Đời Người Có 3 Cảnh Giới Phần Lớn Dừng Mãi Ở Cảnh Giới Thứ Nhất

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIBài chia sẻ phân tích ba cảnh giới phát triển của con người thông qua góc nhìn của học giả Vương Quốc Duy và Kinh Dịch. Nội dung nhấn mạnh hành trình từ nhận thức lý thuyết, trải qua quá trình rèn luyện bền bỉ và đúng hướng, để cuối cùng đạt đến sự thấu hiểu bản thân và khiêm cung. Tác giả cảnh báo về cái bẫy của sự an toàn và khẳng định giá trị của nghịch cảnh trong việc trưởng thành.
Đời người có ba cảnh giới, phần lớn dừng mãi ở cảnh giới thứ nhất.
Thưa quý vị và các bạn, có một câu nói như thế này.
Làm nên nghiệp lớn, làm nên học văn lớn, đều phải đi qua ba cảnh giới.
Và người đục kết ra ba cảnh giới ấy là Vương Quốc Duy,
một trong những học giả lớn nhất Trung Hoa cận đại.
Điều tài tình là ông không tự viết ra chúng.
Ông mượn ba câu thơ tình của ba thi nhân đời tống.
Ba câu vốn chỉ để nói chuyện nhớ nhung của nam nữ ghép lại
và bỗng nhiên trúng thành bản đồ của cả một đời người.
Ba câu ấy được trích dẫn khắp nơi, trên biểu sách,
trong bài giảng, trong những bài diễn văn tốt nghiệp.
Nhưng tôi để ý một điều rằng, và điều này khiến tôi ngồi lặng khá lâu,
là gần như không ai nói ra những cái điều phũ phàng nhất về ba cảnh giới đó,
rằng cảnh giới thứ nhất là cảnh giới dễ chịu nhất
và chính vì dễ chịu nên phần lớn đời người chết giả trong đó.
Không phải vì họ lười, không phải vì họ kém,
mà vì cảnh giới thứ nhất cho người ta một cảm giác gần giống hệt như đã thành công,
trong khi thực ra họ chưa đi được một bước nào.
Và trong bài chia sẻ ngày hôm nay,
Tần Phúc Khánh muốn cùng bạn soi ba cảnh giới của Vương Quốc Duy vào lăng kính của kinh dịch.
Bởi vì, ba ngàn năm trước Vương Quốc Duy,
người viết kinh dịch đã vẽ ra đúng ba chặng ấy,
bằng sáu hào của quẻ càn,
và kinh dịch nghiêm khắc hơn nhiều,
nó không chỉ mô tả ba cảnh giới,
nó chỉ thẳng vào cái cửa ải mà đa số con người bị rơi xuống,
gọi tên cái cửa ải đó,
và giải thích vì sao ta bị rơi xuống.
Chưa hết, kinh dịch còn cảnh báo một điều mà Vương Quốc Duy không hề nhắc tới,
đó là sau cảnh giới thứ ba,
vẫn còn một cái vực sâu nữa,
Trước hết nói về ba cảnh giới mà Vương Quốc Duy đã mượn thơ nổi tống.
Cảnh giới thứ nhất,
đó là ông mượn câu của Yến Thù,
là câu
Nghĩa là,
đêm qua gió tây thổi rụng, lá cây sánh biếc,
một mình lên lầu cao,
nhìn hết con đường tới tận chân trỏi.
Cảnh giới thứ hai là,
ông mượn câu thơ của Liễu Vĩnh,
đai áo dần dần rộng ra,
mà vẫn không hối tiếc,
vì người ấy mà gầy mòn tiểu tụy.
Cảnh giới thứ ba là,
ông mượn câu của Tân Khí Tật,
Nghĩa là,
tìm nàng trong đám đông trăm nghìn bận,
chợt quay đầu lại,
người ấy vẫn đứng ở chỗ ánh đèn thưa thớt.
Vương Quốc Duy gói ba cảnh giới ấy vào sáu chữ,
là huyền tư, khổ sách và đốn ngộ,
treo mình lên mà nghĩ,
khổ công mà tìm,
rồi bừng sáng.
Bây giờ,
tôi sẽ kể cho bạn nghe một câu chuyện có thực,
về một người mà cả đời sau,
ông vẫn còn đỏ mặt khi nhớ lại.
