân quần cho xã hội, một mặt (一) tu tốt cái miệng của mình (口), ăn uống, nói năng có chừng mực (寸), bởi vì “Bệnh theo miệng mà vào, họa theo miệng mà ra”.

Khổng Tử cũng nói: “Trí giả lạc, nhân giả thọ”, nghĩa là: người có trí tuệ thì vui vẻ, người có lòng nhân thì trường thọ. Sau khi Trương Tam Phong, ông tổ phái Võ Đang đắc Đạo thành Tiên, cả 2 hoàng đế nhà Minh là Chu Nguyên Chương và sau đó là Chu Đệ đều tìm ông cầu phép trường sinh nhưng không gặp, ông chỉ để lại bài thơ có 2 câu cuối như sau: “Dám đem lời mọn phiền Thánh đế, Thanh tâm quả dục phép trường sinh”. Thế nên với người thường, chỉ cần giảm bớt dục vọng, nhân ái bao dung với mọi người thì cũng đã có thể kéo dài tuổi thọ rồi. Còn để đạt tới mức ‘thọ cùng trời đất’ thì một người ắt phải tu luyện.
Chỉ với ba chữ có liên quan đến sức khỏe là BỆNH - HẢO - THỌ, hán tự Thần truyền đã khơi gợi, chỉ ra rất nhiều điều để mỗi người tìm ra phương thức để giải quyết những vấn đề sức khỏe của tự thân, cũng như hướng đến một trạng thái sức khỏe khỏe mạnh thật sự cho cả cơ thể, tinh thần lẫn xã hội như định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới WHO. Phép khỏe mạnh, trường thọ, trường sinh đôi khi chẳng ở đâu xa; có thể đã và đang được lưu giữ trong những giá trị truyền thống chân chính mà người xưa đã gìn giữ hàng ngàn năm qua, chỉ đang chờ chúng ta quay trở về khám phá và khai sáng lại tương lai.
Nguồn tham khảo:
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
- Chánh Kiến Net
- Chiết tự chữ Hán



Bình luận