Cổ nhân ẩn giấu tài nghệ vào nét đẹp giản dị khiêm nhường

Đại Kỷ Nguyên - Bình luận
4K Người theo dõi
287 Lượt xem video·25 thg 10, 2026
Vì sao một chén trà sứ từ thời nhà Tống trải qua gần một thiên niên kỷ vẫn mang lại cảm giác an tĩnh kỳ lạ, và vì sao một sân khấu kịch truyền thống rộng chỉ vài thước vuông lại có thể trở thành "ngôi trường đạo đức không có tường bao" nuôi dưỡng tâm hồn Hoa Hạ suốt hơn 1.300 năm?
Cùng khám phá triết lý "Khí dĩ tải Đạo" — nơi mỗi vật phẩm từ chén trà, cây đàn cổ cầm, bức thư pháp cho đến từng nét vẽ mặt nạ "ba mảng hình ngói" của nhân vật Đậu Nhĩ Đôn trong vở kịch "Liên Hoàn Sáo" đều là kết tinh từ chữ "Kính", chữ "Thành", chữ "Tĩnh" và giá trị đạo đức truyền thống của các bậc nghệ nhân xưa.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Thưa quý vị, trên một tờ giấy có một dòng chữ
Con tôi có chết trong gánh hát
Gánh hát không phải chịu trách nhiệm
Người ký tên là một người cha
Đứa trẻ đứng bên cạnh ông khi ấy mới lên bảy
Ông biết con mình sẽ phải chịu những trận đòn roi
Những ép chân đến bật khóc
Phải thức dậy từ lúc trời còn tối mịt
Ông biết cả những nhọc nhằn đang chờ đợi đứa trẻ ở phía trước
Vậy mà ông vẫn đặt bút ký
Vì sao?
Bởi người xưa tin rằng
Học một nghề không đơn thuần là học cách kiếm sống
nghề còn là đạo
bước vào một nghề chân chính cũng là bước vào
một con đường tu thân, rèn đức
người cha ấy gửi con vào gánh hát
học nghề, điều ông trao đi
không phải là một đứa trẻ cho một gánh hát
mà là một đứa trẻ cho một người thầy
người sẽ dạy nó cách
làm người, sáng hôm sau
khi bầu trời còn chìm trong bóng tối
đứa trẻ đã bị gọi dậy
giữa làn gió lạnh buốt, em đứng yên
mắt mở lớn, nhìn chăm chú
và đống lửa đỏ trên đầu một nén hương
em không được chớp mắt
Nước mắt cứ thế trào ra, lăn dài trên má.
Nhưng em vẫn phải tiếp tục nhìn. Tất cả những khổ luyện ấy để làm gì?
Để đổi lấy một khoảnh khắc trên sân khấu.
Chỉ một khoảnh khắc thôi, nhưng khi tiếng chiêng vang lên,
cả khán phòng đang xôn xao bỗng lặng phắc.
Hàng trăm khán giả ngồi dưới kia, có người thậm chí còn không biết chữ.
Vậy mà khi bước ra khỏi nhà hát,
trong lòng họ đã đọc lại những điều về nhân, lễ, nghĩa, trí, tính.
Họ có thể chưa diễn đạt thành lời,
nhưng đã cảm nhận được điều gì là cao quý, điều gì là đáng trân trọng,
và một con người cần nên sống như thế nào.
Ở một nơi khác, một câu chuyện tương tự đang diễn ra trong lò gốm.
