In 1293, a 35-year-old man stepped down from the throne. He had not been overthrown, nor had he lost a battle. Just six years earlier, he had led the nation when Dai Viet defeated the Yuan-Mongol forces—not once, but twice.
Then, he handed the throne to his son, donned a simple brown robe, and retreated to the mountains.
In this video, I share three stories about that mountain and explore the line between legend and historical fact:
⏱ TABLE OF CONTENTS 00:00 Introduction 01:23 Story 1 — The King Who Left the Throne: Tran Nhan Tong and Three Explanations 05:13 Story 2 — Giai Oan Stream: Hundreds of Palace Maids and a Name 08:31 Story 3 — The An Ky Sinh Stone Statue and the 70-Ton Bronze Pagoda 11:41 Conclusion — One Mountain, Two Changes of Ownership
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
The video explores the history and legends of Mount Yên Tử in Quảng Ninh, a site recently recognized as a UNESCO World Heritage site. It focuses on the life of King Trần Nhân Tông, who abdicated his throne to pursue Buddhism, the tragic folklore of the Giải Oan stream, and the spiritual evolution of the mountain from a Taoist sanctuary to a Buddhist center.
Năm 1293, một người đàn ông 35 tuổi rời khỏi Ngai Vàng.
Ông không bị lật đổ, không thua trận, không bệnh tật.
Ngược lại, 6 năm trước đó, ông là người đứng đầu đất nước
khi Đại Việt đánh bại đội quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.
Không phải 1 lần, mà 2 lần.
Đế quốc Mông Cổ khi ấy đã nuốt gọn từ Trung Á sang tới Đông Âu.
Họ đến đây 2 lần và 2 lần phải rút.
Rồi người đàn ông đó giao Ngai lại cho con trai, khoác áo nâu
và đi lên 1 ngọn núi ở vùng đất này thuộc Quảng Ninh.
Ngọn núi tên là Yên Tử, đỉnh cao 1068m.
Hôm nay, mình kể 3 chuyện về ngọn núi đó.
Chuyện thứ nhất là chính người đàn ông ấy, vua Trần Nhân Tông
và câu hỏi mà 800 năm nay vẫn chưa ai trả lời gọn được là vì sao ông đi.
Chuyện thứ 2 là 1 dòng suối dưới chân núi.
Người ta gọi nó là suối Giải Oan và cái tên đó đến từ hàng trăm người phụ nữ.
Chuyện thứ 3 là trên đỉnh, 1 pho tượng đá mà truyền thuyết bảo là 1 đạo sĩ hóa thành
và 1 ngôi chùa đúc bằng 70 tấn đồng.
Ngày 12 tháng 7 năm 2025, cả quân thể này được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Văn hóa Thế Giới.
Nghĩa là chuyện hôm nay không phải chuyện của 1 ngọn núi hẻo lánh.
Đây là 1 trong những nơi vừa được cả thế giới công nhận.
Bắt đầu từ ông vua.
Chuyện thứ nhất, ông vua bỏ Ngai Vãng.
Trần Nhân Tông, sinh năm 1258, mất năm 1308.
Ông lên ngôi ngày 8 tháng 11 năm 1278, khi chưa đầy 20 tuổi.
Và gần như ngay lập tức, ông phải đối mặt với thứ mà cả châu Á thời đó đều sợ.
Quân Nguyên Mông.
Đội quân đã đánh sập nhà Kim, nhà Tống, đã tràn qua Trung Á, đã tới tận cửa ngõ châu Âu.
Tháng 11 năm 1282, ông cho họp hội nghị Bình Thàn, gọi các tướng lĩnh và tôn thất về bản cách đánh.
Sau đó là hội nghị Diên Hồng, nơi triều đình hỏi ý các bô lão trong dân.
Đây là chi tiết mà mình nghĩ đáng để ý.
Một ông vua 20 mấy tuổi đang nắm quyền tuyệt đối,
lại đi hỏi ý kiến những người già không có chức tước gì, xem nên hòa hay nên đánh.
Năm 1285, quân Nguyên sang lần thứ 2.
Đại Việt phải bỏ cả kinh thành, rút lui rồi phản công.
Cuối cùng quân Nguyên rút.
Năm 1287, họ sang lần nữa.
