Thảm họa lũ quét kinh hoàng tại cửa khẩu Cát Long đã cuốn trôi 77 sinh mạng chỉ trong chớp mắt, trong khi 28 người khác thoát chết nhờ nán lại uống một ly trà. Sự việc này xảy ra ngay trên tuyến đường hành hương về núi thiêng Kailash – ngọn núi được bốn tôn giáo lớn tôn thờ và chứa đựng vô vàn bí ẩn chưa lời giải đáp. Đằng sau sự phẫn nộ của thiên nhiên là gì? Tại sao có diễn tập trước thảm họa mà thông tin vẫn bị bưng bít? 🏔️ Bí ẩn núi Kailash: Ngọn núi không ai dám lên đỉnh và những truyền thuyết rợn người. ⏳ Ranh giới sinh tử: Sự biến mất bí ẩn của 77 người và sự sống sót kỳ diệu của 28 người. 📖 Nguồn gốc sự cuồng nhiệt: Người phương Tây và những cuốn sách tạo ra "Shangri-La". 🤫 Sự thật đằng sau thảm họa: Cảnh báo muộn màng và những bản danh sách bị che giấu. ⚖️ Bài học nhân quả: Khi thói quan liêu và sự vô cảm của chính quyền tàn nhẫn hơn cả thiên tai.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Sáng ngày 26 tháng 8, một màng lớn đất đá và băng tuyết trên dãy Himalaya đột ngột đổ sập, tạo ra dòng lũ buồn đất.
77 con người vừa bước chân vào sảnh di trú cửa khẩu Cát Long được đúng 9 phút để tiếp tục hành hương thì đã bị quấn trôi hoàn toàn.
Không một cuộc gọi nào được nhức máy.
Trong khi đó, ở phía bên kia ngọn núi, 28 người khác thoát khỏi lưỡi hái tử thần chỉ nhờ dừng lại uống một ly trà.
Thảm họa bất ngờ này gắn liền với đoàn người đổ về cai lát ngọn núi linh thiêng bậc nhất thế giới mà không một ai dám đặt chân lên đỉnh.
Liệu đây là sự trường hợp ngẫu nhiên của tự nhiên hay ẩn chứa những quy luật nhân quả sinh tưởng bí ẩn chưa lời giải đáp?
Hôm nay chúng ta cùng nói về ngọn núi thiêng bí ẩn nhất thế giới và thảm họa diệt vong vừa xảy ra trong trước mắt.
Thảm họa kép tại núi Cai Lát, 77 người biến mất tại cửa khẩu và sự sống sót của 28 người chỉ nhờ một ly trà.
Ngày 26 tháng 8, vùng núi Himalaya bỗng nhiên cầm thét một màng lớn đất đá và băng tuyết từ trên cao bất ngờ sụp xuống.
Đó là một trận lũ bùn đất để lại vết hẳn sâu sắc trên các bản tin toàn cầu.
Ban đầu chỉ là một tiếng nổ lớn phá vỡ sự tĩnh lặng, thùng lũng lập tức bị bao trùm bởi đám bụi khổng lồ.
Ngay sau đó hỗn hợp bùn, nước, băng và những tảng đá khổng lồ dầm dập đổ ập xuống, càn quét dọc theo lòng sông.
Tại thời khắc đó, một nhóm người đang trên hành trình chiều bái núi Linh Thiêng Kailas, tên Hán Việt, cơng nhân Ba Tể, không may bị kẹt lại ngay trên đường đi.
Viên tài xế nhạy bén phát hiện ra dấu hiệu bất thường, nhưng cánh cửa lên xuống dành cho hành khách đã bị các phương tiện khác chặt kín.
Lối thoát duy nhất là phía cửa của tài xế, từ người một hối hạ trèo qua cửa kính, bào ra ngoài và cắm đầu chạy thục mạng lên triển núi bên cạnh.
Khi họ leo lên được vị trí cao và ngoái đầu nhìn xuống, cảnh tượng trước mắt khiến tất cả đứng hình.
Trên xe phía sau họ đã bắt đầu bị dòng hồng thủy nuốt trừng và cuốn phăng đi.
Về sau, một người may mắn sống sót bằng hoàng kể lại, chỉ cần chậm đúng 5 giây nữa thôi, toàn bộ chúng tôi đã không thể thoát mạc.
Thế nhưng, tử thần dường như đã phân phát những lá phiếu sinh tử rất kỳ lạ trong ngày hôm đó.
Vẫn trong cùng một ngày, có một nhóm hành hương khác, gồm 77 người cũng đến đỉnh Cailat.
Họ là những người đã hoàn tất hành trình đi vòng quanh ngọn núi Thiêng.
