Trong số hàng ngàn hàng vạn loại thực vật, duy chỉ có trà là có mối liên hệ với “Đạo” một cách thâm sâu khó lường, vậy nên mới gọi là “Trà Đạo”. Cũng giống như chữ Hán, trà có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng nó lại có sức ảnh hưởng ở khắp nơi trên thế giới. Là một thức uống thông thường, vì sao trà lại có ảnh hưởng lịch sử lớn như vậy, lại có thể nâng tầm vươn lên thành văn hóa, lại còn gắn liền với “Đạo” của tu luyện? Vì sao trà được đặt tên theo “Long” (Rồng), và “Quan Âm”? Lý do là vì “Trà” có chứa đựng nội hàm “Đạo Pháp” cao thâm trong đó.

“茶” (Trà) và “茬” (Trà)
Chữ “茶” (Trà) trong tiếng Hán được cấu thành từ bộ Thảo (艹), Nhân (人,) và Mộc (木) : Thảo ở đây đương nhiên là một loại cỏ dại không có tác dụng, “Mộc” (木) có nghĩa là thành tài, vậy thì thành tài thực sự của con người “人” chính là tu đạo, là chỉ người tu luyện, bởi vì mục đích hạ thế làm người chính là để tu luyện. Cũng chính là nói, chữ “茶” (Trà) trong tiếng Hán lấy ba bộ thủ tổ thành để ám chỉ ba loại người khác nhau: Loại người mà giống như cỏ dại thì cần phải bị đào thải; loại thứ hai là có thể lưu lại làm người; loại thứ ba chính là người tu đạo thành tài thực sự. Hiển nhiên, nội hàm của chữ “茶” (Trà) trong tiếng Hán ám chỉ ba loại người có vận mệnh khác nhau. Kỳ thực “Nữ nhi Trà” đã nói thẳng với thế nhân rằng “茶” (Trà) chính là thể hiện nội hàm của con người.

Ghi chép lịch sử về “Trà”

Phần lớn thông tin chúng ta có được về văn hóa trà thời sơ khai của Trung Quốc đến từ cuốn Trà Kinh (茶 经 Chájīng), được viết vào khoảng năm 760 CN bởi Lục Vũ (陆羽 Lù Yǔ) - người được mệnh danh là Trà Thánh.

「茶聖」陸羽 (字鴻漸,733年─804年)

Vào thời của Lục Vũ, lá trà được nén thành những viên gạch trà, đôi khi được dùng làm tiền tệ. Khi đến lúc uống, trà được nghiền thành bột và dùng máy đánh trứng trộn với nước để tạo thành một loại nước giải khát sủi bọt.Mặc dù loại trà bột này không còn phổ biến  ở Trung Quốc, nhưng nó đã được mang từ Trung Quốc sang Nhật Bản trong triều đại nhà Đường và tồn tại cho đến ngày nay trong trà xanh “matcha” Nhật Bản.

Học giả Lục Vũ trước khi viết bộ sách “Trà Kinh” đã viết bộ “Thuấn Phú” trong đó ghi chép đầy đủ cách trồng trọt, chăm bón, thu hái, trà cụ, cách pha, thưởng thức cũng như tác dụng của trà. Cho thấy lúc bấy giờ người ta đã chú trọng đến cách dùng nước, dụng cụ pha trà, có quy trình và kỹ thuật khi pha trà. Trà có thể điều chỉnh sự mệt mỏi về thể chất và tinh thần. Có thể thấy nghệ thuật thưởng trà về cơ bản đã được hình thành từ lúc này.

Mạnh Tử (372 -289 TCN), môn sinh của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử), cũng có nhận xét về trà trong sách “Cáo Tử – Thượng” 告子-上 như sau:
舍其梧檟,養其樲棘
Xá kỳ ngô giả, dưỡng kỳ nhi cức
(Tạm dịch) bỏ cây ngô đồng và trà để trồng cây nhị và cây gai
Như vậy là ở Sơn Đông thời Mạnh Tử, trà không được phổ thông như tình hình trồng trà ở phương Nam – để ý Mạnh Tử không dùng chữ đồ, trà mà dùng chữ giả.
Lão Tử (khoảng 600-517 TCN) từng xem trà là một thành phần tạo thành thuốc trường sinh bất tử, một loại ngọc thuỷ … Cho đến thời Hoa Đà 華佗, là vị lương y danh tiếng thời Đông Hán và được coi như là ông tổ của Đông Y, ông từng nhận xét rằng
《食論》“苦茶久食益意
“Thực Luận” khổ trà cửu thực ích ý tư
(Tạm dịch) ăn/uống trà lâu ngày sẽ sáng trí (thông minh)
Rõ ràng là trà đã từng phổ thông ở miền nam Trung Quốc theo lời KT. Ngoài ra, Lục Vũnăm trong Trà Kinh (760 SCN) cũng nói rõ là “… cây trà là loại cây lớn từ phương Nam – cao đến một, hai hay tới vài chục thước (xích 尺) …”