Trời vừa hửng sáng
Lửa trong lò đã bừng lên đỏ rực
Người thợ gốm ngồi sồm trước miệng lò
Đôi mắt không rời khỏi những biến đổi của ngọn lửa
Bên cạnh ông là một cậu bé
Con trai ông
Cậu lặng lẽ quan sát
Không hỏi han
Cũng chẳng được cha giảng giải điều gì
Cậu học bằng cách nhìn cha chờ đợi
Chờ lửa, chờ men, chờ đất
Một lúc sau
Người thợ cầm chiếc chén lên
Chăm chú xem xét lớp men vừa phủ
Chưa vừa ý
Ông lại làm lại
Rồi lại thử thêm lần nữa
Ngay cả ở phần đáy chén
Nơi khuất mắt người đời
Nơi sau này có thể chẳng một ai để ý đến
Cậu bé ngước mắt nhìn cha
Thắc mắc
Cha, chỗ đó có ai thấy đâu
Người thợ đáp
Hoặc có thể ông chỉ lặng im
Nhưng nếu phải nói thành lời
Điều ông muốn truyền lại cho con
Sẽ là trời thấy và cha thấy
Với người xưa
Ấy chính là đạo của người thợ gốm
Làm cho đến nơi đến chốn
Không phải để được người đời khen ngợi
Mà để lòng mình không hổ thẹn trước trời đất
Một chiếc chén có thể được người ta ngắm nhìn
Chỉ trong chốc lát
Nhưng sự nghiêm cần của người thợ
Đã hiện diện trong từng công đoạn
Kể cả nơi không ai nhìn thấy
Chữ kính, chữ thành, chữ tĩnh
Được hun đúc từ những điều
Tưởng chừng nhỏ bé như thế
Hai nghề khác nhau
Một bên là sân khấu rực sáng với nhiều người xem
Một bên là lò gốm đỏ lửa
Ít ai thấy
Nhưng cả hai đều có chung một điều
Người thợ dốc lòng rèn luyện suốt nhiều năm tháng,
gửi gắm tâm huyết vào một tác phẩm mà người đời có thể chỉ
thưởng thức trong vài phút, thậm chí chỉ nhìn qua một lần.
Có những chiếc chén khi cầm lên, ngắm nhìn,
người ta bỗng thấy lòng mình lắng lại.
Một cảm giác khó gọi thành tên, như thể phía sau dáng
hình tĩnh lặng ấy còn có một điều gì sâu xa hơn vật chất,
và cảm giác ấy dường như không dễ tìm thấy trong một
sản phẩm chỉ được tạo ra bằng sự chính xác của máy móc.
Máy móc có thể tạo ra một chiếc chén gần như hoàn hảo chỉ
trong vài phút, với kích thước chính xác đến từng mm.
Hình dáng có thể giống hệt, đường nét có thể không sai khác.
Thậm chí, nhìn bằng mắt thường,
chúng ta khó lòng phân biệt được đâu là bàn gốc, đâu là bàn sao.
Vậy, người xưa đã đặt điều gì vào tác phẩm của mình?
Điều gì khiến một vật dụng bình thường có thể vượt
khỏi công dụng của nó, chạm đến tâm hồn con người?
Và nếu hình dáng có thể sao chép, kỹ thuật có thể tái tạo?
Tại sao có những giá trị tinh thần chúng
ta vẫn chưa thể làm lại như người xưa
Phải chăng các bậc nghệ nhân xưa đã nắm
giữ một mật mã kết nối với trời đất
Mà người thời nay đã vô tình đánh mất
Hôm nay xin mời quý vị cùng bước vào hành trình giải mã điều ấy
Từ chén trà sứ đời Tống đến tiếng chiêng trống Lê Viên
Khi đồ vật và nghệ thuật đều mang linh hồn
Xin mời quý vị quay lại lò gốm ngày ấy
Sau những ngày đêm đỏ lửa, lò được mở ra
Hơi nóng phà lên mặt
Cậu bé đứng sau lưng cha
Nín thở
Người thợ cúi xuống
Nhấc từng chiếc chén ra khỏi lò
Có chiếc men nứt
Có chiếc men chảy lệch
Ông đặt sang một bên
Không nói một lời
Rồi ông nhấc lên một chiếc chén
Men màu ngà
Mềm như ngọc
Không hoa văn
Không dát vàng
Ông cầm nó thật lâu
Không ngắm men
Không xoay đi xoay lại
Chỉ cầm
Cậu bé hỏi
Cha thấy chén này đẹp lắm sao
Người cha khẽ lắc đầu
Không phải đẹp
Là yên
Thưa quý vị, chữ Yên ấy, nó chính là chìa khóa của cả bài ngày hôm nay.
Chén trà đời Tống không sinh ra để khoe sự xa hoa,
nó sinh ra để giúp lòng người lắng lại.
Cũng như cây đàn cổ cầm, không cầu âm thanh vang dội,
mà cốt ở dư âm thanh nhã, đưa tâm hồn đi xa.