Học giả Nam Hoài Cẩn,
khi còn trẻ,
là một người rất tự phụ.
Ông nổi tiếng sớm,
giao du toàn với những bậc học vấn cao,
và tuổi tác lớn.
Người ta gọi ông là lão đệ,
nhưng trong bụng ông không hẳn phục.
Ông thầm nghĩ học vấn của các bậc tiền bối
cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.
Một lần,
ông đưa bài văn của mình cho thầy,
một vị tiến sĩ đời thanh,
và hỏi,
Thưa thầy,
bài này của con thế nào ạ?
Thầy đáp,
tốt, không tệ.
Cậu học cho hỏi tiếp,
nếu con sinh cùng thời với thầy,
cùng đi thi,
liệu con có độ tiến sĩ được không ạ?
Thầy nói,
ừ, không thành vấn đề.
Và rồi cậu nói thêm một câu,
đúng một câu mà lẽ ra không nên nói,
Thưa thầy,
con cũng nghĩ là con không thành vấn đề.
Ông thầy chỉ mỉm cười,
cậu là người có thể ngạo mạn được,
có thể ngạo mạn được.
Nhưng người học cho ấy,
khi bước ra khỏi cửa,
lòng nặng chịu,
và suốt mấy chục năm,
mỗi lần nhớ lại câu nói ấy,
ông ấy vẫn khó chịu,
vẫn đỏ mặt.
Sau này ông kể lại chuyện đó công khai,
như một lời tự thú.
Ông còn kể,
hồi 21 tuổi,
ông đã đẻ một tròm dâu,
chỉ vì sợ bị gọi là mấy cậu thanh niên,
mấy đứa trẻ con.
Ông ngồi ghế trên từ bé quen rồi,
và có một người bạn hiểu ông,
vỗ vai ông nói một câu,
cậu phải 10 năm đọc sách,
10 năm làm người rồi mới hiểu được lời tôi.
Và chúng ta thấy gì trong câu chuyện ấy?
Chúng ta thấy rằng,
một chân dung hoàn hảo
của người đang đứng ở cảnh giới thứ nhất.
Anh ta đã leo lên lầu cao,
anh ta thực sự đã nhìn thấy con đường tới chân trời.
Không phải anh ta nói phép,
thời anh ta cũng đã xác nhận là anh ta có tài.
Nhưng anh ta phạm đúng cái lỗi
mà cảnh giới thứ nhất luôn gài sẵn cho người đi qua.
Đó là,
anh ta nhầm việc nhìn thấy con đường,
với việc đã đi con đường ấy.
Thời đại của chúng ta,
chính là một cỗ máy khổng lồ sản xuất
cho những con người ở cảnh giới thứ nhất.
Mỗi ngày,
chỉ trong 3 phút lấy điện thoại,
bạn được cho xem con đường tới chân trời
của hàng chục người.
Một video tóm tắt 30 năm kinh nghiệm,
một bài viết quái gọn cả một triết học,
một câu trích dẫn thay cho cả một đời trải nghiệm.
Bạn gật đầu,
bạn tấm tắc,
bạn khen ngợi,
bạn thấy sáng ra,
bạn cảm thấy mình đã hiểu.
Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng,
câu thưa ấy nói rằng,
vọng tận thiên nhai lộ.
Có nghĩa là,
nhìn hết con đường tới chân trời.
Chữ vọng là nhìn,
chứ không phải chữ hành,
không phải là đi.
Và bây giờ,
chúng ta đi vào từng cảnh giới một,
Tân Vũ Khánh sẽ chỉ cho bạn đúng chỗ
mà người ta rơi xuống vực sâu.
Cảnh giới thứ nhất,
là phải có một mùa lá rụng
thì mới nhìn được xa.
Chúng ta hãy đọc lại câu thơ đầu tiên thật chậm.
Đêm qua gió tây thổi rụng lá cây sành biếc,
một mình lên lầu cao,
nhìn hết con đường tới chân trời.
Chúng ta để ý đến với đầu của câu thơ,
là trước khi có nhìn hết đường chân trời,
thì phải có gió tây thổi rụng lá.
Có nghĩa là gì?
