Kinh Dịch mới có câu nói bất hủ: "Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương" (Nhà tích thiện ắt có phúc thừa; nhà tích ác ắt có tai ương thừa). Một gia tộc biết vun trồng mầm thiện thì ân trạch muôn đời sẽ tỏa bóng mát cho con cháu; ngược lại, kẻ gieo rắc điều bất lương thì tai họa sớm muộn cũng giăng lối đời sau. Về sau, người đời thường mượn cụm từ "Lục đạo luân hồi" như một thành ngữ nhắc nhở nhau rằng: Được mang thân người là một duyên lành cực kỳ hiếm hoi, hãy biết trân trọng và không ngừng tu dưỡng bản thân. Đó chính là hàm nghĩa sâu xa cùng điển cố hấp dẫn đằng sau cụm từ "Lục đạo luân hồi".
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Bài viết giải thích khái niệm \"Lục đạo luân hồi\" thông qua câu chuyện về Đường Thái Tông trong tác phẩm Tây Du Ký và giáo lý Phật giáo. Nội dung nhấn mạnh quy luật nhân quả: hành động và ý niệm ở hiện tại sẽ quyết định cảnh giới tái sinh trong tương lai, từ đó khuyến khích con người tích thiện, tu dưỡng bản thân để đạt được an lạc.
Lục đạo luân hồi là gì? Tại sao con người luân hồi theo lục đạo?
Rất vui được gặp lại quý khán thính giả. Hôm nay, Trân Hiếu rất hân hạnh được chia sẻ
cùng các bạn một cụm từ thanh ngữ đậm chất chết lý Phật giáo, từng xuất hiện vô cùng
ấn tượng trong tác phẩm kinh điển Tây Dũ Ký, đó chính là Lục đạo luân hồi.
Hãy cùng ngắm radio dừng chật đôi phút, lắng lòng và chiếm niệm về ý nghĩa sâu
Thanh ngữ này xuất hiện ở ngay hồi thứ 11 của kiệt tác Tây Dũ Ký.
Mọi chuyện bắt đầu từ biến cố nguy trưng, mộng chảm kinh hà Long Vương.
Oán khí ngút trời. Ngay đêm hôm ấy, quỷ hồn Long Vương đã hiện về đòi mạng đường Thái Tông,
khiến Bậc Minh quân lâm bệnh nặng chỉ sau một đêm. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc,
hai vị đại tướng Tần Thúc Bảo và Quốc Chỉ Cung lập tức triệu tập trừ thần,
Phụ Chiếu cấp tóc vào cùng kiến giá. Sau khi nghe Hoàng đế rãi bể ngọn ngành,
Tần Thúc Bảo lập tức tấu xin cùng Quốc Chỉ Cung, Quác Giáp Trụ,
đứng gác ngay trước đại môn tẩm cung để chấn áp tả mà. Đêm ấy quả nhiên, bình yên vô sự,
nhưng bệnh tỉnh của Thái Tông lại ngay một trầm trọng. Sinh khí kiệt cùng, ngàn cân treo sợi tóc.
Thấy tình hình vô phường cứu chữa, Thái Hậu truyền chỉ cấp báo triệu tập trư đại thần
thương nghị chuyện hậu sự. Trong cơn mê mội, Thái Tông gượng sức triệu kiến út Chỉ Cung,
nghẹn ngào phó thác đại sự quốc gia, gửi cám Thái tử cho vị lão tướng. Cảnh tượng đau đớn,
chẳng khác nào lưu bị thác cô nơi thành bạch đế nằm xưa. Giận giò song xuôi,
ngài nhắm mắt, lặng lẽ cùng chư công đón chờ phút giày bệnh biệt. Đúng lúc sinh tử cận kề,
Ngụy Trừng bước lên tố rằng, mình có một diệu kế giúp Hoàng đế hồi sinh. Nói rồi,
ông răng lên một bức mật thư, dặn Thái Tông khi xuống âm tàu địa phủ, hãy trao tặng tay cho phán
quàn phòng đô Thôi Chác, vốn là cựu thần giữ chứng Thái tượng Hoàng, Lý Nguyên. Thôi Chác khi còn
sống là huynh đệ kiết nguyễn kim bằng với Ngụy Trừng. Sau khi tạ thế thì giữ chức phán quàn nắm
sổ sinh tử, thường xuyên hiển mộng gặp lại bạn cũ. Ngụy Trưng khẳng định Thôi Chác nhất định sẽ nợ
chút tình xưa mà nương tay, giúp ngài trở lại dường thế. Thái Tông đón lấy bức thư, cẩn thận
