Sài Gòn những năm 60 - 70 không chỉ là một hòn ngọc viễn đông hoa lệ, mà còn là nơi chứa đựng cái tình, cái nếp sống dung dị, chân thành của những con người tứ xứ tụ về. Từ góc Thương xá TAX nhộn nhịp mùa Giáng Sinh, gánh hàng rong nuôi lớn bao đứa trẻ, đến góc ngã tư xe lam hay nụ cười của anh xích lô... Tất cả làm nên một Sài Gòn rất riêng, không thể phai mờ. https://www.youtube.com/watch?v=Ljcsztq0i4M
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Một cái nhìn hoài niệm về Sài Gòn giai đoạn 1965-1970, khắc họa một thành phố năng động, đầy tình người và đang chuyển mình mạnh mẽ. Từ những gánh quà rong, tiệm ảnh thủ công đến các công trình kiến trúc hiện đại, đoạn trích tái hiện nhịp sống đô thị sôi động, sự linh hoạt trong kinh tế vỉa hè và những dấu ấn giao thông đặc trưng của một thời kỳ lịch sử.
Comments are disabled for this video.
Năm 1967, đi ngang mấy con đường lớn ở Sài Gòn, người ta dễ bắt gặp những tiệm chụp hình đông khách từ sáng tới chiều.
Không phải chỉ vì ai cũng muốn có một tấm hình kỷ niệm, mà bởi giấy tờ trong đời sống hằng ngày càng lúc càng cần tới ảnh.
Xin việc làm, làm căn cứ, hộ chiếu, bằng lái xe, giấy thông hành, hồ sơ du học hay xuất ngoại, chuyện nào cũng phải có ảnh đúng cỡ, chụp đàng hoàng.
Bởi vậy, tiệm chụp hình hồi đó không còn là chỗ chỉ dành cho ngày cưới hỏi hay lễ lạc nữa, nó trở thành một phần quen thuộc của nếp sóng đô thị.
Có người ghé buổi sáng để chụp, ngồi uống ly cà phê đâu đó chừng một giờ rồi quay lại lấy hình.
Những tiệm làm ăn khá còn nhận rửa phim màu, phóng lớn ảnh, sao chụp giấy tờ và đánh mấy hồ sơ ngay tại chỗ, thành ra khách vô một lần là xong đủ thứ diệt.
Điều đáng nói là nghề chụp hình ở Sài Gòn lúc ấy tiến rất mau.
Máy ảnh, phim ngoại quốc, giấy ảnh, hóa chất đều có đủ.
Thợ chụp cũng quen tay, biết sửa ánh sáng vàng người, retouch bằng cọ nhỏ cho gương mặt coi sáng sủa mà vẫn tự nhiên.
Nhiều gia đình có lệ mỗi năm dẫn con cái đi chụp một tấm hình chung, cất vô anh bùng.
Mai sau nhìn lại, chỉ cần lật từng trang là thấy con nít lớn lên từng tuổi, tóc da bạc dần, má có thêm dài nếp nhăn.
Anh bùng ảnh như vậy trở thành cuốn da phả bằng hình, lặn lẻ mà bền hơn nhiều thứ giấy tờ khác.
Cuối năm 1968, nhắc tới Giáng sinh ở Sài Gòn thì không ít người nhớ ngay khu thương xá tác.
Chỗ này không chỉ là nơi đi mua sắm mà còn là chỗ người ta tới để hưởng cái không khí lễ cuối năm.
Có người chẳng mua món gì hết, cũng đạp xe hay chạy chiếc Honda dòng qua một bận.
Đứng trước mấy tủ kiến, coi cách các cửa hàng bày biện, rồi ghé uống ly cà phê, ăn cây kem hoặc hẹn bạn bè đi dạo.
Điều làm cho thương xá tác khác với nhiều nơi là mỗi mùa Noel, các cửa hiệu đều ráng trang hoàng theo cách riêng.
Tiệm bán giải thì kết dây kim tuyến, tiệm nữ trang thì chưng đèn màu cho ánh vàng trong tủ kiến thêm lấp lánh.