Nghĩa là phải có một mùa thu,
phải có một cái gì đó tàn đi rụng xuống,
vỡ ra.
Khi cây còn xanh um lá,
bạn đứng trên lầu cao
cũng chẳng nhìn được gì cả.
Bởi vì bị lá che hết,
chỉ khi gió lạnh thổi trụi trơ lá,
tầm mắt mới được mở ra tới chân trời.
Đây là điều đầu tiên
mà chúng ta cần ghi nhớ.
Đó là,
cảnh giới thứ nhất
không sinh ra từ hứng khỏi,
nó sinh ra từ sự mất mát.
Người ta không tự nhiên ngồi xuống hỏi
đời mình rốt cuộc là để làm gì.
Người ta hỏi câu ấy
sau một lần đổ vỡ,
sau một cơn bão bệnh,
sau khi mất việc ở tuổi 40,
sau khi đứa con lớn lên
và không cần mình nữa.
Nếu hôm nay bạn đang trong một mùa gió tây,
thì xin đừng vội gọi đó là bất hạnh.
Rất có thể,
đó chính là lúc lá đang rụng
để bạn nhìn được xa hơn
cả đời trước đó cộng lại.
Với thứ hai,
là độc thướng cao lâu.
Một mình lên lẩu cao,
một mình không ai leo hộ bạn cả.
Đây là một trạng cô độc nhất,
vì lúc này bạn chưa có gì để cho ai xem,
chưa có gì để chứng minh mình,
và nói ra thì người ta là bảo bạn việt vông.
Kinh dịch đặt trạng này
ở hai hào đầu của quẻ càn
và hào sứ kiểu có lời rằng
tiềm long vật dụng,
con rồng nam ẩn chưa được dùng,
hào kiểu nhị là hiện long tại điển lợi kiến đại nhân,
tức là rồng hiện ra trên đồng
lợi cho việc gặp bậc đại nhân.
Và chúng ta để ý rằng,
việc phải làm ở trạng này
theo kinh dịch chỉ có một,
đó chính là định vị.
Biết mình đang là rồng hay là đang là sâu,
biết mình đang ở hào thứ mấy,
quẻ càn cho ta một mình chiết rằng
định đúng vị mới có địa vị.
Bởi vì một người dù sau này
có làm nên chuyện lớn đến đâu,
thì trong lúc còn yếu ớt,
chỉ một lực nhỏ thôi cũng đủ khiến anh ta gục ngã.
Cứ khăng khăng tranh hơn tua khi năng lực,
kiến thức,
tương trải đều còn mỏng,
thì kết cục là đâm đầu vào tưởng.
Nhưng đây mới là cái bẫy
mà chúng ta cần phải ngẫm kỹ.
Cảnh giới thứ nhất sung sướng lắm.
Vì đứng trên lầu cao nhìn thấy con đường,
cảm giác ấy giống hệt cảm giác đã đi tới nơi.
Bạn thấy rõ mọi thứ,
bạn hiểu được vấn đề,
bạn nhìn ra người khác đang sai ở đâu.
Và thế là ta ở lại đó.
Ta kể về con đường,
ta bàn luận về con đường,
ta phân tích rất sắc xảo
vì sao người kia đi con đường ấy mà không thành công.
Ta trở thành chuyên gia về một con đường
mà chính ta chưa từng đặt chân lên.
3 năm,
5 năm,
10 năm,
vẫn đứng trên cái lầu ấy.
Nhìn hết con đường chân trời là một cảnh giới thật,
nhưng lầu cao không phải là đích đến,
nó chỉ là chỗ để nhìn.
Vậy thì cái điều gì đã chặn người ta lại ở đó?
Kinh dịch chỉ đúng vào một hào duy nhất
và Đức Khổng Tử gọi cái hào đấy
bằng hai chữ là đa cụ,
nhiều sợ hãi nhất trong sáu hào.
Đó chính là cửa ải hoặc rược tải uyên,
bước chân khiến 9 phần 10 người quay đảo.
Trong hệ từ,
có một câu đúc kết cực kỳ sâu
về sáu hào của một quẻ dịch
và có lời rằng
nhị đa dự tứ đa cụ
Nghĩa là hào 2 thì nhiều vinh dự,
hào 4 thì nhiều sợ hãi.
