Trung Quốc Vỡ Đập Kinh Hoàng! 1 Đêm 62 Con Đập Bay Mau, 8/8/1975

KHUNG TRỜI MỚI - NEWSKY TV
2.9K Người theo dõi
1.1K Lượt xem video·31 thg 8, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Một giờ sáng ngày 8 tháng 8, một miệng vỡ rộng 372 mét bị xé toạc chỉ trong vài giây.
600 triệu mét khối nước lao ra với lưu lượng 78.100 mét khối mỗi giây.
Một bức tường nước cao 9 mét, rộng 15 cây số, quét thẳng xuống Hạ Du,
bên dưới thị trấn Bản Kiều với hơn 10.000 cư dân nang ngủ.
Không còi báo động, không một lời cảnh báo.
Khi họ mở mắt ra, họ đã ở trong nước.
Chỉ trong một đêm, 6-2 con đập của tỉnh Hà Nam sụp đổ theo nhau như một chuỗi pháo.
12.000 cây số vương chiềm hẳn, hơn 171.000 người thiệt mạng.
Nhưng thứ đáng sợ nhất không phải là con số, mà là 2-3 năm trước,
cái đêm đó, đã có một chuyên gia viết ra chính xác từng chữ chuyện này sẽ xảy ra.
Bản báo cáo của ông bị nhét vào ngăn kéo,
ông bị đẩy đi lao dịch ở vùng hèo lánh vì dám nói ra sự thật.
Vậy người đàn ông ấy là ai? Thảm họa vỡ đập kinh hoàng của Trung Quốc xảy ra như thế nào?
Hôm nay chúng ta hãy nói về vỡ đập Bản Kiều.
Lợi quanh xin trân trọng kính chào quý vị khán giả đang theo dõi chuyên mục bình luận chuyên sâu của Khung Chiều Mới.
Nếu đây là lần đầu đến với kênh, quý vị đừng quên ghi danh đăng ký và nút chuông báo bên cạnh
để cập nhật những bản tin mới nhất từ chúng tôi quý vị nhé.
Ngay sau đây xin kính mời quý vị cùng theo dõi chủ đề bình luận ngày hôm nay.
Vâng thưa quý vị, có thể nói đây là thảm họa vỡ đập lớn nhất trong lịch sử loài người.
Số người chết vượt xa Chernobyl.
Nhưng ngay tại Trung Quốc, phần lớn người dân gần như không biết nó từng tồn tại.
Không có bảo tàng, không có ngày tưởng niệm.
Suốt hơn 30 năm, hồ sơ của nó nằm trong sanh mực tuyệt mật.
Hôm nay, Lê Vănh sẽ dẫn quý vị đi lại từ đầu.
Từ con sông sinh ra nó đến người đàn ông đã cố ngăn nó lại.
Và cái đêm mà mọi cảnh báo đều đã quá muộn.
Câu chuyện này không bắt đầu từ cơn bão, nó bắt đầu từ một con sông.
Sông Hoài, một trong những con sông quan trọng nhất miền đông Trung Quốc,
chảy từ tỉnh Hà Nam ra Hoàng Hải.
Và nó nổi tiếng là con sông khó lường bợt nhất.
Mùa mưa thì lưu lượng tăng vọt, nước dâng nhanh, lũ tràn trên dựa rộng.
Mùa khô thì dòng chảy tột xuống, cả vùng thiếu nước cho sinh hoạt lẫn cho đồng ruộng.
Nhưng thứ khiến sông Hoài trở nên nguy hiểm không chỉ là thiên nhiên.
Trong thế chiến thứ hai, rất nhiều đê điều và đập nhỏ dọc con sông này
đã bị phá hủy để làm chậm bước tiến của quân Nhật.
Về mặt quân sự, việc đó gần như không mang lại hiệu quả gì.
Về mặt dân sinh, nó để lại một hệ thống thủy lợi tan nát.
Chiến tranh kết thúc, sông Hoài không những không được khôi phục,
mà còn rơi vào trạng thái mất kiểm soát hoàn toàn.