Tiệm bán đồ ngoại quốc lại bài những món hàng mới vừa cặp bến.
Từ radio, đồng hồ cho tới nước qua khiến người đi ngang cũng phải đứng lại ngó một hồi.
Bởi vậy từ xế chiều trở đi, đoạn đường Nguyễn Huệ trước thương xá tác lúc nào cũng đông nghẹt.
Người tới mua sắm thì ít mà người tới dạo chơi thì nhiều.
Gia đình dắt con nhỏ đi coi đèn, mấy cặp thanh niên nam nữ lựa dịp lễ mặc đồ đẹp xuống phố.
Ai cũng muốn có mặt ở đây một chút, như để biết Sài Gòn đã thực sự vào mùa Giáng sinh.
Thành thử, đối với nhiều người Sài Gòn, Giáng sinh không bắt đầu bằng tiếng chu nhà thờ mà bắt đầu từ cái nhịp rộn ràng trước thương xá tắc.
Chỉ cần bước tới khu này, nghe tiếng xe cộ chen nhau, tiếng người gọi nhau, nhìn ánh đèn từ các cửa hiệu hắt xuống lệ đường là đã thấy không khí lễ tràn ngập khắp phố rồi.
Năm 1969, chỉ cần đứng ở một góc chợ Sài Gòn từ sáng sớm tới xế chiều là thấy đủ nhịp sống của cả thành phố.
Chợ đâu phải chỉ là chỗ mua bán, đó còn là nơi người ta gặp nhau, hỏi thăm nhau, trao đổi tin tức, kiếm kế sinh nhai, nuôi cả một gia đình.
Người bán có khi chỉ một đôi quang gánh, vài tấm bạc che nắng, vậy mà vẫn bám riết một chỗ suốt mấy chục năm.
Ở Sài Gòn hồi ấy, chợ không phải cái gì khép kính sau bốn bức tường, hãy nơi nào đông người qua lại thì nơi đó tự nhiên thành chợ.
Dọc theo lề đường, trước rạp hát, gần bến xe, cạnh ngã tư lớn, chỉ dài sạp hàng nhỏ là khách đã tụ lại đông như mắc cửi.
Người mua ghé xe vô, lựa món đồ, trả giá vài câu rồi đi ngay.
Chính cái cách buôn bán ấy làm cho Sài Gòn lúc nào cũng có hơi người, có tiếng rao, có mùi trái cây, bánh trái, cà phê, thuốc lá quyện lẫn với nhau thành một thứ không khí rất riêng.
Nhiều người từ các tỉnh lên Sài Gòn lập nghiệp cũng bắt đầu bằng một gánh hàng ngoài lề chợ.
Hàng quá bán từ sáng, chiều có đồng lời thì mua thêm hàng cho bữa sau.
Có người bán dài năm dành dụng mở được tiệm nhỏ.
Có người cả đời vẫn giữ các sạp cũ, nhưng nhờ vậy nuôi con ăn học thành tài.
Chợ gì vậy không chỉ là nơi trao đổi hàng quá mà còn là con đường đổi đời của biết bao gia đình.
Sài Gòn nổi tiếng là thành phố dễ làm ăn cũng nhờ những khu chợ như vậy.
Người bán không câu nệ, người mua cũng ít so đo.
Đồng tiền chạy vòng rất mau.
Một bó rau, một sắp giải, một ly nước đá nhận tiền rồi lại thành giống cho chuyến hàng kế tiếp.
Cứ như nước chảy qua mương, không ngừng nghỉ.
Ở Sài Gòn năm 1959, mấy gánh quà rong như vậy nuôi lớn không biết bao nhiêu đứa nhỏ.
Chỉ cần nghe tiếng rau quen tai hay thấy cây đòn gánh ghé vô đầu hẻm là lũ con nít đang chơi bắn bi, nhảy dây cũng bỏ dở mà chạy lại.
Đứa có tiền thì mua một phần, đứa không có thì đứng chờ.