Vì sao lại như vậy?
Là hào kiểu nhị của quẻ càn
là hiện long tại điển,
dương khí vừa mới nhúi lên khỏi mặt đất,
tinh thế ấy đẹp lắm,
ai nhìn cũng khen.
Đó là cảnh giới thứ nhất,
nghĩa là bạn có tiềm năng,
người ta khen bạn có tiềm năng,
bạn chưa mất gì cả.
Nhưng hào cử tứ thì khác hẳn,
lời hào chỉ có bốn chữ là hoặc rược tải uyên,
tức là hoặc là nhảy lên,
hoặc là ở lại trong vực.
Các nhà dịch học vĩ von điều này rất đời mà rằng,
giống như một con cá nhảy hay không nhảy,
giống như lù bị 3 lần tới liều chanh,
ra cắt lượng, ra hay không ra,
giống như bạn đi cầu hôn một cô gái,
cô ấy có gật đầu hay không,
không ai biết cả,
điểm ấy chắc chắn bạn không ngủ được.
Tiếp nữa là bước này bước ra,
nếu đúng thì như gấm thêm hoa,
lên thêm một tầng lầu,
nếu sai thì một bước sai cả bán thua.
Đó chính xác là cánh cửa nằm giữa cảnh giới thứ nhất
và cảnh giới thứ hai.
Và bây giờ Tân Phúc Khánh sẽ trả lời câu hỏi
mà tiêu đề của bài chia sẻ ngày hôm nay đã nói,
là vì sao phần lớn người đời dừng mãi ở cảnh giới thứ nhất.
Không phải bị lười,
mà vì ở cảnh giới thứ nhất bạn tuyệt đối an toàn.
Bởi vì người chưa nhảy thì chưa bao giờ thất bại,
người chưa mở quán thì cái quán trong đầu anh ta
lúc nào cũng đông khách.
Người chưa viết cuốn sách nào
thì cuốn sách trong đầu anh ta
lúc nào cũng hay hơn mọi cuốn sách trên kẻ.
Người chưa từng nuôi con
thì lúc nào cũng biết cách dạy con của người khác.
Câu cờ miệng của người đời đứng ở mãi hào bốn là
tôi mà làm thì tôi làm được.
Và câu ấy họ sẽ nói đến 5-70 tuổi.
Nhưng giả sử bạn đã nhảy,
giả sử bạn đã bước xuống lầu
và đặt chân lên con đường,
thì Tân Phúc Khánh phải nói thực với bạn một điều là
cảnh giới thứ 2 sẽ không lãng mạn như trong câu thơ đâu.
Tiếp đến chúng ta sẽ đến với cảnh giới thứ 2
là 5 năm không bắn một mũi tên ảo.
Y đới tiệm khoan trùng bất hối
nghĩa là đai áo dần rộng ra mà vẫn không hối tiếc.
Chúng ta hãy để ý chữ tiệm ở trong câu vừa rồi.
Tiệm ở trong câu vừa rồi có nghĩa là dần dần.
Không ai gầy đi trong một đêm.
Cảnh giới thứ 2 không phải là một cú nỗ lực anh hùng,
không phải là một trận chiến oanh liệt để bạn kể lại.
Nó chính là sự bao mòn.
Mỗi ngày một chút, một chút một,
đến mức chính bạn cũng không nhận ra
cho tới hôm cái đai áo tự nhiên rộng ra.
Kinh dịch đặt tên cho quy luật này bằng một quẻ là quẻ tiệm.
Hình tượng của nó là một cây mọc trên núi,
cây lớn dần theo thế núi, không thể nhảy cóc.
Người bình quẻ tiệm bằng một câu tục ngữ dân dã
mà sâu sắc vô cùng.
Đó là lòng mà nóng thì ăn không nổi đậu hũ nóng.
Tôi muốn kể lại cho bạn một câu chuyện
mà tôi cho là bức chân dung đẹp nhất của cảnh giới thứ 2 này.
Điển tích kể lại như thế này.
Thời cổ, có một thần xã thủ tên là Phi Vẹ
bắn trăm phát trăm trúng.
Có người tên là Kỳ Xương tìm đến xin học.