Lần này chuẩn bị kỹ hơn, mang theo cả đoàn thuyền lương.
Và năm 1288, trên sông Bạch Đằng, đoàn thuyền ấy bị đánh tạt.
Ở tuổi 30, Trần Nhân Tông là người đứng đầu một đất nước,
vừa làm được điều mà rất ít nơi trên thế giới làm được lúc đó.
Chặn được vó ngựa Mông Cổ 2 lần liên tiếp.
Giành vọng quyền lực chiến thắng, có đủ cả.
Rồi ngày 16 tháng 4 năm 1293,
ông nhường ngôi cho con trai là Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông.
Theo lệ nhà Trần, vua cha nhường ngôi, rồi vẫn làm thái thượng hoàng,
vẫn cùng con trông coi việc nước.
Đó là chuyện bình thường.
Nhưng ông không dừng ở đó.
Năm 1294, ông xuất ra.
Nơi ông xuất ra lần đầu là hành cung Vũ Lâm, thuộc đất Ninh Bình.
Nếu bạn còn nhớ tập về Cố Đô Hoa Lư, thì đó cũng chính là vùng đất ấy.
Núi Đá Vôi, sông Len giữa hàng,
chỗ mà 300 năm trước Đinh Tiên Hoàng chọn làm kinh đồ vị thế hiểm.
Nhà Trần dùng nó theo cách khác, làm nơi lui về.
Rồi năm 1299, ông lên Hản Yên Tử.
Ở đó, ông lấy hiệu là Trúc Lâm Đại sĩ,
và người đời sau quen gọi ông là Điều Ngự Giác Hoàng, hoặc gọn hơn Phật Hoàng.
Ông sáng lập một dòng thiền riêng của người Việt,
thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Bây giờ, tới câu hỏi khó.
Vì sao một ông vua thắng trận, đang ở đỉnh cao, lại bỏ tất cả để lên núi?
Có ba cách trả lời, và mình xin nói rõ là cả ba đều có người tin,
không cách nào bác được hẳn cách nào.
Cách thứ nhất, thuần tôn giáo.
Ông vốn mộ đạo Phật từ nhỏ.
Sử chép ông từng có ý đi tu ngay khi còn là thái tử,
nhưng bị vua cha giữ lại.
Nghĩa là việc lên núi không phải quyết định bất trợt,
mà là chuyện ông muốn làm từ đầu,
chỉ phải hoãn lại vì đất nước có giặc.
Cách thứ hai, thuần chính trị.
Nhà Trần có lệ nhường ngôi sớm để con lên ngôi lúc cha còn sống, tránh tranh giành.
Việc ông rút lui là làm đúng lệ nhà,
chỉ có điều ông rút xa hơn người khác.
Cách thứ ba, và đây là cách mình thấy sâu nhất.
Ông đã thấy tận mắt cái giá của chiến thắng.
Hai cuộc chiến ấy không phải chiến thắng sạch sẽ.
Kinh thành bị bỏ hai lần.
Ruộng đồng tan hoang.
Người chết không đếm xuể.
Ngay trong tôn thất cũng có người hàng giặc.
Một người trẻ tuổi cầm quyền qua trường ấy thứ,
tới khi thắng rồi,
có thể không còn thấy ngai vàng là phần thưởng nữa.
Ông mất ngày 16 tháng 12 năm 1308
tại Am Ngoạ Vân trên núi.
Xá lợi của ông được chia.
Một phần đưa về Lăng Quy Đức ở Phủ Long Hưng.
Một phần đặt trong Tháp Huệ Quang,
ngay sau Chùa Hoa Yên trên Yên Tử.
Tháp Huệ Quang tới nay vẫn còn
và bạn có thể đứng trước nó.
Nhưng trước khi lên tới đó,
trên đường leo núi,
bạn sẽ đi qua một dòng suối.
Chuyện thứ hai.
Dòng suối mang tên Giải Oan.
Trên đường lên Yên Tử,
gần chân núi,
có một dòng suối và một ngôi chùa nhỏ.
Chùa tên là Giải Oan,
suối cũng mang tên đó.
Giải Oan,
nghĩa là cởi bỏ nỗi oan.