Nhiều khi người bán cũng sắn cho miếng bánh, múc thêm chút nước chan hay bỏ thêm một miếng nhỏ, coi như ăn lấy thảo.
Người bán quà rong thời đó không chỉ bán đồ ăn.
Họ còn nhớ mặt khách quen, biết nhà nào đông con, biết đứa nào bữa nay bị má la vì xin tiền quà, biết đứa nào cuối tháng mới được phát tiền tiêu.
Có khi thiếu dài đồng cũng cứ ghi nhớ trong bụng, bữa sau ghé ngang tính tiếp.
Chuyện mua bán thành ra có chút tình nghĩa chứ không chỉ là trao tiền lấy quà.
Cũng nhờ những gánh hàng như vậy mà xóm nhỏ lúc nào cũng có hơi người.
Người lớn ngồi trước cửa nói chuyện, con nít tụm 5, tụm 3 ăn quà rồi chia nhau từng miếng.
Món quà chẳng đáng bao nhiêu tiền nhưng lại thành cái cớ để hàng xóm nhìn mặt nhau mỗi ngày.
Ở Sài Gòn thổi ấy, nhiều con hẻm giữ được cái không khí đầm ấm cũng nhờ những gánh quà rong ghé đều đặn sáng, trưa hay xế chiều như vậy.
Năm 1969, đi ngang đường Nguyễn Tri Phương, nhiều người ghé quán Mỹ Tiên không phải chỉ vì một bữa ăn cho no bụng mà còn vì cái danh của những món đã thành quen miệng.
Trong số đó, Bánh Bao Ông Cả Cần là một cái tên được nhắc tới nhiều hơn hết.
Hồi ấy, tiệm bánh bao nổi tiếng thường không cần mở nhà hàng lớn.
Chỉ cần giữ cho được mẻ bột nở đều, miếng thịt dừa tay, trứng muối ngon rồi giao cho vài quán ăn có tiếng bán lại là danh đã lan khắp thành phố.
Người Sài Gòn giống dễ tính mà cũng khó tính.
Dễ là hết ngon thì chịu chạy xa một chút cũng không nề.
Khó là ăn một lần thấy không dự ý thì ít khi trở lại.
Bởi vậy, một quán chịu treo bảng bán bánh bao của ông Cả Cần cũng coi như tự đem uy tính mình cột chung với uy tính của người làm bánh.
Khách bước vô ăn hủ tiếu Mỹ Tho thấy thêm sửng bánh bao nghi ngút khói, nhiều khi lại gọi thêm một cái mang theo về nhà cho con nít hay người thân.
Cái cách bùng bán ấy rất quen thuộc ở Sài Gòn thổi đó.
Mỗi tiệm giữ một món sở trường rồi nâng đỡ nhau bằng danh tiếng.
Người bán hủ tiếu không nhất thiết tự làm bánh bao.
Người làm bánh bao cũng chẳng cần mở quán ăn.
Ai giỏi việc nấy, khách thì được ăn đúng món ngon.
Thành ra chỉ một góc phố cũng đủ gom lại hương vị của nhiều nơi, làm nên cái nếp ăn uống phong phú mà tự nhiên của Sài Gòn.
Ngã từ Nguyễn Duy Dương, Hồng Bàng năm 1969 là một chỗ mà ai chạy xe kiếm cơm cũng rành đường hơn thuộc lòng.
Muốn vô chợ lớn, lên An Đông, xuống cây gõ hay trở ngược về trung tâm Sài Gòn đều phải ngang qua đây.
Bởi vậy từ sáng sớm cho tới giạn giạn dòng xe cứ nối nhau như nước lớn ngoài sông.
Lớp này vừa qua thì lớp khác đã tới.
Ở góc này người ta dễ gặp mấy chiếc xe lam chạy tuyến Sài Gòn, An Đông, cây gõ.
Hồi đó xe lam không phải chỉ là phương tiện chuyên chở mà còn là nhịp sống của cả một dùng.