Đúng 9 giờ 5 phút sáng, người dẫn đoàn tên là Braven gửi đi một dòng tin nhắn cuối cùng thông báo.
Toàn bộ thành viên đã có mặt tại sành di trú cửa khẩu Cát Long, Ghe Orong, biên giới Tây Tạng.
Chỉ 9 phút sau khi dòng tin nhắn ấy được gửi đi, trận lũ ập đến.
Kể từ lúc đó, không một cuộc gọi nào tới nhóm người này được nhức máy.
Đạo sư Yoga người Ấn Độ, Sanguru, người đứng ra tổ chức đoàn hành hương này, sau đó đã nói một câu đầy xót xa.
Đoàn này luôn có thái quen đến sớm, lần này tôi thực sự hy vọng họ đã đến muộn một chút.
Sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một khoảnh khắc rất nhỏ.
Cùng ngày hôm đó, ở sườn núi bên kia thuộc lãnh thổ Nepal, một đoàn hành hương người Ấn Độ khác đang di chuyển thì quyết định dừng xe để uống một ly trà.
Chỉ mất đúng thời gian tàn một ly trà, nhưng đó lại là khoảng thời gian mua lại mạng sống cho họ.
Hai chiếc xe buýt cỡ lớn xuất phát trước họ nửa giờ đồng hồ đã hoàn toàn biến mất dưới lớp bùn đất.
28 con người nắn lại bên ly trà đã may mắn thoát nạn.
Chưa dừng lại ở đó, bản thân đạo sư Sekro cũng đang đích thân dẫn dắt một đoàn hành hương khác.
Theo lịch trình được truyền thông Ấn Độ xác nhận, đoàn của ông dự kiến sẽ bước vào đúng khu vực sảnh di trú của cửa khầu Cát Long vào cùng một thời điểm, nhưng là vào ngày hôm sau.
Đạo sư Sekro đã chậm một ngày và ông giữ được mạng sống.
Khi danh sách 77 người mất tích tại cửa khầu được công bố, người ta nhận ra họ đến từ 19 quốc gia khác nhau.
Có những công dân đến từ Bắc Mỹ, Úc, châu Âu, Israel và Nam Phi.
Họ bay đến Nepal, sau đó tiến vào Tây Tạng, chức nhận đến một nơi có độ cao hơn 5.000m so với mực nước biển, chỉ để đi bộ 52km vòng quanh một ngọn núi.
Điều gì đã thôi thúc người dân từ khắc nơi trên thế giới lặn lội đến chỗ đèo heo hút gió này?
Và tại sao ngay tại khu vực cửa khầu được canh phòng cẩn mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc, 77 con người lại biến mất không giấu vết?
Bí ẩn núi thiêng, tại sao người dân 19 quốc gia đổ về ngọn núi mà cả thế giới không ai dám lên đỉnh?
Con số 77 người mất tích thực chất chỉ là thành viên của một trong rất nhiều đoàn hành hương.
Tổ chức đưa họ đến đây là Quỹ ISA của Ấn Độ, bắt đầu từ năm 2006.
Tổ chức này đã thực hiện các chuyến chiều bái ngọn núi thiêng cai lát.
Riêng trong mùa hành hương năm 2026, họ đã sắp xếp một mạch, 21 đoàn khách.
Từ đoàn nói tiếng Anh, tiếng Hindi cho đến đoàn nói tiếng Tamil, các nhóm người nối tiếp nhau đi từ Nepal tiến vào Tây Tạng, rồi đi bộ hướng về núi cai lát.
Vào ngày xảy ra tảm họa, Đạo sư Sekuro đã công bố các con số cụ thể.
495 người đã trở về an toàn, 743 người vẫn đang ở Tây Tạng, 148 người kẹt lại ở Nepal, 77 người bật vô âm tín tại sảnh di trú cửa khẩu Cát Long, và 3 tình nguyện viên đang ở một ngôi làng thuộc lãnh thổ Nepal.
Nếu cộng tất cả lại, có tới hơn 1.400 người được phân bổ trên các trạng đường khác nhau chỉ trong một ngày.
Tại sao năm nay lượng người đổ về cai lát lại đông đúc một cách bất thường? Nguyên nhân sâu xa nằm ở tru kỳ tâm linh của Phật giáo Tây Tạng.
Theo lịch Tạng, năm ngựa là năm bản mệnh của núi thương cai lát. Việc đi vòng quanh ngọn núi một vòng trong năm này mang lại công đức tương đương với 13 vòng trong những năm bình thường.
Lượng người tham gia vòng quanh núi trong các năm thông thường theo cơ quan du lịch Tây Tạng là khoảng 50.000 người, nhưng năm nay con số ước tính lên tới 400.000 người đến 500.000 người.