Những vật của cổ nhân, tự bên trong có một sức sống vượt qua thời gian,
vậy sức sống ấy từ đâu mà ra?
Theo khảo cứu trong loạt bài Vạn vật hữu ngôn và truyền ký Lê Viên
đăng trên trang tránh kiến, sự khác biệt căn bản giữa tác phẩm
của người xưa và sản phẩm thời nay không phải nằm ở trình độ kỹ
xảo bề mặt mà bắt nguồn từ nền tảng văn hóa thần truyền thâm sâu.
Với cổ nhân, làm ra một món đồ hay khổ luyện một vai diễn trên sân khấu
Chưa bao giờ chỉ để mưu sinh hay khoe tay nghề
Họ nghĩ rằng mỗi khi đôi tay chạm vào thớ gỗ,
nhào nặn đất sét hay khoác lên mình tấm áo kịch
Đó chính là lúc con người đang tu dưỡng chính cái tâm của mình
Thái độ của một người trước một việc nhỏ hàng ngày cho thấy
Người ấy hiểu thế nào về trời đất, về sinh mệnh, về đạo làm người
Cổ nhân gói ý ấy trong bốn chữ
Khí dĩ tải đạo
Nghĩa là mượn vật hữu hình
Để chuyển chở đạo lý vô hình
Đạo của trời đất vốn không có hình tướng
Nhưng nó mượn từng món đồ
Từng tác phẩm ở thế gian này
Để hiện ra trước mắt người
Quý vị hãy nghĩ đến một món đồ tế lễ
Nó trang nghiêm
Vì người làm ra nó gửi vào đó lòng kính ngưỡng trời đất
Biết ơn tổ tiên và thần Phật
Một miếng ngọc đeo bên mình
Có ánh sáng ấm áp
Vì nó chứa phẩm đức của bậc quân tử,
ngay cả những thú vui tao nhã như đánh đàn, ngâm thơ,
viết thư pháp, thường họa cũng được lập ra để dẫn
con người rời xa những ham muốn thô thiền mà quay về tu dưỡng nội tâm.
Cho nên, vẻ đẹp phương Đông xưa rất khác với sự hào nhoáng,
đến chói mắt của thị yếu hiện đại.
Đó là vẻ đẹp có chừng mực,
có trật tự bên trong và chứa lòng kính sợ trước quy luật tự nhiên.
Một vật càng đạt đến cảnh giới cao thì càng không
vội phô ra vẻ kinh diễm ngay cái nhìn đầu tiên.
Cốt cách của nó từ từ hiện ra và tỏa sáng bền bỉ qua năm tháng.
Giống như chiếc chén màu ngà kia nằm im trong tay người thợ,
chẳng nói một lời mà khiến người ta thở chậm lại.
Triết lý, khí dĩ tài đạo, chữ kính,
chữ thành và chữ tĩnh trong bàn tay người nghệ nhân xưa.
Nhưng để một chiếc chén chuyên trở được đạo lý,
người thợ phải làm những gì?
Xin quý vị cùng tôi đi vào lò gốm một buổi sáng sớm khác
Trước khi nhóm lửa, người thợ già luôn làm một việc mà cậu bé thấy lạ
Ông rửa tay thật sạch, thắp một nén hương, không đọc một lời khấn nào
Cậu bé hỏi, cha cúng gì vậy?
Ông đáp, cha chào thầy truyền nghề cho cha
Rồi ông mới nhóm lửa
Thưa quý vị, đó là chữ kính
Bất kỳ nghề chân chính nào đều là một con đường tu hành
Người thợ mộc có đạo của người thợ mộc
Người thợ gốm có đạo của người thợ gốm
Người hát trên sân khấu có đạo riêng của mình
Mà con đường nào cũng bắt đầu bằng chữ kính
Kính trời đất, kính tổ sư truyền nghề
Kính chính công việc của mình đang làm
Vì thế người thợ không dám làm ẩu
Không dám gian dối dù một mảy may
Bởi người xưa hiểu rằng
Đường nét vụn về bên ngoài chỉ là hệ quả
Gốc rễ nằm ở cái tâm chưa đủ chân thành
Và đây là chữ thành
Chuyện có một lô chén ra lò
Trong đó có một chiếc có vết nứt ở đáy
Nhỏ đến mức mắt thường khó thấy
Một người khách ghé qua
Thấy chén đẹp định mua
Người thợ cầm chiếc chén lên
Xoay ngược lại
Nhìn rất lâu
Rồi đập vỡ nó ngay trước mặt người khách
Người khách sững sờ
Cậu bé con cũng sững sờ
Người thợ chỉ nói
Chén này tôi biết có vết nứt
Sách Trung Dung có câu
Thành giả, thiên chi đạo giả
Thành chi giả, nhân chi đạo giả
Nghĩa là
Chân thành là lẽ của trời
còn tu dưỡng để giữ chọn chữ chân thật là đạo làm người.