Người đi chợ An Đông ôm vỏ hàng, người đi làm ở chợ lớn, học trò, công chức, tiểu thương ai cũng từng có lần đứng chờ một chiếc xe lam trở tới.
Tài xế với lơ xe thuộc mặt khách quen, nhiều khi thấy người từ xa là thắng lại, khỏi cần dãy.
Đi thêm chừng 50 thước theo hướng này là tới chợ An Đông.
Thành thử ngã tư này từ lâu đã thành một cái cửa ngõ của giới buôn bán.
Hàng hóa từ các tỉnh chở lên rồi từ chợ An Đông tỏa đi khắp nơi.
Còn khách ở các quận khác muốn mua giải dốc, quần áo, đồ gia dụng cũng thường xuống xe tại đây rồi đi bộ vô chợ.
Con người nói, muốn biết một thành phố làm ăn có khá hay không thì đừng chỉ nhìn phố lớn.
Cứ đứng ở một ngã tư như thế này chừng nửa giờ là đủ.
Xe cổ còn đông, người còn thất bật, tiệm quán còn mở cửa từ sớm.
Tức là mạch sinh hoạt của thành phố vẫn còn mạnh.
Ngã tư Nguyễn Duy Dương – Hồng Bàng năm 1969 chính là một trong những nơi như vậy.
Lặng lẽ giữ giai trò nối liền Sài Gòn với chợ lớn bằng những chuyến xe lam,
những dòng bánh xe gắn máy và bước chân của người đi chợ mỗi ngày.
Ngã tư Lê Văn Duyệt – Hồng Thập Tự năm 1966
là một chỗ ai đi ngang cũng phải tự biết nhường nhau nhiều hơn là trong cậy vô đèn xanh đèn đỏ.
Sài Gòn hồi đó xe đông thiệt, nhưng cái đông ấy có nề nếp riêng của nó.
Người đi xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, xe kéo, xe nhà binh chen nhau trên mặt đường.
Vậy mà ít khi thấy ai đứng giữa ngã tư cự cãi ôm sòm.
Muốn qua được ngã tư như vậy, người cầm tay lái phải biết nhìn xa hơn cái đầu xe của mình.
Thấy một chiếc xe đạp đang trở tới thì bớt gan chút, thấy xe lớn quẹo thì né vô trong,
còn gặp đoàn xe nhà binh thì tự nhiên ai nấy cũng tránh qua một bên cho thông đường.
Thành thử, luật lễ có đó, nhưng cái giữ cho giao thông chạy đều lại là phép lịch sự và kinh nghiệm của người đi đường.
Mấy con đường lớn ở Sài Gòn lúc ấy đều có hàng cây cao rợp bóng.
Bàn trưa nắng chan chan, chỉ cần chạy tới ngã tư có cây lớn là thấy dịu hẳn.
Nhiều người già từng nói, đi xe đạp dưới tàn cây mát còn khoan khoái hơn ngồi trong xe đóng kính cửa.
Cây cối không phải chỉ để làm đẹp phú xá, mà còn làm cho nhịp sống bớt gắt gỗng.
Người chạy xe dưới bóng mát cũng ít nóng nảy hơn người chạy giữa mặt đường hầm họp nắng.
Có lẽ bởi vậy mà ngã tư này, tuy là nơi xe cộ từ bốn hướng dồn về,
vẫn giữ được cái nhịp đìm đạm của một đô thành đang lớn lên từng ngày.
Tiếng còi có giang, bánh xe có nối nhau không dứt, nhưng ít ai xem đường phố là nơi hơn thua.
Ai cũng chỉ mong qua khỏi ngã tư, tiếp tục công việc của mình, như dòng nước gặp khúc quanh rồi lại chảy đi.
Con đường Thái Lập Thành, tới ngã ba với Nguyễn Văn Thinh và Phan Văn Đạt.
Tuy chỉ cách bến sông mấy bước chân, nhưng lại là một trong những chỗ cho thấy Sài Gòn đang đổi da đổi thịt từng ngày.