Không chỉ người Tây Tạng mà du khách Ấn Độ, Nepal và các tín đồ từ phương Tây đều đổ về.
Con đường qua cửa khẩu Cát Long là tuyến huyết mạch cho cuộc hành hương này.
Kể từ sau trận động đất lớn ở Nepal năm 2015, pháo hủy cửa khẩu cũ, Cát Long dần dần vươn lên và đến năm 2024, nơi này đứng đầu về kinh ngạch xuất nhập càng trong toàn bộ các cửa khẩu của Tây Tạng.
Tuy nhiên, thiên nhiên ở đây vô cùng khắc nghiệt.
Tháng 7 năm ngoái, dòng sông tại Cát Long cũng đã trải qua một trận lũ lớn cuốn trôi chiếc cầu huyết mạch.
Mãi đến đầu năm nay, một cây cầu sắt tạm thời mới được dựng lên để khôi phục giao thông.
Sự kết hợp giữa một cây cầu tạm bợ, một chư kỷ tôn giáo 12 năm mới có một lần và dòng người từ 19 quốc gia cũng đổ rồn về một dòng sông chật hẹp trong mùa hè này đã tạo ra bối cảnh cho tảm họa kinh thiên động địa.
Nhưng câu hỏi cốt lõi là điều gì đã vẫy gọi một người Mỹ hay một người Nam Phi vốn không có mối liên hệ gốc gắt nào với dãy núi này lại bất chấp hiểm nguy để đến đây hành lễ.
Núi Kailas nằm ở tận cùng phía Tây của Tây Tạng, cao hơn 6.600m so với mực nước biển.
Đã trong bối cảnh toàn bộ cao nguyên Thanh Tạng hay dãy Himalaya, độ cao này hoàn toàn không có gì nổi bật.
Có vô số ngọn núi cao hơn nó rất nhiều, nếu xét về độ khó kỹ thuật, giới leo núi chuyên nghiệp cũng không xếp Kailas vào nhóm khó chinh phục nhất.
Thế nhưng, cho đến tận ngày hôm nay, không một ai từng đặt chân lên đỉnh của ngọn núi này, không phải vì con người không có khả năng leo lên đó, mà bởi vì toàn thế giới đã có một thỏa thuận ngầm, bất khả xâm phạm.
Tuyệt đối không được phép trèo lên đỉnh núi. Bốn tôn giáo lớn với hàng tỷ tín đồ đều quy tụ sự tôn kính về ngọn núi này và họ chia sẻ một nguyên tắc đối thượng.
Con người chỉ được phép đi vòng quanh, chứ không bao giờ được phép dẫm đạp lên đỉnh núi Thiêng.
Ngọn núi của bốn tôn giáo và những truyền thuyết bí ẩn, từ kim tử tháp, cổng thời gian đến thùng lũ chết.
Cai Lat là tâm điểm hội tụ của bốn tôn giáo lớn.
Ấn Độ giáo tin rằng thần Shiva và người vợ Bhavati đang cư ngụ trên ngọn núi này.
Phật giáo Tây Tạng coi đây là trung tâm của vũ trụ, là ngọn núi Tu Di kết nối trực xoay của vạn vật.
Đạo Gen, kỳ lạ na giáo tin rằng vị tổ sư đầu tiên của họ đã giác ngộ ngay tại khu vực quanh núi.
Trong khi đó, Đạo Bon, tín ngưỡng bản địa cổ xưa của Tây Tạng khẳng định đây chính là nơi phát nguyện, là linh hồn của thế giới.
Bốn tôn giáo với những giáo lý, những vị thần và thời kỳ xuất hiện hoàn toàn khác nhau lại đạt được một sự đồng thuận vô cùng hiếm có trước ngọn núi này.
Hành trình đi vòng quanh núi dài 52km đòi hỏi người hành hương phải vượt qua con đèo cao hơn 5.600m.
Có người đi bộ liên tục mất 3 ngày, lại có người thực hiện nghi thức ngũ thể đầu địa bước một bước báy lại sắt đất, dòng dã suốt nhiều tuần lễ.
Đáng chí, tiến đồ vật giáo và Ấn Độ giáo đi theo chiều kim đồng hồ, trong khi tiến đồ Đạo Bon lại đi ngược chiều.
Nếu đứng trên đường hành hương, bạn sẽ thấy hai dòng người di chuyển ngược hướng nhau, nhưng cùng quy phục trước một thực thể duy nhất.
Khi mở rộng bản đồ, sự tôn bái của người Ấn Độ càng trở nên rõ ràng.