giấu vào tay áo, rồi chút hơi thở cuối cùng. Trong phút chốc, anh Linh Ngài phiêu diều vô định,
lạc đến một vùng hoang mạc tịch liêu. Nhìn ra xa, chỉ thấy một vị quan chức đầu trần khổng đội
mũ đang sụp quỳ bên mệ đường, miệng hồ lớn. Bệ hạ thứ tội! Người đó không ai khác chính là phán
quàn Thôi Chác, kẻ vừa nhận chỉ tư điện thứ nhất của tầng Quảng Vương. Tức tóc đến nganh đón và mời
Linh hồn Thái Tông về nơi ba tàu để đối án. Thái Tông vội rút bức thư trong tay áo,
giao cho Thôi Chác, mở thư ra xem, nhận thấy lời thình cầu khẩn thiết của chỉ kỷ Ngụy Trưng. Thôi Chác
vui vẻ nhận lời, hứa sẽ bằng mọi giá giúp Hoàng đế tái sinh. Sắp xếp xong xuôi, Thôi Chác dẫn
đường cho Thái Tông bước qua cánh cổng uy nghiêm của địa phủ, nơi nổi bật bảy chữ giác vàng lấp lánh.
Ú minh địa phủ, quỷ môn quan. Nào ngờ vừa đặt chân vào nội thành, Thái Tông bảng hoàng nhận ra Phụ
Hoàng Lý Uyên cùng hai người anh em Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đang vất vườn ở đó, vừa nhấp nháy
bóng dáng ngài. Kiến Thành cùng Nguyên Cát liền hừng hợp sát khí lao vào đòi nỡ máu, nhưng lập tức bị
phán quan cung gian quỷ sứ quát tháo dáng đòn siêu đuổi. Vượt qua hỗn cảnh, họ tiến sâu hơn và dừng
chân trước một tòa điện ngói sành nguy Nga. Đó chính là điện Sầm La, nơi ngự trị của các vị
Diêm Vương. Tại đây, Tân Quảng Vương tra cứu sổ sinh tử thì giật mình phát hiện dương thọ của đường Thái Tông
thực chất vẫn còn hai mươi năm. Ngay lập tức, Diêm Vương hạ lệnh cho Thổ Chác, hộ tiễn linh hồn Thái Tông
trở lại Cõi Trần. Trên đường Hoàn Dương, hội phán quan đưa ngài vừa đi thăm quan địa phủ, vừa thông
rong tiến về phía chuyển luân tạng để chuẩn bị lên Trần Gian. Nơi đầu tiên họ dừng chân là núi
ù minh âm sơn. Nhìn từ xa, ngọn núi chìm trong xương đen mù mịt, gió âm dền siết vi vút. Đây đây núi
không một ngọn cỏ, gò không một bóng người, đeo dốc hiểm trở, hàng động tầm tối, dòng khe cạn kiệt
chẳng chút sinh khí. Trên bờ toàn là vô số vong hồn cu quạnh, dưới đeo chất đống xương trắng, trong động
nhốt toàn quỷ hoang, dưới khe ẩn nấp vô số tà hồn. Cảnh tượng ma mị, giận người ấy, khiến Thái Tông
nhìn mà run dậy, lạnh sống lưng. Bước qua khỏi âm sơn, hai người tiếp tục đi qua hàng loạt nhà môn.
Nơi nào cũng vang vọng tiếng gào khóc thàn xé lòng, cùng vô số quỷ quái giữ tận. Thôi phán quản
ôn tồn giải thích đây chính là 18 tầng địa ngục phía sau âm sơn, rồi tỉ mỉ tường thuật lại từng
hình phạt khốc liệt, đau đớn đến cực hạt. Bậc minh quân dương dàn nghe xong mà lòng bàng hoàng,
khiếp sợ khôn củng, rời khỏi trốn trừng phạt, hai người lần lượt bước qua cầu vàng, cầu bạc,
qua cầu Nại Hà, rồi tiến tới Đài Mọng Hương, nơi quý tụ muôn vàn bóng hồn đang mon mỏi
chờ đợi cơ hội siêu linh. Cuối cùng, thôi phán quản dẫn Thái Tông đến trốn lục đạo Luân Hồi,
nơi nắm giữ vận mệnh đầu thai truyền kiếp của toàn bộ chúng sinh. Tại đây, cảnh tượng hiện ra thật
vô cùng muôn màu muôn vẻ. Có những kẻ nằm trên kiệu dước sang trọng, khoác lên mình gấm vóc lụa là,
có kẻ hượng trọn phúc lọc tiền ra, ngang lưng đeo đai vàng, tượng trưng cho quyền quỳ cao quý.
