Sài Gòn Xưa Trong Mắt Dân Đô Thành

Ngẫm Xưa Và Nay
4 Người theo dõi
85 Lượt xem video·4 thg 9, 2026
Sài Gòn xưa trong ký ức người dân đô thành không chỉ là những con đường hay tòa nhà quen thuộc, mà còn là nhịp sống hằng ngày của một thành phố từng rất sôi động.
https://www.youtube.com/watch?v=RWPGJeRJtrA
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIĐoạn phim tái hiện sinh động đời sống, văn hóa và con người Sài Gòn từ thập niên 1950 đến trước năm 1975. Qua các chi tiết về giao thông, thời trang, giáo dục và kiến trúc, video khắc họa một đô thành năng động, nơi giá trị truyền thống Nam Bộ hòa quyện cùng hơi thở hiện đại và ảnh hưởng quốc tế.
Comments are disabled for this video.
Năm 1965, Đài truyền hình Việt Nam ra đời ở số 9 đường Hồng Thập Tự, rồi đầu năm 1966 phát sóng buổi đầu tiên.
Giới Sài Gòn khi ấy, truyền hình còn là chuyện mới tin, lạ như cái máy biết kể chuyện bằng hình.
Từ địa chỉ này, mang ảnh nhỏ bắt đầu len vô sinh hoạt đô thành, mở ra một thói quen mới cho nhiều gia đình miền Nam.
Năm 1963, đoạn Nguyễn Bỉnh Khiêm trước cổng chính Sở Thú vẫn còn giữ được cái mát riêng của vườn Bách Thảo xưa.
Hàng cây cổ thụ phủ bóng xuống lề đường, che cho người đi làm, học trò, khách ghé Sở Thú qua lại mỗi ngày.
Giữa một Sài Gòn đang thêm xe, thêm phố, khúc đường này như một khoảng thở hiền lành, quen thuộc với dân đô thành.
Năm 1965, Đường Tự Do là địa chỉ quen của nhiều hãng buôn, văn phòng ngoại quốc và cửa hiệu sang trọng.
Nhưng cái đáng nhớ không chỉ nằm ở sự sầm út, mà còn ở thói quen đi bộ ngắm phố.
Chiều xuống, người ta ăn mặc tươm tức, men theo hàng hiên, ghé tiệm sách, tiệm may, quán nước, rồi lại thông thả tảng bộ.
Còn đường ấy thành một khoảng giao tiếp rất riêng của đời sống đô thành Sài Gòn.
Khoảng giữa thập niên 1960, gốc Đồng Khánh Ngo Quyền là nơi dễ gặp những chiếc xích lô đậu chợ khách ở chợ lớn.
Nghề này nuôi sống nhiều gia đình lao động, nhờ những cuốc xe quen từ tiệm buôn, nhà hàng tới các chợ lớn nhỏ quanh dùng.
Giới phố người qua, xích lô không chỉ chở người, mà còn chở theo nhịp làm ăn hàng ngày của cả một khu phố.
Thập niên 1960, đường Lê Lợi là nơi xe gắn máy chen dài cùng xe hơi, nhất là quanh các tiệm buôn lớn.
Gespa, Lambretta đậu thành hàng, báo một đổi thay rõ rệt, người Sài Gòn đã quen với cách đi lại nhanh, gọn và tự do hơn.
Đi làm, đi chợ, hẹn bạn, ghé rạp hát, chiếc xe hai bánh dần thành bạn đường thân thuộc của đời sống đô thành.
Năm 1961, những chiếc xe gắn máy nhỏ kiểu Sachs bắt đầu xuất hiện nhiều hơn trên đường phố Sài Gòn.
Chúng không sang như xe hơi, nhưng vừa túi tiền, gọn nhẹ và dễ len giữa phố đông.
Từ những chiếc xe hai bánh như vậy, cách đi lại của dân đô thành dần đổi khác.
Nhanh hơn, riêng hơn, tiện hơn cho đi làm, đi học, đi chợ hay ghé thăm bà con.