Hai trận lũ lớn liên tiếp năm 1949 và 1950 đã nói lên tất cả.
Trước tình hình đó, một dự án quy mô lớn được khởi động với cái tên rất rõ ràng,
trị thủy sông Hoài.
Các kỹ sư phân tích và nhận ra sông Hoài không phải một dòng chảy đơn lẻ.
Nó nhận nước từ hàng loạt nhánh nhỏ đổ về từ vùng núi phía tây Hà Nam.
Trong đó có sông Nhữ.
Từ đó họ đi tới một giả thuyết, nếu khóa được nút thắt ở khu vực sông Nhữ,
có thể điều tiết được cả lưu lượng đổ vào sông Hoài,
và giải pháp là xây một con đập lớn ngay tại đó.
Con đập ấy tên là Bản Kiều.
Bây giờ Lê Banh muốn quý vị chú ý vào một con số.
Thời gian thi công 14 tháng.
Có thể quý vị chưa hình xung ra con số này lớn hay nhỏ.
Lê Banh nói như thế này, ngày nay nếu xây một tòa trung cư bình thường trong thành phố,
riêng câu phê duyệt và khảo sát nền móng thôi, một năm rưỡi chưa chắc đã xong thủ tục.
Còn trong 14 tháng của năm 1951 và 1952,
người ta phải đào đất, phải đắp thân đập, phải tích nước,
phải hoàn thiện cả hệ thống thủy lợi đi kèm.
Kết quả thì không cần đoán cũng biết,
con đập hoàn thành trước khi người ta thực sự hiểu rõ dòng sông mà nó phải kiểm soát.
Dữ liệu thủy văn chưa được nghiên cứu đầy đủ,
biên độ an toàn không đủ,
nó giống như một đứa trẻ sinh ra đã mang bệnh trong người.
Ngay từ ngày đầu tiên, sinh mệnh của nó đã bắt đầu đếm ngược.
Và có một điều nữa, ngay từ khi còn nằm trên bàn vẽ,
con đập này đã bị đặt lên vai những nhiệm vụ vượt xa khả năng thực tế của nó.
Nó phải giải bài toán lũ luột kéo dài hàng thế kỷ của sông Hoài,
nó phải cung cấp điện cho công nghiệp hóa,
nó phải tạo ra một hồ chứa khổng lồ để chống hạn cho cả tỉnh Hà Nam.
Đây là điểm mà rất nhiều người bỏ qua.
Chính vì cố gắng làm tất cả mọi thứ,
nó trở thành thứ không làm tốt bất cứ điều gì.
Sau trận lũ năm 1954, phía Trung Quốc quyết định ra cố.
Lần này có sự tham gia của các chuyên gia liên xô.
Người ta đào mở từng khe nứt rồi lấp chặt lại.
Dùng bơm vữa áp lực cao làm thân đập kín hơn,
nâng đỉnh đập lên thêm 3 mét.
Dung dịch hồ từ 240 triệu mét khối tăng một mạch
lên gần 500 triệu mét khối.
Cải tạo xong, con đập được treo lên một tấm biển mạ bàng với 6 chữ
đập sắt nghìn năm không sập.
Và người dân tin từ nay lũ có đến thì cũng yên tâm.
Đã có đập sắt chắn rồi, nước sẽ phải đi đường khác.
Nhưng có một người không tin, ông tên là Trần Tinh.
Khi ấy là một trong những chuyên gia thủy văn hàng đầu Trung Quốc
và là người từng tham gia thiết kế ban đầu.
Khi cả nước đang vỗ tay khen ngợi,
ông làm một việc khiến rất nhiều người khó chịu.
Ông viết một bản báo cáo chỉ dõi từng chữ 3 vấn đề trí mạng.
Thứ nhất, cửa xà lũ quá ít.
Ông đề nghị lắp 12 cửa xà để giảng tài khi mưa lớn.
Thiết kế cuối cùng chỉ giữ lại 5 cửa.
Các bạn có thể hiểu thế này.
Một dạp chiếu phim chiếu 1.000 người mà chỉ mở 2 lối thoát hiểm.