Khi tâm người không chân thành,
vật làm ra sẽ phù phiếm, nông cạn, rỗng ruột.
Ngược lại, khi tâm đã định,
đôi tay sẽ vững và truyền vào vật một khí an hòa,
đi liền với kính và thành là chữ tĩnh.
Có một lần, cậu bé nóng ruột,
lửa đã cháy hai ngày mà cha chưa cho mở lò.
Công hỏi, sao không xem thử một chước cho nhanh?
Người thợ già nhìn ngọn lửa, đáp chậm rãi như nói với chính mình.
Lửa không vội, thì tay cũng không được vội.
Trong văn hóa truyền thống,
không có tuyệt tác nào làm ra trong gấp gáp.
Biên ngọc phải mài dần qua ngày tháng,
thỏi mực tàu phải kiên nhẫn dưỡng từng lớp,
búp trà phải sao chậm trên lửa nhỏ, cây đàn phải đẽo tỉ mỉ từng thớ gỗ,
bức thư pháp phải tĩnh tâm hạ từng nét bút.
Người xưa không tin vào thứ gì phất lên quá nhanh,
vì cái gì đến quá nhanh thì dễ tiêu tán, quá đầy thì dễ hóa tầm thường,
và dùng sức quá mạnh thì làm tổn thương thần vận của vật.
Đại văn hào Tô Đông Pha thời Tống từng chiêm nghiệm,
thuở trẻ, người ta thích phô khí thế rực rỡ, màu sắc lộng lẫy.
Nhưng khi đi qua năm tháng,
mới ung dung chạm tới vẻ đẹp của sự giản dị.
Giản dị ấy không phải là nhạt nhẽo,
đó là trạng thái thu toàn bộ công phu cả đời vào bên trong.
Một bậc đại sư không làm tác phẩm để người đời trầm trồ.
Ta đây tài giỏi. Ông chỉ nhẹ nhàng làm cho người
thưởng lãm cảm thấy vật này vốn dĩ nên như vậy.
Đạo Trung Hòa, nghệ thuật lưu bạch và vũ trụ quan thiên nhân hợp nhất.
Có một hôm cậu bé tự tay vẽ lên một chiếc chén.
Cậu vẽ hoa, vẽ chim, vẽ mây, vẽ kín cả mặt chén vì muốn thật đẹp.
Cậu đem khoe cha.
Người thợ gốm nhìn một lúc không chê, ông chỉ cầm bút lau đi một nửa,
rồi ông đặt chiếc chén xuống và nói, chỗ trống này để cho trời vẽ.
Thưa quý vị, ẩn sau vẻ đẹp bình dị ấy chính là nguyên
lý trung hòa và vũ trụ quan thiên nhân hợp nhất.
Người xưa đặc biệt kiêng sự thái quá,
màu quá sặc sỡ thì rơi vào dung tục, bố cục nhồi quá đầy thì bức bối,
ngạt thở, kỹ xảo quá phô trương thì lộ vẻ thợ thuyền nặng nề.
Chữ trung là không thiên lệch, chữ hòa là đặt vạn vật
vào đúng chỗ của nó, nâng đỡ nhau mà không lấn át nhau.
Trong một bức tranh cổ, màu đỏ thường chỉ là nét
điểm xuyết để đánh thức thần thái của cả tác phẩm.
Nó không bao giờ phủ kín không gian.
Từ đạo lý ấy, hội họa và kiến trúc cổ sinh ra nghệ thuật lưu bạch,
tức là chủ động chừa lại khoảng trống.
Khoảng trống trên mặt giấy lụa hay giữa các dãy
hành lang trong vườn cổ, không phải bỏ trống.