Một cái tên như vậy,
đặt trong một dòng suối thì hẳn phải có chuyện.
Đây là chuyện dân gian trong vùng kể lại
và mình nói rõ ngay từ đầu.
Phần này không có trong chính sử.
Chuyện kể rằng,
khi Trần Nhân Tông lên núi,
con trai ông,
vua Trần Anh Tông,
không muốn cha ở lại đó.
Bạn thử đặt mình vào vị trí người con.
Cha vừa nhường ngôi cho mình,
vừa là người có uy tín lớn nhất nước,
giờ bỏ lên núi sống trong rừng.
Vừa thương vừa lo,
và có lẽ vừa sợ mất chỗ dựa.
Nên nhà vua ngầm sai
một đoàn cung tần mỹ nữ lên núi,
tìm gặp Phật Hoàng,
khuyên ông quay về triều.
Các bạn kể nói con số là hàng trăm người.
Có bạn nói một trăm.
Mình phải dừng ở con số này.
Không có tài liệu lịch sử nào xác nhận
bao nhiêu người.
Con số hàng trăm là do dân gian truyền lại.
Và trong chuyện dân gian,
con số thường mang nghĩa nhiều,
chứ không phải đến thật.
Đoàn người lên tới nơi,
họ khuyên,
ông không nghe.
Ông nói với họ rằng
hãy trở về triều đình
hoặc quay về quê cũ
mà làm ăn sinh sống.
Và rồi,
theo lời kể,
những người phụ nữ ấy chọn cách khác.
Họ xuống dòng suối Hổ Khê
dưới chân núi và chở mình.
Có bạn kể tất cả cùng xuống.
Có bạn kể một số chết đuối,
một số được cứu.
Khi biết chuyện,
Trần Nhân Tông cho lập một đàn tràng
ngay bên suối
để cúng,
cầu siêu,
giải nỗi oan
cho những người đã chết.
Cái đàn tràng đó
về sau được dựng thành chùa.
Và chùa mang luôn tên
của việc đã làm ở đó.
Chùa Giải Oan.
Bây giờ mình muốn nói
về chỗ khó của câu chuyện này.
Vì sao họ chết?
Đây là chỗ các bạn kể khác nhau,
và cũng là chỗ mà chính giới
nghiên cứu tranh luận.
Cách hiểu thứ nhất,
phổ biến nhất.
Họ chấm mình
để tỏ lòng chung,
để chứng minh rằng
nếu không khuyên được vua,
thì họ không còn
mặt mũi nào trở về.
Cách hiểu thứ hai,
thực tế hơn.
Những người phụ nữ này
bị đưa vào cung từ nhỏ,
không còn nhà để về,
không có nghề để sống,
không có chỗ đứng nào
ngoài cung cấm.
Lời khuyên hãy
Cách về quê cũ
mà làm ăn với họ
có thể là một cánh cửa
đóng lại
chứ không phải mở ra.
Nếu hiểu theo cách này,
thì bi kịch
không nằm ở lòng chung,
mà nằm ở chỗ
họ không còn đường nào khác.
Cách hiểu thứ ba,
đặt lại chính cái tên.
Đã có nhà nghiên cứu
hỏi thẳng,
gọi là giải oan,
thì oan ở đâu ra,
và ai gây ra nỗi oan ấy?
Bởi vì nếu đó
cần giải oan,
thì tức là có người bị oan.
Mà người bị oan
thì phải có nguyên nhân.
Mình không đưa ra
kết luận ở đây.
Nói nhiều về người kể hơn
là về sự việc.
Nhưng có một chi tiết có thật,
kiểm chứng được,
và mình thấy
nó nói được nhiều điều.
Trong cả quân thể yên tử
với hàng chục chùa,
am tháp,
thì chùa giải oan
là ngôi chùa duy nhất
có nhà thờ mẫu.
Thờ mẫu
là thờ người mẹ,
thờ nữ thần.
Giữa một ngọn núi
gắn với một ông vua
và một dòng thiền
do đàn ông lập ra.
Ngôi chùa duy nhất
thờ nữ thần
lại đúng là ngôi chùa
dựng lên
vì những người phụ nữ
Dù câu chuyện có thật
tới đâu,
thì cách bố trí ấy
cho thấy
người đời sau nhớ họ.