Năm 1971, đời buôn gánh bán bưng ở Sài Gòn nhiều khi ăn trưa ngay bên lề đường, cạnh rổ trái cây và chiếc xe gắn máy.
Một bữa cơm nhỏ vậy mà hiện rõ cái nết chịu thương của dân chợ.
Bán từ sớm, nắng tới đâu tính tới đó, no bụng rồi lại mời khách.
Phố xá đô thành nhờ những người đàn bà như vậy mà có hơi thở thiệt đời.
Tới thập niên 1950, đại lộ Nguyễn Huệ đã là một trong những nơi sang nhất Sài Gòn.
Những kiosk nhỏ chuyên bán đồ bạc, nữ trang và quà tặng.
Phục vụ với công chức, thương gia cùng khách dạo phố.
Cái đáng kể không chỉ là món hàng bay trong tủ kiến mà là một nếp tiêu dùng mới của đô thành.
Mua sắm, nhắm hàng, gặp gỡ ngoài phố cũng thành một phần đời sống thị dân.
Cuối thập niên 1960 sang đầu 1970, ở trung tâm Sài Gòn,
chuyện các cô gái trẻ ăn mặc theo mốt quốc tế rồi tự tin đi giữa phố đã thành hình ảnh quen thuộc.
Họ đi học, đi làm, ghé tiệm buông, quán nước, rạp hát, có mặt rõ hơn trong đời sống đô thành.
Tự dán đi ngoài phố ấy, thấy được một Sài Gòn đáng đổi khác,
nơi người phụ nữ trẻ bước ra rộng rãi hơn với xã hội.
Cần tết đinh mùi 1967, hoa từ các nhà dường quanh Sài Gòn được chở vào trung tâm đô thành bằng xe tải,
xe hơi cải dụng và đủ thức phương tiện.
Cúp, dạng thọ, bông giấy nối nhau về các tuyến phố lớn, làm nhịp buôn bán cuối năm thêm rộng ràng.
Giữa tiếng xe và tiếng rao, Sài Gòn bỏng khoát lên lớp áo xuân rực rỡ.
Chuyện đi ngắm hoa cũng thành một thú vui tết quen thuộc của dân thành phố.
Giữa thập niên 1960, áo dài trắng đã trở thành hình ảnh quen thuộc của nhiều nữ sinh Sài Gòn.
Điều đáng kể không chỉ là chuyện đồng phục, mà là số lượng con gái được đi học ngày một đông hơn trước.
Mỗi sáng, những tạ áo trắng xuất hiện trên đường đến trường, trong các buổi sinh hoạt thanh niên hay những hoạt động công cộng của đô thành.
Từ đó, người ta thấy một lớp phụ nữ trẻ đang lớn lên với nhiều cơ hội học hành và tham gia đời sống xã hội hơn các thế hệ trước.
Khoảng năm 1967, nhà thuốc Diệu Tâm nằm ở góc Lê Lợi, Công Lý, ngay trung tâm Sài Gòn.
Thời chưa có những chuỗi nhà thuốc lớn, các hiệu thuốc tư nhân là chủ dân đô thành ghé mua thuốc theo toa, hỏi cách dùng thuốc và tiện thể nghe đôi ba chuyện trong khu phố.
Một tiệm thuốc đứng được ở ngã tư lớn như vậy không chỉ nhờ vị trí đẹp, mà còn nhờ chữ tính gây dựng qua năm tháng.
Trước 1975, dân Sài Gòn hay gọi xe Mỹ thân dài là xe quê kỳ.
Mấy chiếc Mercury, Chrysler, Chevrolet hai màu trắng đỏ thường được chưng bong, chạy rước dâu trong đám cưới cuối tuần.
Nó không chỉ là phương tiện mà còn là cái thể diện của ngày cưới.
Nhà nào thuê được xe dài, bóng, máy nổ êm thì đám đó coi như coi được lắm.
Giữa phố nắng chan chan, chiếc xe qua chạy qua là ai cũng ngoái nhìn.
Khoảng giữa thập niên 1950, phụ nữ Sài Gòn đã sớm biết làm mới mình mà không đánh mất nét diệt.