Ai sống lâu năm trong khu vực này đều thấy rõ, chỉ trong một thời gian ngắn,
những dãy nhà nhiều tầng đã lần lượt mọc lên, chen giữa mái ngói thấp và những căn phố cũ có từ trước.
Điều đáng nói là nhà cao tầng hồi ấy chưa phải chuyện phổ thông.
Mỗi khi có một cao ốc mới cất lên, người ta thường đem ra bàn tán.
Có người khen văn minh, có người tiếc bóng cây, tiếc những căn nhà xưa.
Nhưng rồi ai cũng phải nhìn nhận một điều, đất trung tâm Sài Gòn ngày một mắt.
Muốn có thêm chỗ làm việc, chỗ ở, không còn cách nào khác hơn là xây cao lên.
Khu vực này lại gần bến Bạch Đằng, gần thương cảng, gần các hãng buôn, ngân hàng và nhiều cơ sở ngoại thương,
nên giá đất thuộc dầu hàng đắt đỏ.
Vì vậy, những tòa nhà nhiều tầng không chỉ để ở mà còn là giang phòng, khách sạn, hãng đại diện,
đáp ứng dịp làm ăn mỗi ngày một nhuộm dịp.
Cũng từ đó, bộ mặt khu trung tâm bắt đầu thay đổi.
Người từ xa trở lại sau vài năm thường phải đứng ngẩn ra một lúc
vì con đường quen thuộc bỗng có thêm mấy khối nhà dược hẳn lên khỏi mái phố cũ.
Đứng ở khu vực Thái Lập Thành nhìn ra sông, chỉ cần quay lưng lại là gặp phố xá đông đúc.
Nhìn tới trước lại thấy ghe tàu xuôi ngược và dùng đồng ruộng phía bên kia còn xanh ngắt.
Cái ranh giới giữa một đô thị đang lớn mạnh dưới dùng ngoại ô lúc ấy mỏng manh lắm chỉ cách nhau một khúc sông.
Bởi vậy, nơi này vô tình ghi lại đúng cái nhịp chuyển mình của Sài Gòn.
Phía sau là phố thị đi lên từng tầng, phía trước vẫn còn khoảng trời rộng và đồng ruộng chưa bị phố xá lớn tới.
Năm 1966, ở góc đường này, người Sài Gòn bắt đầu thấy một chuyện lạ.
Giữa những biệt thự thấp, vườn cây ung tùm của khu ngoại giao, bổng mộc lên một tòa nhà đồ sậu, vương dứt, bằng bê tông cốt sắt, khác hẳn lối kiến trúc vốn quen mắt từ thời Pháp.
Công trình đó là tòa đại sứ Hoa Kỳ mới.
Hồi ấy, thiên hạ bàn tán đủ điều.
Người thì khen say chắc như pháo đài.
Người lại nói muốn vô đó làm việc phải qua không biết bao nhiêu lớp kiểm soát.
Từ ngoài đường nhìn vô chỉ thấy hàng rào, cổng gác và những mảng tường kiến đáo.
Khác hẳn nhiều tòa công sở trước kia vốn cởi mở hơn.
Ít ai để ý rằng việc xây cất ngôi nhà này cũng đánh dấu một đổi thay trong cách người Mỹ hiện diện tại Sài Gòn.
Trước đó, cơ quan ngoại giao của họ còn dùng những dinh thự cũ cải biến lại.
Nhưng tới giữa thập niên 1960, họ dựng hẳn một tòa nhà mới thiết kế riêng cho công việc ngoại giao và an ninh với kết cấu chịu lực rất kiên cố.
Điều đó phản ảnh rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ lúc bấy giờ không còn là chuyện tạm thời như nhiều người từng nghĩ.
Dân ở quanh khu này còn nhớ, từ ngày công trình hoàn thành, xe cổ ra vô đông hơn, nhân viên ngoại quốc qua lại tấp nập hơn.
Quán cà phê, tiệm ăn, dịch vụ quanh dùng cũng nhờ vậy mà thêm phần làm ăn.
Một tòa nhà dựng lên nhưng kéo theo cả một dịp sinh hoạt mới tròn nguyên khu phố.