Từ dưới chân đỉnh Cai Lát, bốn con sông lớn tỏa ra bốn hướng.
Phía Bắc là sông Sư Tuyển chảy sang Ấn Độ.
Phía Tây là sông Tượng Tuyển đổ vào phụ lưu sông Ấn.
Phía Nam là sông Khổng Tướp hợp lưu vào sông Hằng.
Và phía Đông là sông Mã Tuyển, chính là ngọn nguồn của dòng Yalung-Sangbo.
Nguồn nước nuôi sống sinh mạnh của toàn bộ khu vực Nam Á đều bắt nguồn từ đây.
Khái niệm trung tâm thế giới không phải là một sự theo dệt viển vong, mà nó là mạch nguồn thực tế của tự nhiên.
Năm 1985, chính quyền Trung Quốc từng cấp phép cho nhà leo núi người Ý Reinhold Messner,
người đầu tiên trên thế giới chinh phục đỉnh Everest, không cần bình oxy và leo trọn vẹn 14 đỉnh núi,
cao trên 8.000m, được phép leo lên Kailash.
Ông đã thẳng thừng từ chối.
Messner để lại một câu nói vang vọng.
Để chinh phục ngọn núi này, đồng nghĩa với việc chúng ta đang chinh phục một thứ gì đó trong linh hồn của con người.
Nếu muốn thử thách, hãy đi leo những ngọn núi khó hơn.
Đến năm 2001, một đội leo núi Tây Ban Nham tuyên bố sẽ leo lên Kailash để kiểm chứng xem ngọn núi này là công trình nhân tạo hay sản phẩm của tự nhiên.
Ngay lập tức, hàng loạt tổ chức tuân giáo và cộng đồng leo núi quốc tế đã đứng ra biểu tình phản đối, buộc đội Tây Ban Nham phải từ bỏ.
Ngay sau đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm leo núi toàn diện tại đây.
Lệnh cấm này vẫn duy trì hiệu lực cho đến ngày nay.
Chính vì không có một dấu chân người nào trên đỉnh, không một bức ảnh nào trục từ đỉnh núi,
Kailash càng trở thành một bức bình phong của những truyền thuyết kỳ bí.
Nhìn từ xa, ngọn núi mang hình dáng của một kim tự tháp cực kỳ hoàn hảo với các lớp vân đá cắt ngang và bốn mặt rớt đứng.
Mặt phía nam của núi có một khay nứt thẳng đứng chạy dọc xuống, tạo thành hình chữ vạn.
Truyền thuyết Tây Tạng kể rằng, một ngàn năm trước, Đại sư Melarepa của Phật giáo và Pháp sư Naro Bonchan của đạo Bonda tỉ thí pháp thuật để giành quyền kiểm soát ngọn núi.
Pháp sư Naro Bonchan kể chiếc chống pháp bay lên trước lúc bình minh, nhưng khi tia nắng đầu tiên chữa rọi, Đại sư Melarepa đã nâng theo ánh sáng đó và bay thẳng đến đỉnh núi chỉ trong chấp mắt.
Naro Bonchan giật mình ngã xuống, chiếc chống pháp lăn tử trên cao tạo thành một rãnh sâu in hẳn trên vách núi đá.
Đến năm 1998, bác sĩ Nhãn Khoa người Nga Ern Mudasev sau khi nghiên cứu các bức ảnh đã thốt lên, đó không phải là núi, đó là toàn bộ một kim tự tháp.
Lời tuyên bố này lan truyền khắp thế giới.
Báo chí thế giới thêm rằng, khu vực quanh Kailash không phải là một, mà là hàng trăng kim tự tháp cổ đại đã tồn tại hơn một vạn năm.
Dường dận hơn, có tin đồn về thung lũng chết ở độ cao 5.600m, nơi những kẻ tò mò bất chấp cảnh báo bước vào sẽ bị dối loạn thần chí.
Vài trường hợp người leo núi được cho là đã đột ngột, lão hóa nhanh chóng sau khi trở về và qua đời chỉ trong vòng 2 năm.
Lại có giải thuyết cho rằng, đỉnh núi là một khối pha lê khổng lồ gây ra hiện tượng đảo ngược thời gian hay là trạng tiếp nhận năng lượng từ sao bắt đầu chuyển xuống lòng trái đất.
Mới đây nhất vào mùa đông năm 2024, một số người còn báo cáo thấy một cuộc sáng chói lòa bốc lên từ đỉnh núi, kéo dài khoảng 10 phút, nối liền với những thí nghiệm không gian bí ẩn ở Nam Cực.
Khoảng trống của sự thiếu hiểu biết đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho vô vàn giả thuyết sinh sôi.