Phi Vẹ hỏi, cậu thực sự muốn học bắn cung?
Phải biết là không chịu khổ thì không học được bản lĩnh thật.
Kỳ Xương thưa, chỉ cần học được con không sợ khổ.
Thầy nhận rồi thầy nói rằng,
việc đầu tiên cậu về nhà là tập không chấp mắt,
bao giờ không chấp mắt được thì mới học bắn.
Kỳ Xương về nhà, nằm ngửa dưới khung cửi của vợ,
hai mắt trừng trừng nhìn cái bàn đạp lên đạp xuống không ngừng.
Ngày nào cũng thế, tháng nào cũng thế, hai năm ròng.
Cuối cùng anh đạt tới mức mũi rùi nhọn,
đâm sát khóe mắt mà hai mắt vẫn không chấp.
Anh hấn hở đến gặp thầy,
thầy gật đầu rồi nói,
thế vẫn chưa đủ, giờ cậu phải luyện mắt,
nhìn vật nhỏ mà thấy như vật lớn,
nhìn cái mờ nhạt mà thấy như cái rõ ràng.
Kỳ Xương lại về,
anh chọn sợi lông mảnh nhất ở đuôi con trâu,
một đầu buộc một con rận, một đầu treo lên cửa sổ,
rồi ngày ngày ngồi nhìn con rận ấy mắt không rời.
Ba năm nữa lại trôi qua,
con rận trong mắt anh cứ lớn dần, lớn dần,
cho tới khi nó to như một cái bánh xè.
Nhìn sang mọi vật khác,
thứ gì cũng to như quả núi.
Bây giờ anh mới cầm cung,
mũi tên xuyên đúng giữa tim con rận,
mà sợi lông trâu treo nó thì không đứt.
Câu chuyện trên cho ta thấy rằng,
thời gian của Kỳ Xương luyện tập tổng cộng là 5 năm,
và trong suốt 5 năm ấy,
Kỳ Xương không hề bắn một mũi tên nào.
Đó là bản chất thật của cảnh rơi thứ hai,
là phần lớn thời gian bạn sẽ làm những việc
trông chẳng liên quan gì tới mục tiêu của bạn cả,
và không ai vỗ tay,
và bạn sẽ nhiều lần tự hỏi,
thậm chí là nghi ngờ mình,
rằng mình có đang phí đổi hay không.
Nhưng đây mới là chỗ mà Kinh dịch
nghiêm khắc hơn hẳn câu thơ của Liễu Vĩnh,
đó là
kiên trì không phải lúc nào cũng là đức.
Quẻ Hằng nói về sự bền bỉ,
nhưng lời hào đầu tiên của nó lại là một lời cảnh báo rằng,
Tuấn Hẳng trinh hung,
có nghĩa là cứ đào mãi một chỗ,
không thôi thì là sẽ hung.
Và Hào Cửu Tứ còn phũ hơn với lời,
Điền vô cẩm,
tức là ruộng lúa thì làm gì có thú mà săn.
Như vậy chúng ta thấy rằng,
Kinh dịch đang nói thẳng với chúng ta một sự thật rằng,
kiên trì là tốt,
nhưng kiên trì sai chỗ không phải là phẩm hạnh,
đó là một lãng phí của một đời người.
Ruộng thì chỉ trông được lúa,
anh Vác Cung ra ruộng săn thú,
có kiên trì ba năm,
mười năm cũng không săn được con nào.
Một con sâu xanh nhẫn nại lột xác thì thành bướm,
vì nó vốn là tiền thân của bướm.
Nhưng nếu nó nhất định đổi biến thành con bọ vàng,
thì có vật cho đến chết cũng không thành.
Chưa hết,
Hào cuối của Quẻ Hằng còn có lời rằng,
Tuấn Hẳng hung,
tức là cố sức duy trì một cục diện bất biến,
cũng hung.
Kiên trì là phải nằm trong biến hóa,
chiếc xe đạp chỉ đứng vững khi bánh xe còn quay.
Không ai đi tới đích bằng một đường thẳng,
chỉ có đường xoáy chôn ốc đi lên,
là đường quanh co,
là đường khúc khỉu,
vừa đi vừa hiệu chỉnh.