Đó là để nơi sinh khí của đất trời lưu thông
Và để người thưởng ngoạn có một khoảng lặng mà suy ngẫm
Người thợ xưa cũng lắng nghe chất liệu
Gỗ có tính của gỗ, ngọc có tính của ngọc
Đất sét và kim loại đều có nhịp thở riêng
Người thợ mộc đẽo một mối mộc không chỉ để hai thanh gỗ khít nhau
Mà phải nương theo chiều thớ
Người thợ gốm không ép đất theo ý mình
Mà đi tìm điểm hòa hợp giữa đất, nước, độ lửa và thời gian
Ngày nay, nền sản xuất công nghiệp lấy
tiêu chuẩn và số lượng làm thước đo
hàng vạn chiếc chén bát sứ giống hệt nhau
Còn thủ công truyền thống trân trọng luồng
sinh khí độc nhất trong từng tác phẩm
Hai chiếc chén nặn tay có thể khác nhau chút ít ở vân men, ở vết lửa
Nhưng chính nét riêng ấy giữ lại hơi ấm của bàn tay
con người và nhịp đập của thiên nhiên
Một hôm, một thương nhân giàu có đến lò gốm
Đặt một số lượng rất lớn, trả giá rất cao, với điều kiện làm gấp,
làm theo mẫu hiện đang được ưa chuộng và bớt công đoạn.
Người thợ gốm nghe hết rồi từ chối.
Cậu bé đứng bên không hiểu vì sao cha bỏ qua món tiền lớn như vậy.
Cổ nhân tâm niệm, Đức không xứng với địa vị thì ác sinh tai họa.
Người thợ mang lòng tham danh cầu lợi,
muốn làm nhanh để bán nhiều tiền, chạy theo thị hiếu nhất thời,
thì tác phẩm chắc chắn mất cái gốc
còn nghệ nhân chân chính sẵn sàng
mài một mối mộng đến khít không lọt
một sợi tóc hay thử đi thử lại
một nước men ở ngay góc quất không ai
nhìn thấy, họ làm vậy không phải
vì sợ người mua chê
mà vì coi mỗi tác phẩm là một lời đáp
trước trời đất, trước lương tri
và trước sinh mệnh của chính mình
từ khúc nghe thường vũ y
trốn hoàng cung
đến ngôi trường đạo đức không có bức tường bao
nơi dân gian
bây giờ xin mời quý vị rời lò gúng
Để đến một nơi đông người hơn nhiều
Về kinh đô Trường An thời thịnh Đường
Hơn 1.300 năm trước
Hoàng đế Đường Huyền Tông Lý Long Cơ
Cho một khu vườn trồng đầy hoa lê trắng muốt
trong ngự uyển
Rồi quy tụ vào đó những nhạc công
Vũ công tài hoa nhất thiên hạ
Họ luyện tập những pháp khúc thanh cao
Và điệu múa, nghe thường vũ y
Điệu múa được cho là giao cảm
Với cõi thần tiên
Đó là nguồn gốc của hai chữ Lê Viên Vườn Lê
Từ cung đình Tao Nhã ấy
Nghệ thuật sân khấu dần đi xuống quán trà, đầu làng,
hội miếu khắp nhân gian qua các vở tạp kịch
thời nguyên của Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ.
Đến thời Minh, nhà âm nhạc Ngụy Lương Phủ dày công gọt
rũa làn điệu côn khúc vùng Giang Nam thành điệu thủy
ma uyển truyền trong trèo như dòng nước mài sáng viên ngọc.
Rồi đến năm 1790, dưới triều Hoàng đế Càn Long nhà Thanh,
nhân dịp mừng đại thọ 80 tuổi nhà vua, các gánh hát lớn
từ vùng Huy Châu phương Nam lần lượt tiến vào Bắc Kinh,
mà tiêu biểu là bốn gánh Tam Khánh, Tứ Hỷ, Hòa Xuân và Xuân Đài.
Từ đó mở ra cuộc giao thoa kéo dài hàng chục năm giữa
làn điệu phương Nam và phương Bắc và kết tinh nên nghệ
thuật kinh kịch với quy chuẩn vô cùng nghiêm ngặt.