Ga Sài Gòn năm 1965 không chỉ là chỗ xe lửa vô ra.
Giới dân Nam mình, đó gần như cái cửa ngõ lớn nhất nối Sài Gòn với cả miền Trung, miền Đông và một phần miền Tây qua những tuyến liên dận.
Ai từng có bà con ở xa đều biết, hể trong nhà có người đi học, đi làm, đi buôn hay về quê thì thấy nào cũng có một lần đưa ra ga.
Những năm ấy, mỗi chuyến tàu không chỉ chở khách mà còn chở đủ thứ hàng hóa.
Từ gạo, cá khu, nước mắm, trái cây cho tới giải dốc, máy móc, thư tử, báo chí đều theo đường sắt mà đi.
So với xe đò, xe lửa chở được nhiều, ít bị nắng mưa làm hư hỏng nên giới buôn bán rất chuộng.
Thành thử quanh khu ga lúc nào cũng tấp nập những người khun giác, xe lam, xe tải nhỏ, tiệm ăn, quán cà phê và khách sạn bình dân mọc lên để sống nhiều dòng người lên xuống mỗi ngày.
Điều đáng nói là ga Sài Gòn hồi đó không nằm tách biệt như nhiều nơi khác.
Nó nằm ngay giữa một vùng buôn bán đông đúc nối với chợ Bến Thành, đường Lê Lợi, Hàm Nghi, Trần Hưng Đạo và chợ lớn.
Hành khách vừa bước khỏi sân ga là có thể đón taxi, xe lam, xích lô máy hoặc xe buýt đi khắp đô thành.
Bởi vậy, người ta thường nói muốn biết Sài Gòn làm ăn có khá hay không, cứ đứng ở ga một buổi sáng, nhìn lượng người lên xuống tàu là đoán được phần nào sức sống của cả thành phố.
Có lẽ cũng vì vậy mà với nhiều gia đình, ga Sài Gòn gắn với nhiều kỷ niệm hơn bất cứ bến xe nào.
Có người nhớ buổi tiễn con lên Đà Lạt học, có người nhớ chuyến tàu đêm về Phan Thiết ăn Tết.
Có người chỉ nhớ tiếng còi tàu gian lên rồi đoàn xe từ từ lăn bánh, người ở lại đứng nhìn cho tới khi cái toa chót quất hẳn mới chịu quay về.
Cái cảnh chia tay ở sân ga nhiều khi ngắn ngủi thôi mà nghe nặng lòng như một buổi tiễn người đi xa cả mấy năm.
Đại lộ Nguyễn Quệ khoảng 1969-1970 là chỗ người Sài Gòn dễ thấy nhất cái nhịp thay da đổi thịt của Đô Thành.
Một bên là những cao ốc thương mại đã đông văn phòng, cửa hiệu, cà phê. Một bên lại còn tiếng búa, tiếng máy của công trình mới mọc lên.
Thành phố không đứng yên ngày nào, cứ như người thợ khéo tay xây xong một gốc lại sửa sang thêm một gốc khác.
Ngay phía tây phải lúc ấy là Palace Hotel còn đang dựng.
Khách sạn chưa xong mà thiên hạ đã bàn tán bởi ai cũng hiểu khu Nguyễn Quệ, bến Bạch Đăng càng ngày càng thành bộ mặt của Sài Gòn.
Khách ngoại quốc, giới thương gia, hãng tàu biển, dân phòng xuất nhập cảng đều tụ về dùng này.
Một khách sạn lớn mọc lên không phải chỉ để có thêm chỗ nghỉ chân mà còn báo hiệu sinh hoạt thương mại và du lịch đang nở rộ.
Hồi đó, mỗi lần đi ngang công trường, người ta thường ngước lên coi đã đổ thêm được mấy tầng.
Chuyện xây cất cao óc ở trung tâm Sài Gòn trở thành đề tài nói chuyện thường ngày, cũng như chuyện con đường nào sắp mở rộng hay cửa hiệu nào sắp khai trương.