Cảnh giới thứ hai không thưởng cho người bền nhất,
nó thưởng cho người bền đúng chỗ
và biết xoay khi cần xoay.
Nhưng điều thứ ba
mới là chỗ mà khiến chúng ta thực sự
cúi đầu trước trí tuệ của cổ nhân.
Bởi vì cảnh giới thứ ba
không phải là thứ bạn tìm thấy ở phía trước,
nó là thứ bạn thấy khi quay đầu lại.
Và sau đây chúng ta sẽ đến với cảnh giới thứ ba.
Cái tên kinh dịch đặt cho nó là Phục.
Tìm nàng trong đám đông trăm nghìn bạn,
trượt quay đầu lại,
người ấy vẫn đứng ở chỗ ánh đèn thừa thớt.
Hầu hết người đọc câu này đều tấm tắt
vì cái hình ảnh đầy thơ mộng diễm kiểu của nó.
Nhưng rất ít người để ý tới chi tiết quan trọng nhất.
Đó là,
cảnh giới thứ ba không nằm ở nơi xa hơn,
nó nằm ở chỗ quay đầu.
Cái mà bạn tìm kiếm suốt bao năm,
chen trúc giữa đám đông,
đèn hoa rực rỡ,
hoa ra,
nó vẫn ở đó,
ở chỗ ánh đèn tàn,
chỗ bạn đã đi qua mà không nhìn thấy.
Kinh dịch có hẳn một quẻ mang đúng ý nghĩa như vậy,
đó chính là quẻ Phục,
nghĩa là quay về.
Hào sơ kiểu của quẻ Phục nói rằng,
bất viễn Phục,
vô kỉ hối,
nguyên cát,
nghĩa là đi chưa xa,
đã quay về,
chính đạo,
không có gì hối hận,
rất tốt lành.
Và Đức Hồng Tử giải thích bằng một câu ngắn gọn,
ông nói rằng,
bất viễn chi Phục,
dĩ tu thật giã,
nghĩa là quay về khi chưa đi xa,
ấy là để tu sửa chính mình.
Và chúng ta thấy rằng,
trong hệ thống của kinh dịch,
đỉnh cao của một hành trình không phải là đi thật xa,
mà là biết quay về.
Hãy như tới bậc thầy Sóc Rít hay Sóc Crát,
người ta đồn ông là người trí tuệ nhất của Hy Lạc cổ đại.
Một học trò chạy đến hỏi nữ tiên tri
xem có ai trí tuệ hơn Sóc Crát hay không?
Câu trả lời là không có.
Nhưng bản thân Sóc Crát lại tự nhận mình là vô tri.
Điều đó khiến mọi người sửng sốt
và khiến chính ông cũng khó hiểu.
Thế là ông đi khảo sát tất cả những người tự tin rằng
mình có trí tuệ trong lĩnh vực của họ.
Và chẳng bao lâu sau,
ông phát hiện rằng,
ông hơn họ đúng một điểm duy nhất,
đó là ông không bị cái vô tri của mình che mắt.
Ông thừa nhận rằng,
hiểu biết của ông về chính bản thân ông
vẫn còn rất mù mờ,
vẫn cần tiếp tục nhận thức.
Rồi ông thốt ra câu bất hổ rằng,
điều duy nhất tôi biết,
đó là tôi không biết gì cả.
Chúng ta hãy đặt câu ấy cạnh câu,
trợt quay đầu lạc.
Hai câu đó chúng là một.
Người đi hết cảnh giấy thứ hai,
khi bừng ngộ,
không tìm thấy một kho báo mới lạ nào ở phương xa.
Anh ta quay về đúng cái điểm xuất phát,
nhưng lần này với một con mắt khác.
Cổ nhân cũng có một câu tương tự
đã nói từ hàng ngàn năm trước.
Đó là,
người quý ở chỗ có tự biết mình.
Vậy,
trong kinh dịch,
cảnh giấy thứ ba trông như thế nào?
Nó gói gọn trong năm chữ,
và tôi cho rằng,
đây là năm chữ đắt nhất
trong toàn bộ truyền thống dịch học.
Đó là câu,
thiện dịch giả bất bốc.
Nghĩa là,
người thực sự hiểu kinh dịch
thì không đi bói toán.