Nhưng điều quan trọng nhất, thưa quý vị,
không nằm ở những mốc triều đại.
Điều quan trọng là những gì diễn ra dưới sân đình.
Trong suốt hàng trăm năm, xã hội chưa có sách báo phổ cập.
Người nông dân chân lấm tay bùn, người tiểu phu,
người buôn bán nơi phố chợ, phần lớn chưa biết đọc biết viết.
Một đêm hội làng, sân đình đầy người, ngồi chật cả những gốc cây.
Có bà cụ mang theo cả chiếu, có đứa trẻ ngồi trên vai cha,
một ngọn đèn dầu hắt lên sân khấu gỗ chỉ vài thước.
Rồi tiếng chiêng, tiếng trống, cả sân đình đang râm ran bỗng im bặt
Những sân khấu như thế đã là một việc mà không trường học nào làm nổi
Chính những sân khấu đình làng ấy đã trở thành ngôi
trường đạo đức không có tường bao của toàn dân
Ở Việt Nam có thể thấy những điều ấy ở nơi chiếu chèo Quan Âm Thị Kính
Khán giả cảm nhận nỗi oan khuất của người lương thiện,
đức nhẫn nhường và lòng từ bi
Với Lưu Bình Dương Lễ, người ta thấm thía tình bạn trọng nghĩa,
sự nâng đỡ âm thầm và tấm lòng mong bạn thành tài
Đi vào truyền thống tôn cổ, sơn hậu, khắc họa chi tiết những bậc
trung thần, sẵn sàng dấn thân vì đại nghĩa và vận mệnh xã tắc
Rồi đến những vở cải lương như Lục Vân Tiên,
gửi gắm tinh thần trọng nghĩa, kinh tài
Thấy việc nghĩa thì làm, gặp người hoạn nạn thì ra tay cứu giúp
Phạm Công, Cúc Hoa lại nhắc nhở về lòng hiếu thảo,
nghĩa vợ chồng và đức hy sinh vì gia đình.
Qua từng tích truyện, những chuẩn mực về trung nghĩa, tình bạn,
lòng hiếu thảo và lẽ thiện ác dần thấm sâu vào tâm hồn người xem.
Không cần một bài giảng đạo đức riêng, những bài học làm
người cứ thế được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
qua từng câu hát, từng điệu bộ, từng cái vất tay áo trên sân khấu.
Mà để có được một phút ấy, ai là người phải trả giá?
Xin mời quý vị gặp lại đứa trẻ 7 tuổi đã
bị gọi thức giấc từ lúc trời còn tối.
Một phút huy hoàng trên sân khấu, 10 năm khổ luyện sau
cánh gà và quy tắc thiêng liêng phía sau tấm màn nhung,
đứa trẻ ấy giờ đã ở gánh hát được một năm.
Mỗi sáng trời chưa sáng, tiếng người thầy đã vang lên trong sân tập,
cậu ép chân đến mức nước mắt trào ra,
uốn lưng đến khi cả người run lên,
Luyện giọng cho đến khi khản tiếng
Nhào lộn trên nền gạch cứng như đá
Ngã rồi lại đứng dậy
Ngã rồi lại đứng dậy
Ngạn ngữ xưa nói
Một phút trên sân khấu
Mười năm khổ luyện sau cánh gà
Thời trước
Khi một đứa trẻ mới 7-8 tuổi
Được gia đình đưa vào các trường đào tạo
Hí khúc danh tiếng như
Phú Liên Thành
Cha mẹ đều phải ký tờ văn thư sinh tử
Chấp nhận quy củ của gánh hát
Dù là ba đợt nắng lửa oi bức nhất của mùa hè
Hay ba đợt gió bấc cắt da cắt thịt của mùa đông
Đứa trẻ vẫn phải dậy từ sớm tinh mơ
Và quý vị còn nhớ nén hương ở phần mở đầu
Bài tập ấy là để rèn nhãn thần
Tức là cái thần trong đôi mắt của người diễn viên
Để đóng vai võ tướng
Đôi mắt ấy phải sắc, phải uy, phải có sức nặng
Muốn vậy, đứa trẻ phải đứng giữa giá lạnh mùa đông
Mở to hai mắt nhìn chằm chằm vào đốm lửa đỏ đầu nén hương
Hoặc dõi theo đàn chim bay trên trời
cho đến khi nước mắt giàn rụa mà tuyệt đối không chớp.