Tây Tạng và sự đầu cơ tâm linh, những cuốn sách tạo ra, sang cây làm và con đường kiếm tiền.
Vậy làm thế nào mà một ngọn núi xa xôi ở Tây Tạng với những truyền thuyết mơ hồ lại có sức hút mãnh liệt đối với người phương Tây đến vậy?
Sự thật là những huyền thoại về kim tự tháp, cổng thời gian hay thung lũng chết không phải là những thứ đầu tiên kéo họ đến đây.
Điều kỳ lạ làm, thứ mở đường con số sốt Tây Tạng lại xuất phát từ những cuốn sách và tác giả thành công nhất trong số đó, lại là người chưa từng đặt chân tên Tây Tạng.
Năm 1875, tại New York, một phụ nữ người Nga tên là Helena Blavatsky đã sáng lập gia hội thần chí.
Bà tuyên bố mình đã dành 7 năm ở Tây Tạng, được hai vị đại sư truyền dạy những bí thuật tối cao.
Cuốn sách nền tảng, giáo lý bí mật của bà được cho là dựa trên một văn tự cổ bằng tiếng Tạng
và những bức thư chỉ dẫn từ các đại sư được gửi đến bà bằng một phương thức bí ẩn.
Thế nhưng, những người chỉ trích đã so sánh chữ viết và phát hiện ra rằng những bức thư đó thực chất do chính tay bà viết.
Dù bà chưa từng đặt chân đến Tây Tạng, những tín đồ của hội thần chí cho đến tận ngày nay vẫn vất lờ sự thật này.
Các học giả nghiên cứu lỷ sử đã đưa ra một kết luận đánh thép.
Nếu không có khái niệm Tây Tạng, hội thần chí gần như không thể tồn tại.
Khái niệm về một nhóm những siêu nhân trưởng sinh bất lão đang giữ bí mật vũ trụ ẩn giật trong những ngọn núi Tây Tạng,
thực chất được nhào nạn ra ở New York vào năm 1875 bởi một phụ nữ người Nga.
Đến năm 1933, nhà văn người Anh James Hilton xuất bản cuốn tiểu thiết nổi tiếng Chân trời đánh mất.
Câu chuyện kể về một nhóm người phương Tây gặp tai nạn máy bay,
dây xuống dãy Himalayam và lạc vào một thung lũng bí ẩn nơi con người không bao giờ giả đi.
Cái tên Shangri-La, hướng cách ghi lạc, thiên đường hạ giới, chính thức ra đời từ cuốn sách này.
Năm 1934, những tư tưởng huyền bí này thậm chí đã lên lỏi vào tận tòa Bạch Ốc.
Họa sĩ kiêm nhà huyền bí học người Nga Nicholas Roerich nuôi tham vọng xây dựng một quốc gia thần quyền tại châu Á
với thủ đô đặc tại Samhala, hương Ba Lạp.
Bộ trưởng nông nghiệp dưới thời Tổng thống Roosevelt, ông Henry Wallace đã bị quấn vào vòng xoáy này
và tôn sinh Roerich là thượng sư.
Năm 1934, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã tài trợ cho một đoàn thám hiển đến châu Á
dưới danh nghĩa tìm kiếm các giống cỏ chịu hạn và người dẫn đầu, không ai khác, chính là Roerich.
Khi đến châu Á, ông ta đã ném nhiệm vụ thực vật học sang một bên
và bắt tay vào việc thực hiện giấc mơ, quốc gia thần quyền.
Sau này, những bức thư tôn sinh thượng sư bị rò rỉ đã trở thành một quả bom chính trị nhắm vào ông Wallace.
Sự cuồng nhiệt chưa dừng lại.
Năm 1956, tại London, cuốn sách Con mắt thứ ba được xuất bản, ký tên Losang Ramba, tự xưng là một vị lạt ma Tây Tạng.
Cuốn sách kể rằng năm 7 tuổi, ông được đưa vào một tu viện ở Lhasa bị khoăn một lỗ trên trán để mở ra Con mắt thứ ba.
Nhờ đó, ông có thể nhìn thấy hào quang của con người, nhìn thấy người tuyết Jetty,
và thậm chí là cả một hồn nước ngầm dưới lòng cung điện Potala.
Trên bức tường bên hồ, ông miêu tả cao khắc hình những kim tự tháp phát sáng, hình ảnh giống hệt núi Kailash.
Cuốn sách bán được hàng trăng nghìn bản chỉ trong hai năm.
Thế nhưng, nhà leo núi Henrik Harer, tác giả cuốn sách 7 năm ở Tây Tạng,
cùng một số học giả am hiểu về vùng đất này đã cảm thấy có điều gì đó không ổn.