Bình thường thì không sao.
Một khi có chuyện là nghẹt cứng tập thể.
Thứ hai, ở thượng nguồn Bản Kiều,
người ta đã xây dày đặc hơn 100 hồ chứa lớn nhỏ.
Tiêu chuẩn không đồng nhất, giống như một chuỗi pháo buộc liên nhau.
Chỉ cần một quả bắt lửa, cả tuyến sẽ nổ dây chuyền.
Thứ ba, nếu gặp thời tiết cực đoan,
không một thôn chấn nào ở Hạ Du có thể trụ nổi.
Bản báo cáo viết rất chuyên môn.
Số hiệu, logic, kết luận đều đầy đủ.
Nó được gửi đến đúng nơi cần gửi, rồi bị nhắt vào ngăn kéo.
Có người cười Trần Tinh lo xa vô cớ.
Có người nói ông không thực tế.
Một lời cảnh báo viết bằng lương tâm nghề nghiệp,
cứ thế bị một câu nói đè xuống, không bao giờ được lật ra nữa.
Còn Trần Tinh thì bị đẩy ra khỏi công trình.
Vào thời điểm đó, một nhà khoa học quá thẳng thắn,
không phải thứ mà người ta cần.
Không ai biết bản báo cáo bị ném vào ngăn kéo ấy,
sau này sẽ được kiểm chứng bằng hàng trăm nghìn si mạng vô tội.
Nhưng con đập còn có một kẻ thù nữa,
và kẻ thù này đến từ một nơi mà không ai ngờ tới.
Nó đến từ những cánh rừng.
Trong chiến dịch đại nhảy vọt cuối những năm 1950,
người dân được khuyến khích dựng lò luyện kim ngay trong sân nhà,
nấu chảy nồi niêu song chảo để làm ra thép.
Nỗ lực đó thất bại hoàn toàn vì kim loại tạo ra có chất lượng cực kém,
nhưng nó để lại một hậu quả lâu dài hơn nhiều.
Vì không đủ than, người ta đốt lò bằng gỗ
và những vùng rộng lớn của tỉnh Hà Nam bị chặt chuội.
Chúng ta đều biết cây rừng giữ vai trò như thế nào.
Sự đất hạn chế xoán mòn, chặn bồn cát trôi xuống.
Khi rừng biến mất, bồn cát ồ ạt trôi về theo dòng nước.
Suốt mấy chục năm, mỗi lần lũ thượng nguồn cuốn bồn cát đổ vào hồ chứa,
dòng chảy chậm lại, bồn cát âm thầm lắng xuống đáy.
Lớp này chống lớp kia.
Đến năm 1975, dưới đáy hồ đã hình thành một ngọn núi bồn dày tới vài chục mét.
Và rồi mùa hè năm 1975, bão số 3 năm 1975, tên quốc tế là Nina,
hình thành trên vùng biển Philippines vào cuối tháng 7.
Ban đầu chỉ là một vùng áp thấp,
nhưng nó mạnh lên rất nhanh với sức gió vượt 250 km mỗi giờ.
Nina quét qua Đài Loan rồi đồ bộ vào Tấn Giang, Phúc Kiến ngày 4 tháng 8.
Theo quy luật viết trong sách giáo khoa, bão sau khi lên đất liền sẽ suy yếu rồi tan đi.
Đó là kiến thức phổ thông.
Nhưng Nina thì không.
Nó lao thẳng vào nội địa, băng qua Phúc Kiến sang Tây.
Hồ Bắc chạy liền hơn 100 km.
Ai cũng tưởng nó sẽ tan giữa đường.
Nhưng không, nó như bị thứ gì đó gọi tới.
Đi lên phía Bắc rồi dừng lại trên bầu trời Chú Mã Điếm, tỉnh Hà Nam.
Bất động như bị đóng đinh ở đó.
Nó đang đợi gì?
Nó đang đợi khối không khí lạnh tràn xuống từ phương Bắc
hay luồng khí đối đầu trực diện ngay trên bầu trời Chú Mã Điếm.