Từ dòng suối,
đường lên đỉnh
còn rất dài.
Chuyện thứ 3
Phò tượng đá
vào ngôi chùa 70 tấn
Đỉnh Yên Tử
cao 1068 mét.
Đường lên đi qua rừng trúc,
qua những hàng tùng cổ
mà dễ nổi hẳn
lên mặt đường mòn,
qua chùa Hoa Yên,
qua tháp Huệ Quang.
Gần tới đỉnh,
bên đường
có một phò tượng đá
tượng cao chừng 2 mét
hình một người khoác áo tròang
đứng nhìn xuống
không có bể,
không có mái tre
nó đứng đó
giữa gió
Người ta gọi đó
là tượng An Kỳ Sinh
Và đây là chỗ
mà lịch sử của ngọn núi này
rẽ ra một hướng
mà rất ít người biết
Trước khi Yên Tử là đất Phật
nó từng là núi tiên
An Kỳ Sinh
Theo thư tịch cổ
của cả Việt Nam
lẫn Trung Hoa
là một đạo sĩ
Ông tìm tới ngọn núi này
khoảng 2000 năm trước
để luyện thuốc trường sinh
Truyền thuyết kể rằng
Ông luyện thành
rồi đắc đạo
và bay lên trời
Còn dân gian trong vùng
kèm một bản khác
ngắn hơn
và lạ hơn
Ông hóa thành đá
và phò tượng bên đường
chính là Ông
Vậy phò tượng ấy
thật sự là gì?
Ở đây
có 3 cách nhìn
Cách thứ nhất
của địa chất
Đó là một khối đá tự nhiên
bị gió và mưa bào mòn
hàng nghìn năm
thành hình dáng giống người
Trên núi cao
đá bị phong hóa theo thớ
ra những hình rất lạ
Chuyện này không hiếm
Cách thứ 2
Đó là đá tự nhiên
nhưng người xưa đã đéo thêm
cho gió hình
nghĩa là nửa của tự nhiên
nửa của con người
Cách thứ 3
là cách của người đi lễ
Đó là ông đạo sĩ
hóa đá thật
đứng canh núi
từ đó tới nay
Điều mình thấy đang nói
không nằm
ở việc bản nào đúng
Nó nằm
ở chỗ này
Một ngọn núi
của đạo giáo
có tiền
có thuốc trường sinh
sau đó thành
trung tâm Phật giáo
lớn nhất nước
và phò tượng ông đạo sĩ
vẫn được để nguyên
bên đường lên chùa
Không ai đập nó đi
không ai giấu nó
Người đi lễ Phật
vẫn dừng lại tháp hương
cho ông tiền
Đó là cách người Việt
xử lý hai tín ngưỡng
gặp nhau trên
cùng một mảnh đất
không xóa
mà xếp cạnh
Bạn để ý là
mình đã kể chuyện y hệt
như vậy
ở tập với tháp Trăm
với pho tượng nữ thân
ở Nha Trang
mà cả người Trăm
lẫn người Việt
cùng thờ dưới hai cái tên
Lên tới đỉnh
là tới chùa đồng
Ngôi chùa
nằm trên điểm cao nhất
quanh nằm mây phủ
gió mạnh tới mức
Chùa đồng
đã qua nhiều đời
Có bản chùa nhỏ
từ thời Lê
có bản dựng lại
thời Nguyễn
đều nhỏ
chỉ vừa một người ngồi
Ngôi chùa bạn thấy
hôm nay được đúc mới hoàn toàn
trong 2 năm 2006
và 2007
Khánh Thành tháng 9
năm 2007
Nó nặng 70 tấn
toàn bộ bằng đồng
70 tấn đồng
đưa lên đỉnh núi
cao hơn 1.000m
Và đây là chỗ
mình muốn bạn dừng lại một chút
Nếu bạn xem tập trước
tập về 5 báu vật biến mất
thì bạn còn nhớ
trung quy điền
nặng 7-3 tấn
vạc phổ minh
6.000 cân
tượng chùa
Quỳnh Lâm
cao 20m
Tất cả đều bằng đồng
Tất cả đều bị nấu chảy
thành súng
700 năm sau
người Việt đưa
70 tấn đồng
lên đỉnh một ngọn núi
gấp gần 10 lần