Họ thuê thám tử tư điều tra và phênh phui ra sự thật ngã ngừa.
Lạt ma Losang, thực chất tên là Cyril Henry Hoskin, sinh năm 1910 tại Anh, con trai của một thợ sửa ống nước.
Anh ta bỏ học chương học, từng làm việc tại sưởng phẫu thuật, sau đó là nhân viên văn thơ, và tất nhiên, chưa bao giờ đặt chân đến Tây Tạng.
Khi bị vệch trần, Hoskin không phủ nhận nguồn cấp của mình, nhưng lời giải thích của ông ta còn chấn động hơn.
Ông ta bị ra câu chuyện rằng có một lần leo cây chụp ảnh chim cú ở Surrey, ông ta bị ngã.
Khi tỉnh lại, cơ thể ông ta đã bị linh hồn của một lạt ma Tây Tạng chiến giữ.
Vì thế, thể giác là người Anh, nhưng ký ức viết sách là của vị lạt ma.
Bất chất sự thật phơi bày, cuốn sách không những không biến mất, mà còn kéo theo hàng loạt phần tiếp theo được dịch ra nhiều thứ tiếng, và ông ta thậm chí còn mở cả đạo tràng ở Toronto.
Cho đến nay, con mắt thứ ba vẫn là một trong những ấn phẩm bán chạy nhất về đời sống Tây Tạng.
Người phương Tây đã dành cả trăm năm để biến Tây Tạng thành một chiếc kết sắt khổng lồ, nơi họ tưởng tượng ra việc giấu kín những thứ mà nền văn minh công nghiệp đã đánh mất, sự bất tử, siêu năng lực và câu trả lời tối hậu cho sự tồn tại.
Học gia Donald S. Roberts Jr. đã nhật định rất chuẩn xác, điều người phương Tây nhìn thấy ở Tây Tạng chính là hình bóng phản chiếu của những gì họ đã đánh mất.
Đây cũng là công thức phát triển kinh điển của các câu chuyện huyền bí, bắt đầu từ một hạt nhân sự thật mỏng manh, một cuốn sách bán chạy, một chuyến thám hiểm, một ngọn núi có hình dáng kỳ lạ.
Sau đó, người ta không ngừng theo dệt và kết nối các tình tiết.
Khi mạng lưới truyền thuyết càng tràng trịt, người ta càng ít muốn quay lại tìm hiểu sự thật ban đầu.
Trở lại với kai lát, những tuyên bố của Earl Mudasep về Kim tự tháp cũng được xây dựng trên chính nền tảng ảo tưởng đó.
Hay như chương trình Kỹ nghệ nội tâm của đạo sơ Zekro, ông không yêu cầu người ta phải tin vào Ấn Độ giáo ngay từ đầu.
Ông bắt đầu bằng thiền định, bằng hơi thở, bằng cách kiển soát sự lo âu.
Dần dần, người tham gia được dẫn dắt vào truyền thống tâm linh Ấn Độ, và điểm đến cuối cùng chính là ngọn núi Thiêng.
Do đó, việc công dân từ 19 quốc gia cùng ngồi trên mỗi chiếc xe buýt tiến về Kai Lát không phải là chuyện ngậu nhiên.
Ở đó có những người Ấn Độ xa xứ muốn tìm về cội nguồn,
và nó có cả những người phương Tây đi theo dấu vết của những cuốn sách ảo ảnh để tìm kiếm sự thứ rối ở phương Đông.
Sự thật đằng sau thảm họa, diễn tập vòng trống trước 21 ngày, khi thiên tai đến lại không có báo động.
21 ngày trước thảm họa lũ quách kinh hoàng tại khu vực Cát Long thực sự đã diễn ra một cuộc diễn tập sơ tán quy mô lớn.
Ngày 5 tháng 8, Sở Tài Nguyên Thiên nhiên huyện Cát Long phối hợp với Đoàn Địa chất Điện nhiệt Tây Tạng
đã tổ chức diễn tập ứng phó thảm họa địa chất do vỡ hồ băng.
Video và bài viết trên mạng chỉ rõ địa điểm diễn tập chính là khoảng sân trước tòa nhà hải quan Cát Long.
Kịch bản diễn tập được giàn dựng vô cùng hoàn hảo.
Mực nứt hồ băng sân cao đột ngột, đẹp có nguy cơ vỡ nứt.
Nhân viên quan trắc báo cáo lên trên, ban chỉ huy phát lệnh cảnh báo các đội cứu hộ nhanh chóng di tản quần chúng đến nơi an toàn.