Không bên nào lùi.
Trên bầu trời, toàn bộ hơi nước mà cơn bão mang theo từ Thái Bình Dương
bị hai con quái vật khổng lồ này giữ chặt trên một vùng đất
rộng 12.000 cây số vuông.
Điều này giống như treo cả một đại dương trên đầu một viện thành,
rồi vặn mở vòi nước.
Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 8,
Chú Mã Điếm nhân tiếp hướng ba trận mưa cực lớn
tại trạm Lâm Trang, trung tâm mưa,
lượng mưa trong 6 giờ đạt 830,1 mm.
Con số này lập tức phá kỷ lục thế giới khi đó.
Lượng mưa tích lũy trong 24 giờ đạt 1060 mm.
Lượng mưa trung bình cả năm của Chú Mã Điếm chỉ hơn 800 mm.
Trời đã chút lượng mưa của hơn một năm xuống trong một ngày.
Còn giới hạn thiết kế của hồ chứa Bản Kiều là chịu được khoảng 300 mm mưa mỗi ngày.
Trận mưa này gấp 3,5 lần giới hạn thiết kế của nó, thưa quý vị.
Nước lũ điên cuồng đổ vào hồ chứa.
Mực nước dâng lên bằng tốc độ mắt thường cũng thấy.
Mỗi giờ tăng nửa mét, một mét, hai mét.
Phản ứng đầu tiên của mọi người là mở cửa xả lũ.
Nhưng không ai biết hành động đó gần như đã không còn ý nghĩa.
Bởi vì khi nước lũ đến, lớp bồn nhão tích tụ hàng chục năm dưới đáy hồ bị khuấy tung lên.
Đá và rác tràn thẳng về phía các cửa xả.
Đường xả lũ vốn đã ít ỏi dừa tê liệt hoàn toàn.
Cái hồ chứa lẽ ra phải xả được nước, cứ thế biến thành một chiếc nồi áp suất bị kín.
Bên trong là gần 500 triệu mét cối nước, mà nước vẫn liên tục đổ thêm vào.
Không ai biết chiếc nồi này còn chịu được bao lâu.
Đêm muộn ngày 7 tháng 8, nước lũ bắt đầu tràn qua tường trắn sóng.
Công nhân và chiến sĩ trên đập như phát điên, nhét mọi thứ vào các chỗ hở.
Bao cát giơm dạ ván gỗ, có người ném cả chăn bông trên người xuống,
có người tay không ôm đá chất lên.
Nhưng quý vị hãy hiểu, đối diện với họ là hàng trăm triệu tấn nước.
Những bao cát ấy, những tấm chăn bông, vừa rơi xuống còn không kịp phát ra tiếng động,
giống như ném một nắm hạt gạo vào dòng nước đang xả của đập tam hiệp.
Và đây là chi tiết mà Lê Oanh muốn quý vị nghe thật kỹ.
Cùng đêm hôm đó, tại một cuộc họp chống lũ khẩn cấp ở Trịnh Châu,
chính Trần Tinh đã lên tiếng.
Ông đề nghị lập tức cho nổ đường xả lũ phụ của Bàn Kiều để mở thêm lối thoát cho nước,
đề nghị đó không cách nào truyền tới được Bàn Kiều.
Hai ba năm trước, ông viết báo cáo và không ai đọc.
Hai ba năm sau, ông nói đúng thêm lần nữa, và lần này không ai nghe được tiếng ông.
Ở đầu bên kia, Ban Quản lý Hồ Chứa cũng đang tuyệt vọng.
Lúc 19h30 ngày 7 và 0h20 ngày 8, họ hai lần dùng thiết bị liên lạc quân sự,
gửi điện tối khẩn, xin cho phi cơ ném bom phá đường xả lũ phụ.
Cả hai bước điện đều không tới được tay lãnh đạo cấp trên.
Liên lạc đã đứt, điện thoại không gọi được, vô tuyến cũng không.
Cuối cùng trong tay họ chỉ còn lại một thứ súng tín hiệu.