Đại sư Nam Hoài Cẩn giải thích rằng,
khi anh đã học thông rồi,
anh không cần gieo quẻ,
không cần xem tướng số nữa.
Nhìn một hiện tượng là anh đã biết
nó sẽ đi về đâu.
Hệ từ diễn đạt điều đó
bằng một câu khác,
với lời rằng,
thần nhi minh chi,
tồn hồ kỷ nhân.
Nghĩa là,
đạt tới chỗ sáng suốt như thần,
thì tất cả nằm ở chính con người ấy.
Đó là cảnh giấy thứ ba.
Không phải biết nhiều hơn,
mà là lúc này không cần công cụ nữa,
vì con mắt đã thành công cụ.
Nhưng cảnh giấy ấy,
có cái giá của nó,
nó không mua được bằng tiền,
không tải xuống được,
không nghe lỏm được
từ một video 15 phút.
Kể cả video này,
video mà Tân Phúc Khánh
đang chia sẻ tới các bạn.
Hẳn chúng ta còn nhớ câu nói
đã nói từ trước rằng,
là 10 năm đọc sách,
10 năm làm người,
20 năm,
đó là mức học phí.
Và đây là điều mà cổ nhân
muốn nhắn nổ lại cho chúng ta rằng,
đó là,
nếu bạn đang ở giữa trạng thứ hai,
đang mệt,
đang hao mòn gầy đi,
đang nghi ngờ chính mình,
thì trong hệ từ,
Đức Hồng Tử nêu ra 9 quẻ,
mà một con người phải có trong lòng,
dù có sống ở thời trị,
hay thời loạn.
Trong 9 quẻ ấy,
có một quẻ,
là quẻ khốn,
quẻ của cung đương,
của bế tắc.
Và,
ông nói về nó 2 lần.
Lần thứ nhất,
là khốn đức trì biển giã.
Khốn là chỗ để biện biệt phẩm chất.
Nghĩa là,
chỉ khi gặp khốn,
người ta mới biết
đức của mình dày hay mỏng.
Các nhà dân học bình rằng,
gặp khó khăn thì người ta
mới chịu suy nghĩ sâu,
mới biết đến tư duy,
mới bị kích trong vườn lên.
Lần thứ 2,
đức Hồng Tử nói rằng,
khốn cùng nhi thông.
Khốn chính là cung đường,
mà chính chỗ cung đường ấy,
lại là mài giữa ta,
mở ra một lối khác.
Có một câu nói rất hay,
với hình ảnh đầy chất thơ,
nhưng cũng ẩn chứa
đạo lý sâu sắc.
Và điều thú vị,
là ý nghĩa của câu ấy
rất tương đồng
với tinh thần
khốn cùng nhi thông,
mà tôi đặc biệt tâm đắc.
Đó là câu,
nước đến tận cùng là thác đỏ,
người đến đường cùng,
người hồi sinh.
Cho nên,
xin bạn hãy nhớ rằng,
nếu hôm nay,
bạn đang khốn khó,
đang khốn đốn,
bạn không phải đang thất bại,
mà bạn đang trà học phí
cho cảnh giới thứ 3.
Đó chính là cảnh giới phục,
quay về.
Phương Quốc Duy
dừng ở cảnh giới thứ 3,
nhưng kinh dịch thì không.
Quẻ can không kết thúc
ở Hào Cửu Ngũ,
với lời phi lòng tại thiên,
tức là con rồng bay giữa tròi,
năng lượng phát huy trọn vẹn.
Được xem là Hào đẹp nhất
trong 384 hào của kinh dịch.
Nhưng trên nó có một hào nữa,
đó là Hào Thượng Cửu,
với lời kháng lòng hữu hối,
tức là con rồng bay quá cao
sẽ có hối hận.
Đức Hồng Tử giải nghĩa chữ kháng
bằng ba vế.
Ông nói rằng,
chỉ biết tiến mà không biết lui,
chỉ biết con mà không biết mất,
chỉ biết được mà không biết thua.
Chúng ta thấy chỗ tinh tế ở đây là,
Vương Quốc Duy mô tả
ba cảnh giới của Việt Thành,
nhưng kinh dịch lại bổ sung
thêm cảnh giới của Việt Thổ giữ.