Tà áo dài vẫn là dám quen của Đô Thành nhưng đi cùng tóc úm, son phấn nhẹ và lối đi đứng tự tinh hơn.
Cái hay không chỉ nằm ở bộ quần áo đẹp mà ở một lớp phụ nữ thị dân bắt đầu xem ăn mặt là cách nói lên gu riêng của mình.
Khoảng cuối thập niên 1960 đến đầu 1970, đường phố Sài Gòn là chỗ nhiều đời xe cùng chen dai.
Put gắn mái của áo, Yamaha Nhật Bản chạy bên cạnh xích lô, mỗi thứ giữ một phần mặt đường.
Thành phố đổi thay từng chút một, chứ không lột xác trong một sớm một chiều.
Cái mới đã tới nhưng cái cũ vẫn còn chủ sống trong nhiệm đi lại hàng ngày của dân Đô Thành.
Năm 1959, ở trung tâm Sài Gòn, lề đường không chỉ để đi bộ mà còn là một phần sinh quạt Đô Thành.
Người đi làm, người mua sắm, khách hẹn nhau bàn chuyện đều chọn những góc phố đông người qua lại.
Nhiều mối làm ăn, câu chuyện xá dao hay cuộc gặp bất chợt cũng bắt đầu ngay trên lề đường giữa nhiệm sống hối hả của một thành phố đang lớn rất nhanh.
Năm 1969, quanh công trường Lam Sơn và dãy thương xá Parkland, trung tâm Sài Gòn là chỗ giới trẻ lui tới mua sắm, xem hàng ngoại nhập, gặp bạn bè.
Áo dài vẫn hiện diện trên phố nhưng màu sắc, kiểu tóc và phụ kiện đã phản phất hơi hướng thời trang quốc tế.
Người Sài Gòn khi ấy giữ nếp cũ mà đón cái mới rất tự nhiên như chuyện vẫn diễn ra mỗi ngày.
Cuối thập niên 1960, ở nhiều góc phố trung tâm Sài Gòn như khu Nguyễn Trung Trực, Lê Thánh Tôn, hàng rong vẫn là một phần quen thuộc của đời sống Đô Thành.
Người bán thường chọn chỗ đông người qua lại để bán rau trái, bánh trái hay món ăn lập vặt.
Dân công sở, người đi chợ, khách qua đường chỉ cần tạt ngang là mua được đôi món cần dùng, gọn lẹ như nhịp phố mỗi ngày.
Năm 1961, khu công trường Mê Linh nằm sát bến sông, gần mạch buôn bán trung tâm Sài Gòn.
Khi ấy nhiều gia đình dẫn đi chợ bằng giỏ đan tre, thứ dật dụng quen thuộc trong mỗi nếp nhà.
Từ chợ về, người ta có thể đi xe đạp, xe hơi hay taxi, nhưng chiếc giỏ sách tay dẫn theo họ khắp nơi.
Nó cho thấy một Đô Thành đã hiện đại hơn mà sinh hoạt hằng ngày vẫn còn đậm chất nam bộ.
Năm 1962, đường tự do đã nổi tiếng với nhiều cửa hiệu mây mặt và thời trang sang trọng.
Giới tầng lớp trung lưu, khá giả Sài Gòn, đặt mây một bộ quần áo hay chọn chiếc áo dài đẹp không chỉ là chuyện ăn mặt,
mà còn là cách cho thấy gu thẩm mỹ của người Đô Thành.
Bởi vậy, tự do dần trở thành một trong những con đường tiêu biểu cho phong cách ăn mặt của Sài Gòn trước 1975.
Năm 1962, quanh khu trường Colette ở ngã ba Nguyễn Thông, Hồ Xuân Hương, xích lô đạp vẫn là phương tiện quen thuộc để đưa đón học sinh.
Nhiều gia đình chưa có xe riêng, nên mỗi sáng người chạy xích lô chở một nhóm nhỏ học trò tới lớp, chiều lại đón về.