Trong <神農本草經 > ‘’Thần nông bản thảo kinh” từng ghi chép lại rằng:
“神農嘗百草,一日遇七毒,遇茶而解” tạm dịch là
” Thần Nông thường bách thảo, nhất nhật ngộ thất độc, ngộ trà nhi giải  ’’

“Thần nông nếm bách thảo, mỗi ngày nếm 72 loại độc, phải dùng Trà để giải độc”, đây dường như là nói rằng trà có thể giải được các loại độc. Nhưng trên thực tế, bản thân lá trà không có công hiệu như vậy, nó căn bản không phải là thảo dược của Trung Quốc, nó kém xa đậu xanh về mặt giải độc. Vậy vì sao lại trao cho nó nội hàm của “药” (Dược)? Trước triều đại nhà Đường “茶” (Trà) chỉ là “茶” (Trà), cư sĩ họ Hồ thời Tây Hán đã nói trong sách “Thực kỵ” (Những cấm kỵ trong ăn uống) rằng: “Trà đắng, uống lâu ngày sẽ vũ hóa”. Vì sao gọi là vũ hóa? Vũ hóa ý là chỉ tu Đạo thành Tiên. Hiển nhiên rằng, nội hàm căn bản của “茶” (Trà) chính là chỉ tu luyện. “Uống lâu ngày sẽ vũ hóa” cũng chính là chỉ sự tu luyện kiên trì bền bỉ, không giải đãi cuối cùng sẽ có thể viên mãn công thành, vũ hóa thành Tiên, thực tế chính là thoát khỏi tam giới, trở thành sinh mệnh cao cấp trong vũ trụ. Vì vậy nói “Trà giải 72 loại độc” đương nhiên là chỉ việc sử dụng Pháp lý của tu Đạo để chỉ dẫn con người trừ bỏ đi hết thảy những tư tưởng không tốt, trở nên thuần tịnh, trở thành sinh mệnh cao thượng. Đối với sinh mệnh rơi rớt vào tam giới, nghiệp lực đầy thân mà nói, hiển nhiên cũng chính là nói đến nội hàm chữa bệnh cứu người.
“道” (Đạo) là sự cao thâm khó dò, bởi vì Đạo chính là pháp lý của vũ trụ; mà sự thể hiện của “茶” (Trà) cũng không chỉ đơn giản như các loại đồ uống với nhiều khẩu vị, văn hóa Thần truyền thực quả là đã trao cho “Trà” (茶) nội hàm của nền văn minh “lần” (茬) này. Đó chính là trà đạo. Giống như bộ thủ “艹” (Thảo)、“人” (Nhân)、“木” (Mộc) của chữ “茶” (Trà) thể hiện ra , khi “lần” (茬) văn minh này cần phải đến hồi kết, là cỏ dại bị đào thải? Hay là được lưu lại làm con người tương lai? Hay là bước trên con đường tu luyện, xuất ra khỏi tam giới để trở thành sinh mệnh cao cấp trong vũ trụ? Điều này là tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người!

Số phận của con người là đã được sắp đặt sẵn. Nhưng, trên vấn đề then chốt nhất của sinh mệnh, đặc biệt là vào thời khắc lịch sử của sự thay đổi của nền văn minh này, việc bị đào thải hay được lưu lại của sinh mệnh đều phụ thuộc vào sự lựa chọn của bản thân. Ngay cả việc tin hay không tin, đều phụ thuộc vào sự lựa chọn của bản thân con người!

Khi dùng pháp lý của Pháp Luân Phật Pháp để lý giải nội hàm đằng sau của “茶” (Trà), chúng ta có thể lý giải được vì sao trà thánh Lục Vũ lại viết “Trà Kinh”, vì sao văn hóa trà của Trung Quốc lại có ảnh hưởng lớn đến vậy. Bởi vì lịch sử cần đặt định văn hóa “Trà Đạo” (茶道). Mà mục đích sự an bài này của văn hóa Thần truyền Trung Quốc, chính là để khải ngộ thế nhân, là vì để có thể cứu người vào thời mạt kiếp! 
Nguồn Chánh kiến org