Sau khi đốn ngỏ,
sau khi bừng sáng,
sau khi cả thiên hạ công nhận bạn,
nếu bạn không biết rừng,
thì cảnh giới thứ ba
sẽ tự nó biến thành Hào Thượng Cửu.
Con rồng bay giữa tròi
chỉ cần bay thêm một nức nữa
là thành con rồng hối hận.
Đó là lý do vì sao trong kinh dịch,
người đặt cảnh giới cao nhất
thường là người trông có vẻ bình thường nhất.
Thưa quý vị và các bạn,
nếu để cố đọng lại
bài chia sẻ hôm nay bằng vài lời,
thì Tân Phúc Khánh xin công bấy điều sau
để chúng ta ghi nhớ đó là
Cảnh giới thứ nhất là nhìn thấy con đường,
nó dễ chịu đến mức phần lớn
người đời ở lại đó cả đời
và tưởng rằng nhìn thấy tức là đã đi.
Cơ ải thực sự nằm ở hào thứ tư,
kiểu tứ của quẻ can trong kinh dịch.
Đó là hoặc nhảy hoặc ở lại vực.
Người chưa nhảy thì mãi mãi chưa từng thất bại
và cũng mãi mãi chưa từng sống.
Cảnh giới thứ hai không thường
cho người bền bỉ kiên trì nhất
mà thường cho người bền bỉ kiên trì đúng chỗ
vì ruộng lúa thì làm gì có thú mà săn.
Cảnh giới thứ ba không nằm ở phương xa,
nó nằm ở chỗ bạn quay đầu lại
và học phí của nó là 10 năm đọc sách,
10 năm làm người.
Bây giờ tôi xin để lại cho bạn một câu hỏi.
Chỉ cần trả lời chính mình trong tối nay
khi chỉ còn bạn với chính mình.
Đó là cái điều mà bạn hiểu rõ nhất,
nói hay nhất, tự tin nhất,
bạn đã trả bao nhiêu giá cho nó.
Nếu câu trả lời là tôi đọc được, tôi nghe được, tôi thấy hợp lý
thì bạn đang đứng trên lầu cao
và đứng trên lầu cao không có gì xấu cả
chỉ là đừng nhầm nó với chân trời.
Còn nếu bạn muốn bước xuống
thì đừng lập kế hoạch 10 năm.
Hãy làm điều này ngay trong tuần
là chọn một việc duy nhất mà bạn thực sự muốn giỏi
và mỗi ngày dành ra 30 phút cho cái phần nhàm chán nhất.
Cái phần trông chẳng liên quan gì tới kết quả.
Đúng như kỷ xương nằm dưới khung cử tập không chấp mắt
và không đăng lên đâu cả, không kể với ai, chỉ âm thầm làm thôi.
Đó là bước đầu tiên của cảnh giới thứ hai
và nó luôn trông tầm thường như vậy.
Và nếu bạn muốn cùng tôi đi tiếp hành trình
đọc lại trí tuệ của cổ nhân bằng con mắt
của người đang sống giữa đời này
hãy like, share video và đăng ký kênh
để chúng ta không lạc mất nhau ở những trạng sau.
Cuối cùng tôi muốn để lại với bạn hình ảnh này.
Có một chàng trai 21 tuổi đẻ dâu
vì sợ người ta gọi mình là trẻ con.
60 năm sau, ông cụ ấy đứng trên bục giảng
kể lại chuyện mình từng lỡ miệng nói một câu ngạo mạn với thầy
và nói rằng mỗi lần nhớ lại vẫn còn đỏ mặt.
Cảnh giới thứ nhất là lúc bạn sợ người ta coi mình là trẻ con.
Cảnh giới thứ ba là lúc bạn dám kể cho cả thiên hạ
nghe rằng mình đã từng trẻ con đến thế nào.
Giữa hai chỗ ấy là cả một đời người.
Tân Phương Khánh xin kết thúc bài chia sẻ của mình tại đây.
Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã dành ra
thời gian quý báu của mình để lắng nghe bài chia sẻ này.
Một lần nữa xin kính chúc quý vị và các bạn cùng gia đình
luôn luôn được hạnh phúc, thành công và bình an trong cuộc sống.
Xin chân trọng, kính chào và hẹn gặp lại.