Thế là bộ đội trên đập bắn pháo hiệu đỏ lên bầu trời đen kịt,
rồi chịa súng lên trời nổ đạn báo động.
Còn dưới các thôn làng hạ du, người ta chở mình trong trăn.
Có người lầm bẩm sao sấm mãi chưa dứt rồi rút sâu hơn vào trăn và ngủ tiếp.
Vì sao? Vì chưa từng có ai quy ước với họ rằng tiếng súng đó nghĩa là gì.
Không phải họ ngủ say, là chưa một ai nói cho họ biết rằng
khi nhìn thấy pháo hiệu đỏ trên bầu trời thì phải bỏ nhà mà chạy.
Những phát súng ấy trở thành lời cầu cứu cô độc nhất trên đời.
Rồi gần sáng mưa lớn bỗng dừng lại, yên lặng đột ngột đến mức như có người vừa tắt công tắc.
Trên bầu trời đêm tậm chí lộ ra vài ngôi sao,
mực nước bắt đầu hạ xuống, công nhân trên đập vỡ hòa.
Có người quỳ xuống đất khóc, có người ôm đồng đội mà hét lên, qua được rồi, qua được rồi.
Ngay khoảnh khắc đó, một kỵ sư già bỗng nghìn chầm chầm vào thân đập.
Cả người cứng đờ, ông không hét, cũng không chạy, chỉ quay đầu lại nói bằng giọng gần như không nghe thấy.
Nước không hạ là thân đập đã thủng rồi.
Lời còn chưa dứt, mặt đất dưới chân bắt đầu dung chuyển.
Một giờ sáng ngày 8 tháng 8 năm 1975, khi mực nước chạm đỉnh 117,94 mét
và tràn qua tường chắn sóng, đập bản kiều vỡ hoàn toàn ở đoạn lòng sông chính.
Miệng vỡ rộng 372 mét bị xé toạc chỉ trong vài giây.
Gần 600 triệu mét khối nước chút ra.
Trong 6 giờ, hơn 700 triệu mét khối nước đổ xuống hạ ru.
Lưu lượng tại khoảnh khắc vỡ đập đạt 78.100 mét khối mỗi giây.
Con ru đó lớn cỡ nào?
Thác Niagara, một trong những thác nước nổi tiếng nhất thế giới.
Lưu lượng mỗi giây còn chưa bằng một phần rất nhỏ của nó.
Chân đoạn 45 km từ chân đập tới tuyến đường sắt Kinh Quảng,
dòng lũ tạo thành một bức tường nước cao từ 5 đến 9 mét, rộng từ 12 đến 15 km,
lao đi với tốc độ có nơi lên tới 50 km mỗi giờ.
Gần 10.000 cư dân thị trấn bản kiều, gần như không ai kịp thoát,
nhưng đó mới chỉ là quân cờ domino đầu tiên.
Trước đó nửa tiếng lúc 0 giờ 30 cùng đêm, đập thạch mạng thang cũng đã chản vỡ,
xả rạch 224 triệu mét khối nước chỉ trong 5 tiếng rưỡi,
rồi điền cương, rồi chúc câu, rồi 58 hồ chứa nhỏ.
Đúng như Trần Tinh viết trong bản báo cáo 2-3 năm trước,
chúng nổ dây chuyền như một chuỗi pháo buộc liền nhau.
Tổng cộng 62 con đập biến mất trong một đêm,
12.000 cây số phương đất đai chìm dưới nước chỉ sau một đêm.
Hơn 100 km đường sắt Kinh Quảng bị cuốn đất,
tuyến huyết mạch Bắc Nam của Trung Quốc ngừng chạy tàu 18 ngày
và bị ảnh hưởng vận tải suốt 48 ngày.
Gần 6 triệu giang nhà đổ dập, khoảng 11 triệu người trong vùng bị nạn,
hàng triệu người mất kẹt trên mái nhà, trên ngọn cây kêu cứu mà không ai nghe thấy.