Người thầy thời ấy nghiêm khắc đến mức
chỉ cần học trò sai một nhịp là bị phạt,
nghe thì thấy tàn nhẫn.
Nhưng họ hiểu rằng thầy nghiêm mới rèn được trò giỏi,
giữ vững quy củ trên sân khấu
mới giữ được phẩm giá của nghề.
Và sau chiếc thước gỗ nghiêm nghị ấy
là tình thương sâu nặng,
lo từng bữa ăn từng giấc ngủ,
cho nên người học trò khi đã thành danh
luôn nhớ đạo lý, một ngày làm thầy,
chọn đời làm cha.
và dốc lòng phụng dưỡng sư phụ
lúc tuổi già. Hậu trường gánh hát
còn có một nguyên tắc. Trong một góc khuất
có một chiếc hòm gỗ cũ
gọi là hòm tổ sư gia
trong hòm cất mũ áo của các bậc thần tiên
và đế vương. Chiếc hòm ấy
là bậc thiêng. Dù là ngôi sao
danh tiếng nhất hay diễn viên mới vào nghề
không một ai dám tùy tiện
ngồi lên. Kẻ nào lỡ phạm
sẽ lập tức bị bậc trưởng bối trách phạt
nghiêm khắc để nhắc lòng kính sợ
đối với tổ sư và thần minh
và người nghệ sĩ sắp đóng vai
Đậu Nhĩ Đôn trong vở Liên Hoàn Sáo
anh ta họa mặt xong
sắc xanh lam, ba mảng hình ngói
đôi lông mày gai nhím uy dũng
có lẽ vì vậy khán giả
đã quên mất đang xem diễn
mà chỉ thấy một con người chân thật
đến đây anh không được cười đùa
không được đi lại lộn xộn
anh ngồi ngay ngắn ở một góc hậu trường
nhắm mắt, tĩnh tâm
để dưỡng uy phong
vột hết tạm niệm đời thường
để tinh thần mình hòa vào khí phách
của vị anh hùng sắp bước ra sân khấu.
Có lẽ vì vậy, khán giả đã quên mất đang xem diễn mà chỉ cảm thấy một
con người chân thật,
mối ân oán 10 năm trong liên hoàn sáo và lời
nhắn gửi về giá trị đạo đức truyền thống.
Và bây giờ, Thùy Miên xin kể cho quý vị nghe vở
diễn mà người nghệ sĩ kia sắp bước ra sân khấu.
chuyện bắt đầu từ một trận tỉ võ,
một bên là Đậu Nhĩ Đôn, hảo hán trốn lục lâm,
Bên kia là Hoàng Tam Thái, hộ vệ dưới trướng quan bành bằng.
Hai người đã hẹn trước, không dùng ám khí,
nhưng đánh mãi, Hoàng Tam Thái thấy mình không địch nổi.
Trong một thoáng, ông quên lời hẹn, tung ra một mũi phi tiêu vàng.
Mũi phi tiêu trúng cánh tay trái của Đậu Nhĩ Đôn.
Đậu Nhĩ Đôn bị thương, bỏ đi ra ngoài cửa ải,
lập trại ở Liên Hoàn Sáo.
Mũi tiêu ấy tuy không giết chết ông, nhưng mối hận thù thì ở lại.