Lưu ý rằng kịch bản này vẽ ra một thảm họa có dấu hiệu báo trước, có đủ thời gian để báo cáo qua từng cấp bể.
Thế nhưng, thiên tay ập đến lại mang một bộ mặt hoàn toàn khác.
Từ một ngọn núi cao 200m thuộc địa phận Nepal, băng tuyết và đất đá trút xuống tạo thành dòng lũ bùn khổng lồ,
quấn phăng theo thùng lũng suốt 22km rồi lau thẳng vào cửa khẩu Cát Long ở độ cao 1.800m.
Theo ước tính của giới chuyên gia Trung Quốc, tốc độ dòng chảy ở đoạn đầu lên tới hơn 50m mỗi giây,
từ lúc núi lở cho đến khi săn phẳng khu vực hải quan chỉ mất vỏn vẹn 6-7 phút.
Khoảng thời gian này thậm chí không đủ để hoàn thành bước đầu tiên trong quy trình báo cáo khẩn cấp của cuộc diễn tập.
Vì vậy, không thể nói rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn không có sự chuẩn bị.
Họ có chuẩn bị, nhưng hệ thống cổng cành và quan lưu đó đã hoàn toàn tây liệt khi thực chiến.
Nhìn xa hơn xuống hạ lưu sông, sự tương phản càng khiến người ta phải suy ngẫm.
Tại huyện Nuwakot, Nepal, một hiệu trưởng chương trưng học tên Dawadi, 47 tuổi,
nhận được một cuộc gọi từ bạn mình ở Thượng Nguồn vào khoảng 9 giờ 20 phút sáng.
Bảo rằng, làng mạc đã bị lũ quấn chơi.
Bị hiệu trưởng này không đợi bất kỳ thông báo chính thức nào từ chính quyền.
Ông lập tức ra lệnh sơ tán, đưa toàn bộ 1.643 học sinh lên khu vực cao hơn.
10 phút sau, ngôi trường và toàn bộ tài sản của ông bị dòng nước lũ xóa sổ.
Trong khi đó, báo cáo của Cục Khí tưởng Thủy Văn Nepal thừa nhận,
phải 16 phút sau khi dòng lũ đi qua, họ mới nhận được thông tin qua kênh hành chính nội bộ.
Truyền thông Nepal thận chí còn phanh phui sự thật cay đắng hơn.
Phía Trung Quốc phải đến 1 giờ 35 phút chiều,
tức là gần 5 tiếng đồng hồ sau thảm họa mới đưa ra thông báo chính thức.
Sự sống còn ở Hạ Liêu hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc gọi 7 phút định mệnh của người bạn bị hiệu trưởng,
chứ không phải là những hệ thống cảnh báo tối tân.
Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn tự hào rêu rao về mạng lưới vệ tinh bắt đầu,
về đội ngũ UAV giám sát hiện đại.
Nếu những thiết bị này thực sự hoạt động,
thì 7 phút từ khi núi lở ở độ cao 5.200m,
đồ ập xuống sành di trú 1.800m,
chẳng lẽ không đủ thời gian để bấm một tiếng còi báo động.
Bạn sẽ không tìm thấy bất kỳ lời giải thích nào cho sự tắc trách này trên các phương tiện truyền thông nhà nước.
Thứ mà công chúng được xem chỉ là hình ảnh trước cầu tạm được dựng lên nhanh chóng,
ngợi ca hải quan thông minh và năng lực thông quan vừa trội.
Thực tế, công tác cứu hộ sau tảm họa ra sao?
Chính báo cáo chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc ghi nhận,
đội xung kích tạm thời gồm 19 người mãi đến 4 giờ 30 phút chiều ngày 27 tháng 8 mới đến được biên giới.
Đội cứu hộ chuyên nghiệp phải trèo đèo lội dưới hơn 20km và đến 5 giờ chiều ngày 28 tháng 8 mới tiếp cận được vùng lõi.
Mất hơn 2 ngày để một đội chuyên nghiệp xuất hiện tại hiện trường.
Tiến hiệu liên lạc tại cửa khẩu chỉ được khôi phục vào ngày thứ 5 hoặc thứ 6 sau tảm họa.
Ngày 28 tháng 8, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp, 7 ủy viên thường vụ đồng loạt đứng dậy mặc niệm.
Sự kiện này buộc phải đưa vào nghị sự cấp cao bởi có đến 23 quốc gia bị ảnh hưởng.
Chiều tối ngày 29 tháng 8, Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố con số 16 người thiệt mạng, 546 người mất tích.
Con số này đứng im bất động cho đến tận ngày 1 tháng 9.
77 thành viên của đoàn hành hương nằm trong danh sách 546 người mất tích đó.