Lại có cả những vị tăng nhân, ní cô, đạo sĩ, dân đen, cùng đủ loài chim bay thú chạy,
cho đến cả yêu mà quỷ quái. Hết thầy đều như dòng nước cuộn trôi,
ôn hôn kéo về trốn Luân Hồi để bước vào con đường tương ứng với nghiệp duyên của mình.
Thái Tông chứng kiến cảnh tượng huyền diệu ấy thì lấy làm kinh ngạc,
liên lên tiếng hỏi phán quan về ý nghĩa đằng sau, phán quan ôn tổn thưa.
Bệ hạ này đã ngộ ra chân lý nhân sinh, thấy rõ bản chất cốt lõi của sinh mệnh.
Xin hãy ghi nhớ kỹ những gì tận mắt chứng kiến, ngay trở về dương gian.
Mong bệ hạ đem những đạo lý này truyền dạy cho nhân gian.
Đây chính là nhân quả Luân Hồi, kẻ cả đời tích thiện, khi thác đi sẽ được thang hoa lên tiên đạo.
Kẻ trung thành chính trực, tận trung tận nghĩa sẽ truyền sinh vào chốn tôn quý.
Kẻ hiếu kính cha mẹ, chọn đạo làm con sẽ đầu thai vào nơi hưởng phúc.
Kẻ công bằng thẳng thắn sẽ tiếp tục làm người.
Kẻ tích tụ công đức, rộng lòng, làm việc tốt sẽ sinh vào nhà giả thế phú quý.
Ngược lại, những kẻ lòng dạng độc ác, làm nhiều điều bất thiện thì sa vào quỷ đạo,
chịu muôn vàn đoạ đầy khốn khổ.
Cụng từ Lục Đạo Luân Hồi nổi tiếng cũng chính từ khung cảnh này mà ra.
Về bản chất, đây là một thuật ngữ vật giáo kinh điển có nguồn gốc từ tiếng Phạn Ấn Độ cổ đại,
đóng vai trò là khái niệm cốt lõi giải thích vòng xoay truyền sinh của mọi sinh mệnh.
Cụng từ này được ghép lại từ hai khái niệm độc lập,
Lục Đạo, Sáu Nẻo Đường Đầu Thai Truyền Sinh, Luân Hồi, Vòng Xoay Trôi Lăn, Nối Tiếp Không Ngừng Trong Sinh Tử.
Trong giáo lý phân giáo, Sáu Nẻo Đầu Thai này được chia làm hai nhóm rõ rệt là ba đường lành,
Tam Thiện Đạo và ba đường ác, Tam Ác Đạo.
Ba đường lành, Tam Thiện Đạo, nơi sinh vào nhờ tích tụ nghiệp thiện, gồm
1. Cõi Trời, Thiên Đạo
Thiên Đạo, cảnh giới của những chúng sinh tích tụ phúc báu cực lớn.
Cuộc sống nơi đây ngập tràn niềm vui, tuổi thọ thọ đến vô cùng,
nhưng cũng chính vì quá đắm chìm trong hưởng lạc nên rất khó phát tầm tu hành.
Một khi phúc báu cạn kiệt, họ vẫn phải đối mặt với nguy cờ đoạ lạc.
2. Cõi Người, Nhân Đạo
Năm mà thế đàn sen, giữa vui và khổ, tùy phải gánh chịu những nỗi đau đớn,
sinh lão bệnh tử, nhưng Cõi Người lại là môi trường dễ thức tình rạc ngộ nhất.
Nơi đây được xem là cơ duyên thủ thắng nhất để tụ tập.
3. Cõi Atula
Chúng sinh sở hữu phúc báu gần như cõi trời, nhưng đức hạnh lại chưa trọn vẹn.
Do mang trong mình lòng đấu kỵ nặng nề cùng tinh khí hung hăng,
họ luôn chìm trong những cuộc tranh giành và chiến đấu gây gắt.
3 đường ác, 8 ác đạo, nơi xa vào do tích tụ nghiệp ác.