Công việc tưởng đơn giản đó đã nuôi sống không ít người lao động và trở thành một phần quen thuộc trong dịp sống học đường Sài Gòn thời bấy giờ.
Năm 1964, Thảo Cầm Viên không chỉ là nơi xem thú, mà còn là chỗ nhiều gia đình Sài Gòn đưa con cháu đi chơi cuối tuần.
Trẻ nhỏ háo hức với nón giấy, ly nước ngọt và những dòng dạo dưới bóng cây cổ thụ.
Một buổi đi Thảo Cầm Viên khi ấy giảng dị vậy thôi mà dưới nhiều người, nó thành kỷ niệm tuổi nhỏ nhớ hoài không dứt.
Năm 1965, khi máy cassette, car stereo và băng tám trắc bắt đầu len vào đời sống đô thị, những kiosk thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Quệ phục vụ nhu cầu nghe nhạc theo ý thích riêng.
Người ta có thể chọn bài nhờ sang băng rồi đem về nghe ở nhà hay trên xe hơi.
Một dịch vụ nhỏ bên lề phố nhưng cho thấy âm nhạc Sài Gòn lúc ấy đã bước qua thời chỉ chờ nghe trên đại phát thanh.
Trong những năm 1960, vélo Solex được không ít công chức, học sinh lớn tuổi và người làm giang phòng ở Sài Gòn sử dụng.
Nó nằm lưng chừng giữa xe đạp và xe gắn máy, cần thì đạp, cần thì nổ máy.
Ít hao săn, dễ xoay trở, vélo Solex hợp với những người đi lại hằng ngày nhưng chưa cần tới một chiếc xe máy mạnh hay xe hơi đắt tiền.
Năm 1959, xe thổ mộ vẫn chưa biến mất khỏi trung tâm Sài Gòn.
Dọc bến Trương Dương, loại xe ngựa này còn được dùng để chở người và hàng quá quảng ngắn từ bến Tàu vào các khu phố lân cận.
Nó là dấu vết của một thời đi lại cũ khi tiếng gió ngựa vẫn còn chen giữa tiếng máy xe trong một đô thành đang đổi thay từng ngày.
Năm 1967, những con hẻm như ở Khống Bốn, Phường Bùi Diện không chỉ là lối đi mà còn là nơi gắn kết cả xóm.
Tình cưới hỏi, tàn lễ, tìm người hay thông báo sinh hoạt thường được dán ngay đầu hẻm để ai qua lại cũng thấy.
Dách tường nhỏ, dậy mà thành bản tinh chung, giữ cho cư dân trong hẻm biết chuyện của nhau mỗi ngày.
Có một thời, muốn hớt tóc đâu cần vô tiệm, chỉ cần cái ghế gỗ, tấm gương nhỏ treo tường, cây tông đơ và vài món đồ nghề là người thợ đã có thể làm ăn ngay bên lề đường.
Những chỗ hớt tóc như vậy phục vụ đủ hạng người, từ học trò tới dân lao động.
Giá rẻ, nhanh gọn, lại quen mặt quen tay nên nhiều khách cứ ghé một chỗ suốt mấy năm liền.
Đại lộ lê lợi trước 1975, không chỉ nổi tiếng với cửa hiệu và thương xá, mà còn là nơi người ai gòn tìm mua sách.
Nhà sách Khai Trí trên tuyến đường này từng là địa chỉ quen của học sinh, sinh viên, giáo chức và giới dân phòng.
Từ sách giáo khoa, dân học tới ngoại ngữ, nghiên cứu, Khai Trí góp phần làm nên một đời sống đọc sách sôi nổi giữa Đô Thành miền Nam.
Khoảng năm 1970-1972, ở góc Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Hoàng, chợ lớn,
những sạp trái cây lề đường chen giữa tiệm may, nhà thuốc và cửa hiệu người Hoa là cảnh rất quen.
Cái nếp buôn bán ở đây không chỉ nằm trong chợ mà tràn ra từng góc phố.
Nhiều gia đình sống nhờ những sạp hàng nhỏ như vậy góp lại thành nhiệm mua bán rộn ràng suốt ngày.