Đảng Cộng sản Trung Quốc không khẳng định họ đã chết, chỉ nói họ mất liên lạc.
Đạo sư Sekuro sau đó đã điều chỉnh con số thành 80 người, 77 thành viên và 3 tỉnh nguyện viên.
Ông đã xin phép đưa một nhóm nhỏ vào Cát Long để hỗ trợ tìm kiếm, nhưng bị Đảng Cộng sản Trung Quốc từ chối.
Bởi lý do an toàn, hiện trường có nguy cơ lở đất, thứ cấp và sự hình thành hồ băng ngăn rồng.
Việc hạn chế người ngoài vào hiện trường có thể lấy lý do an toàn để biện minh.
Thế nhưng quyền lực càng tèo trung, trách nhiệm cung cấp thông tin càng phải rõ ràng.
Nếu từ chối thân nhất vào tìm kiếm, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt buộc phải minh bạch thông tin.
Chính quyền Trung Quốc nắm trong tay toàn bộ hồ sơ xuất nhập cảnh, biết rõ ai đã vào và ai chưa ra.
Quỹ ISA có trong tay danh sách đoàn viên, biết ai dẫn đoàn và mấy giờ họ đến Sành Di Chú.
Khách sạn có lưu trữ lịch sử đặt phòng, các nhà mạng viễn thông có thể truy xuất vị trí cuối cùng của điện thoại.
Chỉ cần đối chiếu các nguồn dữ liệu này, những câu hỏi cơ bản nhất sẽ được giải đáp.
77 người đó có mặt tại Sành Di Chú lúc thảm họa xảy ra hay không?
Trong số 16 nạn nhân nước ngoài được tìm thấy, có ai thuộc đoàn này không?
Đã thu thập được bao nhiêu mẫu ADN? Bao nhiêu gia đình đã được thông báo?
Tuy nhiên, cho đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyệt nhiên không công bố bất kỳ bảng đối chiếu danh sách nào.
Thân nhân của 77 người mất tích không thể biết được số phận người nhà mình đang nằm ở giai đoạn tìm kiếm nào.
Điều gia đình nạn nhân cần không phải là những khẩu hiệu trống rỗng kiểu công tác cứu hộ đang được triển khai có trật tự.
Cái họ cần là biết rõ hôm nay đội cứu hộ đã được đào bới ở đâu, phát hiện được những gì,
mẫu ADN đã được lưu vào cơ sở dữ liệu chưa, và khi nào sẽ có đợt thông báo tiếp theo.
Ngay cả khi không có tiến triển, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng có trách nhiệm thông báo đúng giờ,
rằng hôm nay vẫn chưa có kết quả.
Sự im lặng tàn nhẫn này mới chính là thảm họa thứ hai bóp nghẹt hy vọng của những gia đình đang chờ đợi.
Thưa quý vị, thiên tai ẩp đến đôi khi là quy luật không thể tránh khỏi của tự nhiên.
Ngọn núi cây lát vẫn đứng sừng sững ở đó,
mang theo mình vô vàn bí ẩn chưa lời giải đáp về tâm linh và sự kiến tạo của vũ trụ.
Dòng người hành hương từ các nơi trên thế giới vẫn sẽ tiếp tục tìm đến đây,
mang theo những khát vọng về sự siêu thoát,
mang theo cả sự tò mò từ những huyền thoại được diệt nên bởi trí tưởng tượng của con người.
Nhưng điều đáng sợ hơn cả những cơn thịnh nộ của thiên nhiên
chính là sự tắc trách, thói quan liêu và sự bưng bít thông tin từ một hệ thống cầm quyền vô cảm.
77 sinh mạng biến mất chỉ trong tích tắc,
28 người sống sót nhờ một ly trà,
sự sống và cái chết diễn ra quá đổi mong manh.
Câu chuyện về núi cây lát và trận lũ bùn kinh hoàng này một lần nữa dóng lên hồi chương cảnh tình
về sự phù du của kiếp người và về cách chúng ta đối mặt với sự thật,
dù nó tàn nhẫn đến đâu.
Liệu những bí ẩn về núi cây lát và sự bưng bít thông tin trong thảm họa này
sẽ có ngày được đưa ra ánh sáng?
Quý vị nghĩ sao về sự trường hợp sinh tử trong chuyến hành hương định mệnh này?
Hãy để lại ý kiến dưới phần bình luận.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi video. Đừng quên nhấn like, đăng ký kênh và bật chuông thông báo
để không bỏ lỡ những câu chuyện bí ẩn và thời sự nóng hổi tiếp theo.
Kin Chi xin kính chào và hẹn gặp lại!