1. Cõi Xuất sinh, Xuất sinh đạo
Bao gồm muôn loài động vật trên thế gian, sinh mệnh nơi đây hoàn toàn bị chi phối bởi bản năng,
gánh chịu nỗi khổ của sự ngô si, luật ca lớn, nuốt ca bé và kiếp sống bị nô dịch.
2. Cõi Ngã Quỷ
Ngã quỷ đạo, đọa vào do lòng tham lam, ích kỳ cực độ khi còn sống.
Chúng sinh ngã quỷ phải chịu đựng cơn đối khác thiêu đốt suốt thời gian dài,
bụng to như cây trống nhưng của họ lại nhỏ như kim, hoàn toàn không thể nuốt nổi thức ăn.
3. Cõi Địa Ngục, Địa Ngục đạo
Cảnh giới tột cùng của đau khổ với thời gian thụ phạt đẳng đẳng.
Tuy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của tội nghiệp, chúng sinh phải chịu đủ mọi hình phạt trả tấn tàn khốc,
từ băng giá bút giá cho đến chào lửa hờn hực.
Thế nhưng, điều làm nên sự thú vị đặc biệt chính là lục đạo luân hồi được phát họa trong Tây Dù Khí
lại có những điểm khác biệt đầy bất ngờ so với lý thuyết Phật giáo truyền thống.
Trong Phật giáo truyền thống, lục đạo bao gồm Thiên Đạo, Nhân Đạo, Á Tú La Đạo,
Xúc Sinh Đạo, Ngã Quỳ Đạo và Địa Ngục Đạo.
Tuy nhiên, dưới ngòi bút sáng tạo của tác giả Tây Dù Khí,
khái niệm này đã được lồng ghép vô cùng khéo léo với tư tưởng
Tam Giáo Đồng Nguyên, Nho, Thích, Đạo của văn hóa Trung Hoa,
tư tưởng đạo gia, người hành thiện tích đức có thể truyền sinh vào tu hành đạo,
hoàn toàn tương thích với con đường tu luyện, tầm đạo cầu tiên.
Tư tưởng nhò ra, kẻ tận trung, tận hiếu được bước vào phúc đạo,
tôn vinh trọn vẹn đạo lý, trùng hiếu, cốt lõi, quan niệm dân gian.
Người sống công bằng, rộng lòng làm việc thiện sẽ bước vào phú đạo,
phản ánh niềm tin, thưởng phạt phần minh của thế thái nhân tình.
Tư tưởng Phật giáo, kẻ lòng dạ độc ác, gian tà sẽ lập tức ra vào quỷ đạo,
giữ trọn tinh thần nhân quả, luân hồi khắt khe.
Thế nhưng, dù dựa trên lý niệm huyên bản của Phật giáo,
hay sự rào thòa độc đáo giữa nhò thích đạo, tròng tây sủ ký,
thông điệp cốt lõi nhất vẫn không hề thay đổi.
Mỗi một ý niệm, mỗi một hành động của chúng ta ở hiện tại,
chính là chiếc chìa khóa quyết định trốn đi về của sinh mệnh trong tương lai.
Chính vì vậy, Kinh dịch mới có câu nói bất hủ, tích thiện chi ra, tất hữu dư khánh,
tích bất thiện chi ra, tất hữu dư ương.
Nhà tích thiện, át có phúc thừa. Nhà tích ác, át có tài ương thừa.
Một gia tộc biết vun trồng màm thiện, thì ân trạch muôn đời sẽ tỏa bóng mát cho con cháu.
Ngược lại, kẻ râu rắc điều bất lương, thì tai họa sớm muộn cũng răng lối đời sau.
Về sau, người đời thường mượn cụm từ, lục đạo luân hồi như một thành ngữ nhắc nhở nhau rằng,
được mang thân người là một duyên lành cực kỳ hiếm hoi.
Hãy biết trân trọng và không ngừng tù dưỡng bản thân.
Đó chính là hàm nghĩa sâu xa, cùng điền cố hấp dẫn đằng sau cụm từ, lục đạo luân hồi.
Đến đây, thời lượng dành cho chương trình Bạn Đàm Văn Hóa Truyền Thống của Ngẫm Radio hôm nay
cũng xin được khép lại. Trân Hiếu xin cảm ơn quý khán tin giả đã dành thời gian lắng nghe và đồng hành.
Xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại các bạn trong những chủ đề tiếp theo.