Riêng tại Tọa Bình, huyện nằm trực diện trên đường đi của Lòng Lũ,
hàng trăm nghìn người bị cuốn vào biển nước và vài vật lộn sống sót trong tuyệt vọng.
Nhưng cơn ác mộng thật sự chỉ bắt đầu sau khi nước lũ rút.
Nước đọng ngâm suốt mấy tuần liền trong cái nóng mùa hè,
nguồn nước uống bị ô nhiễm trên sự rộng.
Dịch bệnh đường ruột lan khắp vùng bị ảnh hưởng, lương thục mắt trắng,
thuốc men và khẩu phần ăn chỉ có thể trông chờ vào phi cơ trực thăng thả xuống.
Và chính ở đây, câu chuyện sẽ sang một hướng mà Lê Banh nghĩ quý vị cần phải biết.
Sau thảm họa, thông tin bị kiểm soát cực kỳ chặt chẽ,
trong suốt nhiều năm chỉ có rất ít người sống sót kể lại được những gì đã xảy ra.
Dữ liệu chính thức gần như không tồn tại cho tới khi,
vài báo cáo nội bộ hé lộ hơn một thập kỷ sau đó.
Cho tới tận hôm nay, con số người chết vẫn chưa bao giờ được xác nhận rõ ràng.
Con số chính thức được công bố là 26.000 người, và đây là số người chết trực tiếp do dòng lũ.
Nhưng chỉ 12 ngày sau thảm họa, khi nhiều khu vực còn chưa thể tiếp cận được,
Tỉnh Uỷ Hà Nam đã báo cáo lên Trung ương một ước tính sơ bộ là 85.600 người.
Còn các nghiên cứu quốc tế khi tính cả những người chết vì dịch bệnh,
đói khát và phơi nhiễm trong những tuần sau đó, đưa ra con số khoảng 171.000 người.
Một số đánh giá khác còn đẩy con số này lên tới 230.000.
Ba con số, một sự kiện, chênh nhau gần 10 lần.
Và dự tranh lịch đó tự nó đã là một câu trả lời.
Ngày nay, hồ chứa Bản Kiều đã được xoay lại tại vị trí cũ.
Đập mới cao 50,5 mét, cửa giả lũ từ 5 cái mở rộng lên 9 cái,
năng lực giả lũ tối đa gần gấp 9 lần năm xưa,
đúng bằng con số mà Trần Tinh từng đề nghị, và còn nhiều hơn thế.
Thị trấn Bản Kiều từng bị nước lũ săn phẳng,
ngày nay là một khu du lịch yên bình.
Mặt nước xanh gợn sóng, bên bờ có người phơi nắng,
có trẻ nhỏ đùi theo đoàn vịt.
Bài học đau xót nhất mà chuyện này để lại,
không phải là lỗi của riêng một người nào.
Nó là chuyện gì xảy ra khi tốc độ lấn át chất lượng,
khi may mắn thay thế bảo trì,
khi một lời cảnh báo bị coi là thái độ không hợp thời,
khi một câu nghìn năm không sập được in lên xi măng,
dán lên biển sắt và viết vào công văn,
thì đồng hồ đếm ngược thật ra đã âm thầm bắt đầu từ lâu.
Kỹ thuật có thể tạo ra kỳ tích,
nhưng sự chủ quan có thể phá hỏng tất cả.
Hàng trăm nghìn cái tên phần lớn không được khắc lại
trên bất cứ tấm bia công khai nào.
Gió thổi qua mặt hồ, mặt nước yên lặng như chưa từng có gì xảy ra.
Nhưng có những thứ chìm dưới đáy nước sẽ không biến mất
chỉ vì mặt nước yên bình.
Nó chỉ đang chờ, đang chờ một người sẵn lòng vớt nó lên lần nữa.
Chủ đề bình luận ngày hôm nay cũng xin được khép lại tại đây.
Quý vị đừng quên để lại bình luận,
chia sẻ suy nghĩ để mọi người cùng đều biết quý vị nhé.
Một lần nữa, Lê Oanh xin chân trọng cảm ơn
và xin hẹn gặp lại trong chương trình lần sau.