Từ giữa thập niên 1950, Đền thờ Quốc tổ Hùng Dương trong Sở Thú không chỉ là nơi tham quan mà còn là địa điểm tổ chức lễ vỗ tổ hàng năm ở Sài Gòn.
Giữa Đô Thành ngày càng đông đúc, ngôi đền dưới bóng cây cổ thụ giữ lại một khoảng lặng để người ta nhớ dạy nguồn cội.
Giới nhiều học trò, những lần được đưa tới đây trong dịp lễ cũng là một cách học sử rất gần gũi.
Trước năm 1962, dinh độc lập vẫn còn mang chán giáp dinh nô rô đông thời Pháp.
Giới mặt tiền dài, nhiều dòm cửa và hàng rào sắt nhìn ra đường thống nhất.
Từ sau 1954, nơi này trở thành phủ tổng thống của Chánh quyền Việt Nam Cộng hòa.
Bên ngoài, xe đạp, xích lô, xe máy dẫn qua lại bình thường, nhưng sau cánh cổng ấy là trung tâm quyền lực của Sài Gòn thời đệ nhất Cộng hòa.
Năm 1969, khu Lê Lai sát chợ Sài Gòn là một nút giao đông nghẹt của Đô Thành.
Xe buýt, xe hơi, xích lô, Honda và người đi bộ trộn vô nhau quanh bùng binh, nhưng vẫn có trật tự riêng.
Từ chợ bước ra là gặp hàng quán, tiệm buôn, bến xe nên khúc này lúc nào cũng chạy rần rần như cái miệng chợ của trung tâm Sài Gòn.
Năm 1962, đường Võ Di Nguy là một trong những trục buôn bán sầm út của khu Phú Nhuận.
Dãy bản hiệu mây mặt, nhà thuốc, tiệm buôn nối nhau cho thấy đây không phải con đường để người ta chỉ đi ngang.
Xích lô khi ấy sống khỏe nhờ những quãng ngắn giữa chợ, tiệm và nhà dân.
Nhiều người chạy xích lô thuộc lòng từng khách quen, thành một phần của nhịp sống phố phường.
Đầu thập niên 60, trường Trung học Tư thuộc Công Lý trên đường Công Lý là một trong nhiều trường tư thuộc của Sài Gòn.
Khi dân số đô thành tăng nhanh, trường công không đủ chỗ cho hết học sinh nên trường tư giữ giai trò quan trọng trong nền giáo dục miền Nam.
Không ít học sinh Sài Gòn thời đó đã đi học, thi cử và trưởng thành từ những mái trường tư như vậy.
Khoảng cuối thập niên 60, khu Mã Lạng vẫn là một phần rất riêng của Sài Gòn.
Dúng là dùng nghĩa địa cũ nằm giữa khu dân cư Đông Đúc.
Nơi đây có nhiều gia đình lao động sống trong những con hẻm chằn chịch.
Trẻ con lớn lên giữa mồ mã, lấy khoảng đất quanh các ngôi mộ làm chủ chơi hằng ngày.
Giới cư dân Mã Lạng, chuyện đó không lạ mà là nếp sống quen của một xóm nghèo đô thành.
Ngã tư Duy Tân – Hồng Thạp Tự trước 1975 thuộc khu trung tâm yên tĩnh của Sài Gòn,
nơi có nhiều biệt thự, cơ sở ngoại giao và cơ quan quan trọng.
Những con đường rợp bóng cây được quyên hoạch từ thời Pháp,
tạo cho khu này một vẻ thanh nhã khác với các phố buôn bán ồn ào.
Sự hiện diện của lực lượng an ninh cho thấy đây là một gốc đô thành vừa sang vừa mang gián dắp hành chính rõ rệt.
Và đó là một vài câu chuyện nhỏ của Sài Gòn năm xưa.
Cảm ơn bà con đã theo dõi tới cuối video.
Hẹn gặp lại trong những bức ảnh và câu chuyện lịch sử kế tiếp.