Thành phố sống bằng cái nhịp ấy, cũ giới mới đứng sát bên nhau, không hề đối chọi mà bủ túc cho nhau.
Đến khi Palace Hotel hoàn thành, cả một góc đại lộ Nguyễn Huệ đổi hẳn dáng dẻ.
Người quen đi ngang mỗi ngày mới thấy rõ, chỉ dài năm ngắn ngũi mà bộ mặt trung tâm Sài Gòn đã khác trước rất nhiều.
Giống như một người thanh niên vừa thay bộ đồ mới nhưng vẫn giữ nguyên phong thái lịch thiệp giống có.
Năm 1970, đứng ở đường Nguyễn Huệ một lát là thấy đủ hàng người qua lại.
Người đi làm công sở, người buôn bán, khách ngoại quốc, lính đồng minh, xe taxi, xe xích lô đạp.
Ai cũng chen nhau trên một con đường giống được coi là bộ mặt của Sài Gòn.
Nhưng điều ít ai để ý là nghề xích lô đạp lúc ấy cũng đã đổi khác nhiều so với 10 năm trước.
Mấy năm trước nữa, phần đông khách đi xích lô là người mình.
Từ khi số người ngoại quốc qua Sài Gòn càng lúc càng đông, nhiều anh em đạp xe bắt đầu học lóm dạy câu tiếng Anh, dạy tiếng Pháp.
Chỉ cần biết nói hello, hotel, market, one dollar hay biết chỉ đường là đủ kiếm thêm chuyến xe.
Có người còn thuộc lòng tên mấy khách sạn lớn, quán ăn, tiệm may để vừa chở khách vừa giới thiệu.
Khách vừa xuống phi trường, chưa rành đường xá, thuộn tin cậy mấy anh xích lô hơn là tự đi bộ.
Nhờ vậy, thu nhập của một số người đạp xe khá hơn trước.
Có anh dành dụm được tiền sửa nhà, có người mua thêm chiếc xe mới, có người còn nuôi con ăn học.
Nghề cực thì vẫn cực, đạp dưới nắng chan chan hay giữa cơn mưa bất chợt cũng không bớt nhọc.
Nhưng cái lanh trí và chịu khó học hỏi đã giúp nhiều người sống được bằng chính đôi chân của mình.
Ngay giữa trung tâm Nguyễn Quệ, hình ảnh một chiếc xích lô đậu lại để khách ngoại quốc ngồi nghỉ đôi phút, không phải chuyện lạ.
Nó nói lên một điều rất tự nhiên của Sài Gòn lúc bấy giờ.
Người dân bình thường vẫn biết cách thích nghi dưới hoàn cảnh, gặp ai cũng cởi mở.
Miễn là làm ăn lương thiện thì đều có thể chuyện trò giúp đỡ nhau.
Cái tài của người xích lô không chỉ ở sức đạp mà còn ở cái miệng biết nói,
cái đầu biết nhớ đường và cái tình khiến khách đi một lần rồi còn muốn tìm lại đúng người ấy.
Mỗi chuyện kể rồi cũng tới lúc khép lại.
Nhưng chuyện của một thành phố thì chưa bao giờ hết.
Còn biết bao con đường, biết bao gấp phố, biết bao con người đã từng đi ngang đời nhau,
để lại những dấu vết âm thầm theo năm tháng.
Chỉ cần còn người nhớ, còn người muốn nghe thì những chuyện cũ ấy vẫn chưa hề mất.
Nếu quý vị thấy những chuyện kể này còn có chút gì đáng nhớ,
xin mời tiếp tục đồng hành cùng kênh trong những kỳ sau.
Biết đâu giữa một góc phố quen hay một con hẻm nhỏ đã đi qua không biết bao lần,
lại còn một câu chuyện chưa mấy ai từng nhắc tới.
Xin thành thiệt cảm ơn quý vị đã dành thời gian theo dõi.
Kính chúc quý vị cùng Gia Quyến luôn được bình an, mạnh giỏi.
Xin hẹn gặp lại.