quả chùa ngày xưa
Không phải để chứng minh
gì với ai
Chỉ là bây giờ
làm được
và không còn ai
tới lấy đồng
đi đúc súng nữa
3 chuyện
và bây giờ
là thứ nối chúng lại
Yên Tử
là một ngọn núi
đã hai lần đổi chủ
không phải bằng chiến tranh
mà bằng tín ngỡ
Đầu tiên
nó là núi Tiên
của một ông đạo sĩ
đi tìm thuốc trường sinh
tức là đi tìm cách sống mãi
Sau đó
nó thành núi Phật
của một ông vua
bỏ ngai vàng
tức là đi tìm cách buông bỏ
Hai người
hai hướng ngược hẳn nhau
trên cùng một ngọn núi
một người muốn giữ mãi
một người muốn thôi giữ
Và cả hai
đều được thơ ở đó
cách nhau
vài trăm mét đường lên
Còn dòng suối dưới chân núi
thì kể phần
mà hai câu chuyện kia không kể
Chuyện buông bỏ
của ông vua
là chuyện đẹp
Nhưng khi một người
ở vị trí đó buông
luôn có những người khác
không được chọn
Những người phụ nữ
dưới suối giải oan
không có ngai vàng để bỏ
cũng không có núi để lên
Họ chỉ có lệnh
phải đi khuyên
và một câu trả lời
là không
Người đời sau
dựng cho họ
ngôi chùa duy nhất
trong cả quần thể
có nhà thờ mẫu
Mình nghĩ đó là cách nhớ
khá tử tế
Ngày 12 tháng 7
năm 1925
tại kỳ họp thứ 47
UNESCO ghi quần thể di tích
và danh Thắng Yên Tử
Vĩnh Nghiêm
Côn Sơn
Kiếp Bạc
vào danh mục di sản
văn hóa thế giới
Nghĩa là ngọn núi này
cùng với dòng suối
và pho tượng đá
và ngôi chùa 70 tấn
giờ nằm chung danh sách
với Mỹ Sơn
với Hoa Lư
và Tràng An
với Thanh Nhà Hồ
Toàn những nơi
mình đã kể
ở các tập trước
Có một chi tiết cuối
mình để dành tới đây
Trần Nhân Tông
có một người con gái
tên bà
là Huyền Trân
Trong một chuyến đi
về phương Nam
sau khi đã đi tu
ông tới Chiêm Thành
ở lại đó khá lâu
và hứa gả
con gái mình
trong vùa Trăm
Nếu bạn xem tập về
Tháp Trăm
và tập đầu tiên
của kênh
Về Ba Lời Nguyên
ở Huế
thì bạn đã gặp bà rồi
Đền Huyền Trân
ở Huế
chính là thờ bà
Nghĩa là ba tập
cách nhau
rất xa
trong loạt này
nói về
ba vùng đất khác nhau
thật ra
nối vào nhau
bằng đúng
một gia đình
Còn bạn thì sao?
Bạn nghĩ Trần Nhân Tông
lên núi Vì Đạo
vì lệ nhà Trần
hay vì ông đã thấy
quá đủ chiến tranh?
Và một câu hỏi nữa
Nếu được đặt lại tên
cho dòng xuôi ấy
bạn sẽ đặt tên gì?
Hãy để lại bình luận
cho mình biết nhé
Và nếu bạn thích
những câu chuyện như thế này
đừng quên nhấn like
đăng ký kênh hồ sơ
Truyền Thuyết Việt
và bật chuông thông báo
Tập sau
mình vẫn ở trong
đúng cái quần thể
vừa được UNESCO công nhận
nhưng đi sang
một nơi khác
Đó là đền thờ vị tướng
đã chỉ huy
2 trận đánh
mà mình nhắc
ở đầu tập này
Người mà tới nay
dân vẫn gọi là
Đức Thánh Trần
Ở đó có tục xin ấn
đầu năm
có chuyện một tên
tướng giặc bị chém
3 lần không chết
và có một nghi lễ
mà tới giờ
vẫn gây trành cãi
Cảm ơn bạn
đã xem đến tận đây
Hẹn gặp lại các bạn
trong tập tiếp theo