Hơn 10 năm trôi qua
Một ngày kia
Quan Lương Kiều Công ra ngoài ải săn bắn
Mang theo con ngự mã mà Hoàng đế ban tặng
Tin ấy bay về tận Sơn Trại
Đậu Nhĩ Đôn nghe xong
Nhớ lại mũi tiêu năm xưa
Đêm đó ông tự mình xuống núi
Lẻn vào doanh trại
Ông dắt đi con ngự mã
Và để lại một bức thư
Trong thư có một câu thơ
Đại ý là
Muốn biết ai trộm ngựa
Hãy hỏi Hoàng Tam Thái
Quý vị thấy đây
Ông không chỉ trộm ngựa
Ông muốn mượn tay triều đình
Đòi lại món nợ cũ từ chính nhà họ Hoàng
Nhưng có một điều Đậu Nhĩ Đôn không biết
Ở ngoài ải xa xôi
Tin tức đến chậm
Hoàng Tam Thái đã qua đời từ lâu
Quan Lương Kiều Công mất ngự mã
Nổi giận
Truyền lệnh gọi con trai Hoàng Tam Thái là Hoàng Thiên Bá
Đến hỏi tội
Hoàng Thiên Bá khi ấy là một võ quan
Giữ chức ký danh Tổng Binh
May có quan Bành Bằng là bạn cũ của cha anh
Ngầm che chở
Chỉ cho anh một thời hạn
Để tự tìm ra kẻ trộm
Hoàng Thiên Bá hiểu
kẻ trộm ngựa phải là người có thù
với cha mình và phải sống ở nơi
tin tức bế tắc. Nên mới không biết
cha anh đã mất. Anh lần theo
dấu vết, cải trang thành một tiêu sư
một mình lên sơn trại liên hoàn
sáo. Đậu Nhĩ Đôn đón tiếp
khách rồi khoe rằng mình có một con
ngựa quý, chính là ngự mã
của Hoàng Đế. Lúc ấy
Hoàng Thiên Bá mới nói rõ thân phận
anh nói rằng mình lên núi không mang theo
vũ khí. Hai bên hẹn hôm sau
tỉ võ. Nếu anh thua
anh về nhận tội mất ngựa
Nếu Đậu Nhĩ Đôn thua
Ông phải trả ngựa và ra tự thú
Đêm ấy trước ngày tỉ võ
Có một bóng người lẻn vào sơn trang
Đó là Chu Quang Tổ
Bạn thân của Hoàng Thiên Bá
Lo cho bạn mình có mệnh hệ gì
Ông đã đi lấy đôi song câu hộ thủ
Binh khí quen thuộc của Đậu Nhĩ Đôn
Và cắm lại trên bàn một thanh đao
Đao của Hoàng Thiên Bá
Sáng hôm sau Đậu Nhĩ Đôn tỉnh dậy
Ông nhìn thấy bàn tay trống trơn
Nhìn thanh đao cắm trên bàn
Ông hiểu ngay ra rằng
Đêm qua cao thủ nào đó đã đi vào tận phòng ngủ của ông
Qua bao nhiêu lớp canh gác mà không hề ra tay
Thưa quý vị, đến đây nếu là một kịch bản giải trí thông thường
Hẳn sẽ có một màn đánh nhau đẫm máu
Nhưng đây là Lê Viên
Đậu Nhĩ Đôn biết mình đã được người ta nương tay
Một người được tha mạng mà còn cố chấp tranh thua thắng
Thì giới lục lâm còn đâu chữ nghĩa
Ông trả lại ngự mã và tự nguyện theo Hoàng Thiên Bá xuống núi
Đến nơi quan phủ để nhận tội
Tiếng hát trầm hùng của bậc danh nghệ viên
Hải ngân lên như tiếng chuông rồi lắng xuống
Tấm màn nhung từ từ hạ và điều đọng lại trong lòng người xem
Thưa quý vị, không phải kỹ xảo trộm ngựa
ly kỳ hay màn cháo đôi câu liêm hộ thủ
Mà là một bài học về nghĩa khí
biết nhận ơn, biết dừng tay, biết quay đầu
Thưa quý vị, giờ đây chúng ta cùng nhìn lại hành trình hôm nay
Từ chiếc chén màu ngà trong tay người thợ gốm
rồi đến đứa trẻ khóc trước nén hương cho đến vở
Liên Hoàn Sáo trên sân khấu Lê Viên
Các bậc nghệ nhân xưa
Đều dùng cả cuộc đời mình
Để nhắn nhủ hậu thế một điều
Làm người đứng giữa đất trời
Trên đầu có trời xanh soi xét
Trong tim có lương tri dẫn đường
Thắng thua, lợi danh nhất thời
Đều chỉ như mây khói
Chỉ có chữ nhân, lễ
Nghĩa, trí, tín
Và những giá trị đạo đức truyền thống ấy
Mới là cội nguồn
Giúp sinh mệnh con người thăng hoa
Và trường tồn cùng năm tháng
Cảm ơn quý vị đã dành thời gian quan tâm theo dõi
Thùy Miên xin kính chào và hẹn gặp lại
